• EVN học tập kinh nghiệm phát triển năng lượng tái tạo của CHLB Đức

      Tham gia Hội thảo có GS.TS Đỗ Thành Trung và TS. Lennard Wilkening (đến từ Trường Đại học Humburg, CHLB Đức).

      Về phía EVN có Phó Tổng giám đốc EVN Võ Quang Lâm, cùng đại diện các Ban chuyên môn EVN. Hội thảo được kết nối trực tuyến đến 9 tổng công ty thuộc Tập đoàn.

      Theo Phó Tổng giám đốc EVN Võ Quang Lâm, tính tới ngày 30/6/2019, hệ thống điện Việt Nam đã có gần 4.700 MW công suất điện mặt trời. Dự kiến, tới ngày 31/12/2019, còn có thêm khoảng 1.000 MW nguồn điện này đấu nối vào hệ thống điện quốc gia. Như vậy, quy mô nguồn điện mặt trời đã tương đương khoảng 10% tổng công suất lắp đặt toàn hệ thống điện. Việc phát triển nhanh chóng nguồn NLTT trong thời gian rất ngắn đang và sẽ tác động không nhỏ tới công tác quản lý, vận hành hệ thống của EVN.

      “EVN tích cực nghiên cứu, học tập để áp dụng hiệu quả các bài học, kinh nghiệm vận hành và quản lý hệ thống điện của các quốc gia, trong đó, CHLB Đức là quốc gia đi đầu về phát triển năng lượng tái tạo” - ông Võ Quang Lâm cho hay.

      Tại điểm cầu trụ sở EVN

      Tại Hội thảo, GS.TS Đỗ Thành Trung, TS. Lennard Wilkening đã trao đổi về các nội dung trọng tâm như: Con đường của CHLB Đức tiến tới tự do năng lượng; quá trình chuyển đổi năng lượng ở Đức: Thành công và thách thức mới; sự khác biệt trong "bài toán" phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam và Đức.

      Hội thảo cũng dành nhiều thời gian để trao đổi về các vấn đề: Năng lượng 4.0, số hóa các hệ thống năng lượng, thành tố mới của lưới điện tương lai, công nghệ truyền tải điện,…

      Sau Hội thảo này, trong các ngày 17-19/7, GS.TS Đỗ Thành Trung và TS. Lennard Wilkening tiếp tục có những buổi trao đổi, đào tạo chuyên sâu với đội ngũ chuyên gia kỹ thuật của EVN về hệ thống năng lượng tập trung - phi tập trung; công nghệ truyền tải điện HVDC, HVAC.

    • Sôi động ngành công nghiệp điện mặt trời

      Sáng 25/6, Công ty Cổ phần TTP Phú Yên tổ chức lễ khánh thành, chính thức đưa vào vận hành Nhà máy Điện mặt trời Hòa Hội tại xã Hòa Hội, huyện Phú Hòa (Phú Yên). Đây là dự án năng lượng tái tạo lớn nhất trên địa bàn tỉnh Phú Yên với tổng vốn 4.985 tỉ đồng, đồng thời cũng là nhà máy điện mặt trời đầu tiên của tỉnh này.

      Chỉ trước đó 2 ngày, Nhà máy Điện năng lượng mặt trời BCG - CME Long An 1 được xây dựng tại xã Thạnh An, huyện Thanh Hóa (Long An) cũng đã chính thức đi vào hoạt động và hòa mạng lưới điện quốc gia. Đây là một trong những nhà máy năng lượng mặt trời đầu tiên của tỉnh Long An được xây dựng trên diện tích hơn 50 ha, có công suất 40,6 MWp, với 123.000 tấm pin năng lượng mặt trời. Nhà máy có tổng mức đầu tư trên 1.000 tỉ đồng, được đầu tư bởi liên doanh tập đoàn Bamboo Capital (BCG) - Copper Mountain Energy (CME) và Quỹ Vietnam - Oman (VOI).

      Tại Long An, hiện có tới 16 dự án điện mặt trời đã và đang triển khai trên địa bản tỉnh với tổng công suất 1.072 MW. Còn tại tỉnh Ninh Thuận, Sóc Trăng, Tây nguyên, Tây Ninh và nhiều địa phương khác đã ồ ạt phát triển gần trăm nhà máy điện mặt trời thương mại.

      Không chỉ thu hút các doanh nghiệp lớn trong nước, vài năm trở lại đây, Việt Nam đang nổi lên trở thành điểm đến tiềm năng cho các doanh nghiệp nước ngoài muốn đầu tư vào lĩnh vực năng lượng tái tạo. Theo số liệu mới nhất, tính đến nay đã có hàng trăm dự án điện mặt trời được đăng ký đầu tư vào Việt Nam với tổng công suất nguồn lên tới 17.000 MW.

      Các nhà đầu tư Thái Lan gần đây liên tục mua lại cổ phần các dự án điện mặt trời tại Việt Nam. Đơn cử, tháng 4 vừa qua, Ngân hàng Xuất nhập khẩu Thái Lan (EXIM Thailand) đã công bố tăng thêm 65 triệu USD cho hai công ty Eastern Power Group Plc và Communication & System Solution Plc để cấp vốn cho việc xây dựng hai nhà máy điện mặt trời tại Phú Yên với công suất phát điện kết hợp khoảng 100 MW. Hay như trong năm 2018, Tập đoàn năng lượng B.Grimm Power PLC của Thái Lan đã ký thỏa thuận mua 80% cổ phần tại Công ty cổ phần TTP Phú Yên, chủ đầu tư dự án nhà máy điện mặt trời công suất 257 MW tại Phú Yên. Trước đó, nhà đầu tư này cũng hợp tác với một công ty trong nước để xây dựng dự án điện mặt trời lớn nhất Đông Nam Á tại tỉnh Tây Ninh.

      Dự báo, cùng với việc nhà nước đang nghiên cứu mức giá điện mặt trời mang tính kinh doanh, khuyến khích các doanh nghiệp tham gia đầu tư, thị trường công nghiệp điện mặt trời sẽ còn nhộn nhịp hơn nữa trong thời gian sắp tới.

      Cần chính sách đầu tư thích đáng

      Tiết kiệm, chi phí lắp đặt thấp, nhưng để năng lượng tái tạo, mà cụ thể là điện mặt trời có thể "lấp chỗ trống", tiến đến thay thế nhiệt điện trong tương lai là cả bài toán khó.

      Tại cuộc họp cung ứng điện mùa khô và chuẩn bị đóng điện các dự án điện mặt trời do Tập đoàn Điện lực (EVN) tổ chức mới đây, ông Vũ Xuân Khu, lãnh đạo Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia (A0) đã bày tỏ lo ngại về khả năng "sập nguồn" điện mặt trời khi mà trong một ngày, số lần công suất thay đổi trên 50% do yếu tố thời tiết là từ 3 - 5 lần, gây thách thức rất lớn cho hệ thống điện, nhất là trong bối cảnh đang có rất ít nguồn dự phòng.

      Bên cạnh đó, các nguồn điện truyền thống như nhiệt điện, điện khí... có thể chủ động điều chỉnh công suất các nhà máy tùy theo nhu cầu tiêu thụ. Còn với các nhà máy điện mặt trời, công suất lại phụ thuộc vào thời tiết nên không dự đoán, điều khiển được.

      Lãnh đạo A0 nhận định nếu có mạng lưới điện mặt trời đủ rộng, các nơi khác có thể bù cho sự thiếu hụt cục bộ của nơi này thì rủi ro không là quá lớn. Trong trường hợp thời tiết xấu kéo dài cả ngày hoặc nhiều ngày trên một khu vực rộng lớn thì ngành khí tượng hoàn toàn có thể dự báo được. Khi đó có thể phát điện các nguồn dự phòng mà không phải vất vả lo ứng phó.

      Như vậy, bên cạnh cơ chế giá hợp lý, việc xây dựng một quy hoạch chi tiết, bài bản đối với từng địa phương trong việc phát triển năng lượng tái tạo như điện mặt trời là điều vô cùng cần thiết và cấp bách.

      GS.TS Nguyễn Văn Đạt - Nguyên Trưởng khoa Kỹ thuật Xây dựng, Trường ĐH Bách Khoa TP.HCM đánh giá, ở Việt Nam hiện nay, điện mặt trời tuy phát triển ồ ạt nhưng mới chỉ ở mức độ nhất định về công nghệ. Nguồn tài nguyên quý giá này còn rất nhiều điều bí ẩn chưa được khai phá để tận dụng khai thác. Trong đó, có vấn đề diễn biến của điện mặt trời khi chịu tác động từ các hiện tượng tự nhiên khác như những ngày trăng tròn, trăng khuyết; chất lượng tạo năng lượng điện đã thay đổi như thế nào trong quá trình khai thác đó...

      "Để thực sự hình thành diễn biến trạng thái khoa học và công nghệ điện mặt trời, đã đến lúc nhà nước cần đầu tư xây dựng các trung tâm thí nghiệm để làm phong phú hơn nguồn điện mặt trời. Các tập số liệu nghiêm túc này nhằm thiết kế tối ưu cho điện mặt trời. Tiến đến có thể nghiên cứu sâu về pin mặt trời để sử dụng tiện lợi, cơ động cho nhiều lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế, giảm bớt nhu cầu xã hội về nhiên liệu. Tóm lại, cần có sự đầu tư bài bản, nghiêm túc dựa trên các chính sách của nhà nước để xây dựng ngành công nghiệp điện mặt trời, năng lượng tái tạo phát triển" - ông Đạt đề xuất.

    • Đến 30/6/2019: Trên 4.460 MW điện mặt trời đã hòa lưới

      Trong số đó, có 72 nhà máy điện mặt trời thuộc quyền điều khiển của cấp Điều độ Quốc gia (A0) với tổng công suất 4.189 MW; 10 nhà máy điện thuộc quyền điều khiển của các cấp điều độ miền với tổng công suất 275 MW.

      Ông Nguyễn Quốc Trung - Trưởng phòng Điều hành Thị trường điện (A0) cho hay, tính đến giữa tháng 4/2019, toàn hệ thống điện chỉ có 4 nhà máy điện mặt trời với tổng công suất chưa tới 150 MW. Còn thời điểm này, nguồn điện mặt trời đã chiếm tỷ lệ 8,28% công suất đặt của hệ thống điện Việt Nam

      Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia, các điều độ miền và những đơn vị liên quan đã tập trung mọi nguồn lực, ứng trực 24/24h, làm thêm không kể ngày nghỉ, ngày lễ trong 6 tháng qua, để phối hợp hiệu quả với các chủ đầu tư cho các dự án đóng điện kịp tiến độ.

      Dự kiến, từ nay đến cuối năm 2019, A0 sẽ tiếp tục đóng điện đưa vào vận hành thêm 13 nhà máy điện mặt trời, với tổng công suất 630 MW, nâng tổng số nhà máy điện mặt trời trong toàn hệ thống lên 95 nhà máy.

      Nhà máy Điện mặt trời Vĩnh Tân 2 do Tổng công ty Phát điện 3 làm chủ đầu tư đã đi vào vận hành thương mại từ ngày 22/6/2019 - Ảnh: Đinh Liên

      Dù là sự bổ sung quý giá đối với hệ thống trong điều kiện nguồn điện đang khó khăn, nhưng một số lượng lớn các nhà máy điện mặt trời đi vào vận hành trong thời gian ngắn đã và đang gây không ít khó khăn, thách thức cho công tác vận hành hệ thống điện. Nguyên nhân là do tính chất bất định, phụ thuộc vào thời tiết của loại hình nguồn điện này. 

      Bên cạnh đó, việc phát triển nóng và ồ ạt các dự án điện mặt trời tập trung tại một số tỉnh như Ninh Thuận, Bình Thuận, Đắk Lắk đã gây ra hiện tượng quá tải lưới 110 kV, 220 kV tại các khu vực trên. 

      Cũng theo ông Nguyễn Quốc Trung, từ đầu năm 2018, Trung tâm đã phối hợp với một số đơn vị tư vấn nước ngoài đánh giá sự ảnh hưởng của các nguồn năng lượng tái tạo đến công tác vận hành hệ thống. Từ đó đến nay, căn cứ trên tình hình phát triển thực tế nguồn năng lượng tái tạo, Trung tâm tiếp tục theo dõi, nghiên cứu và kiến nghị, đề xuất với Tập đoàn Điện lực Việt Nam những phương án, nguyên tắc vận hành tối ưu, đảm bảo cung cấp điện an toàn liên tục và ổn định.

      Hiện nay, Trung tâm đang triển khai đầu tư một số hệ thống như: Mở rộng hệ thống giám sát ghi sự cố, hệ thống giám sát điện diện rộng, xây dựng hệ thống giám sát chất lượng điện năng để đánh giá ảnh hưởng của các loại hình nguồn điện mới; xây dựng hệ thống dự báo công suất phát các nguồn năng lượng tái tạo để đưa ra phương án huy động tối ưu, đảm bảo khai thác tối đa nguồn năng lượng này. 

    • Đắk Lắk: Bán điện mặt trời trên mái nhà, khách hàng được trả gần 600 triệu đồng

      Hệ thống điện mặt trời trên mái nhà tại chợ trung tâm TP. Buôn Ma Thuột

      Trong đó, một số khách hàng có công suất lắp đặt lớn như: Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng và Kinh doanh chợ Buôn Ma Thuột (438 kWp); Công ty cổ phần Sách - Thiết bị trường học Đắk Lắk (86 kWp)...

      Tùy mức độ sử dụng của khách hàng, lượng điện thừa được phát lên lưới và ngành Điện mua lại với giá theo quy định hiện hành. Hằng tháng, sau khi hai bên xác nhận chỉ số điện năng và sản lượng điện phát dư lên lưới, Điện lực tiến hành chi trả cho khách hàng qua hình thức chuyển khoản. 

      Đến thời điểm này, các khách hàng có phát điện lên lưới đã được ngành Điện trả hơn 592 triệu đồng, tương đương 282.278 kWh.

      Đắk Lắk là một trong những địa phương có tiềm năng dồi dào về điện mặt trời do cường độ bức xạ cao. Công ty Điện lực Đắk Lắk đã tích cực tuyên truyền lợi ích của điện mặt trời trên mái nhà và vận động khách hàng lắp đặt, đặc biệt tại các huyện Ea Súp, Buôn Đôn...

      Hiện tại, Công ty Điện lực Đắk Lắk cũng đã lắp đặt xong hệ thống điện mặt trời trên mái nhà tại trụ sở chính của Công ty và tiếp tục triển khai đến các Điện lực trực thuộc.

    • Nhà máy Điện mặt trời Điện lực miền Trung vượt tiến độ hòa lưới giai đoạn 1

      Dự án Nhà máy Điện mặt trời Điện lực miền Trung có tổng công suất thiết kế 50 MW, đặt tại xã Cam An Bắc, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa. Dự án do Tổng công ty Điện lực miền Trung (EVNCPC) đầu tư khoảng 1.372 tỷ đồng.

      Việc đóng điện thành công giai đoạn 1 (công suất 10 MW) vượt tiến độ đề ra là nỗ lực của EVNCPC; Ban QLDA Điện nông thôn miền Trung – đơn vị được EVNCPC giao quản lý dự án,  liên danh nhà thầu SUMEC – VNECO và các đơn vị liên quan.

      Ông Nguyễn Thành - Phó Tổng giám đốc EVNCPC (người đứng phía sau) theo dõi các thông số kỹ thuật khi phát điện lên lưới

      Hiện nay, EVNCPC và nhà thầu đang tiếp tục khẩn trương hoàn thành các hạng mục còn lại của Dự án.

      Khi đi vào vận hành thương mại, mỗi năm, Nhà máy Điện mặt trời Điện lực miền Trung có thể cung cấp sản lượng điện bình quân từ 87,5 GWh đến 98,1 GWh vào hệ thống điện quốc gia.

      Những tấm pin đầu tiên của Dự án được lắp đặt từ ngày 29/5/2019.

      Nhà máy này gồm 190.000 tấm pin quang điện, hệ thống  Inverter, trạm biến áp nâng 22/110 kV và đường dây 110 kV đấu nối với Trạm biến áp E28 Cam Ranh.

    • Tài trợ đến 70% vốn vay cho doanh nghiệp lắp đặt điện mặt trời áp mái

      Lắp đặt điện mặt trời áp mái  sẽ giúp các doanh nghiệp giảm chi phí tiền điện hàng tháng

      Tài sản đảm bảo để vay vốn chính là hệ thống điện mặt trời trên mái nhà, với mức tài trợ lên đến 10 tỷ đồng.

      Với chính sách khuyến khích phát triển năng lượng tái tạo của Chính phủ, rất nhiều dự án điện mặt trời đã được đầu tư xây dựng. Trong đó, điện mặt trời áp mái có ưu thế nổi trội như: Thi công nhanh, không chiếm dụng đất mà sử dụng diện tích các mái nhà sẵn có, giúp tăng cường chống nóng hiệu quả cho các công trình, giảm ô nhiễm môi trường,...

      Với sản lượng điện dư, nếu không sử dụng hết, khách hàng có thể bán lại cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam. Đặc biệt, những công trình hòa lưới trước ngày 30/6/2019 sẽ được EVN mua với giá ưu đãi trong vòng 20 năm theo quy định của Chính phủ.

      Hiện nay, TP.HCM đang là địa phương đi đầu cả nước trong việc lắp đặt điện mặt trời áp mái, với gần 1.400 khách hàng đã lắp đặt, tổng công suất khoảng 15 MWp.

      Hiện các đơn vị trực thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam cũng đang tiến hành trả tiền điện cho người dân sau thời gian phát điện lên lưới.

    • EVNCPC thanh toán hơn 922 triệu đồng cho khách hàng bán điện mặt trời trên mái nhà

      Ảnh minh họa

      Đây là số tiền thanh toán cho sản lượng điện mà khách hàng sau khi sử dụng còn dư bán cho ngành Điện với giá theo quy định là 9,35 cent/1kWh, khi dự án được phát điện lên lưới trước ngày 30/6/2019. Mức giá này được giữ nguyên trong vòng 20 năm.

      Trong đó, các địa phương đứng đầu về số dự án, công suất lắp đặt và tỷ lệ chủ đầu tư đã được thanh toán cao gồm: TP Đà Nẵng gần 291 triệu đồng (105 khách hàng đã thanh toán/118 khách hàng đã ký hợp đồng mua bán điện), Đắk Lắk gần 567 triệu đồng (19 khách hàng đã thanh toán/36 khách hàng đã ký kết hợp đồng mua bán điện), Khánh Hòa gần 40 triệu đồng (2 khách hàng đã thanh toán/ 87 khách hàng đã ký kết hợp đồng mua bán điện).

      Trong hơn 1 tuần qua, các công ty Điện lực thuộc EVNCPC đã tiến hành ký kết hợp đồng mua bán điện mặt trời áp mái với 407/518 chủ đầu tư.

      Tổng công suất của 518 hệ thống điện mặt trời trên mái nhà tại miền Trung – Tây Nguyên là 3.864 kWp.

      EVNCPC sẽ tiếp tục đẩy mạnh ký kết hợp đồng mua bán điện với các dự án còn lại và tiến hành thanh toán tiền điện cho các chủ đầu tư theo đúng cam kết.

    • Nhà máy Điện mặt trời nổi hồ Đa Mi hòa lưới thành công

      Các tấm pin mặt trời được lắp đặt trên hồ thủy điện Đa Mi

      Trong giai đoạn 1, Nhà máy vận hành với công suất 20,5 MWp.

      Dự án Nhà máy Điện mặt trời nổi hồ Đa Mi do DHD đầu tư gần 1.500 tỷ đồng với quy mô tổng công suất thiết kế 47,5 MWp, sản lượng điện khoảng 70 triệu kWh/năm.

      Dự án lắp đặt 143.940 tấm pin năng lượng mặt trời trên diện tích 50 ha mặt hồ thuỷ điện Đa Mi, thuộc địa bàn xã La Ngâu (huyện Tánh Linh) và các xã Đa Mi, La Dạ (huyện Hàm Thuận Bắc) của tỉnh Bình Thuận. 

      Khác với các dự án điện mặt trời lắp mái hoặc trên mặt đất, dự án trên hồ thường có hiệu suất cao hơn do chênh lệch giữa bức xạ mặt trời và mặt nước khá lớn. 

      Dự án hòa lưới thành công sớm hơn 48 ngày (dự kiến 30/6/2019) kịp thời bổ sung nguồn năng lượng sạch cho tỉnh Bình Thuận nói riêng và các tỉnh khu vực miền Nam nói chung. 

      Công ty Cổ phần Thủy điện Đa Nhim - Hàm Thuận - Đa Mi thuộc Tổng công ty Phát điện 1 (Tập đoàn Điện lực Việt Nam) hiện đang quản lý, vận hành 4 nhà máy thủy điện gồm: Đa Nhim, Hàm Thuận, Đa Mi, Sông Pha với tổng công suất 642,5 MW, điện lượng bình quân trên 2,5 tỷ kWh/năm. Đây là đơn vị có nhiều kinh nghiệm trong công tác quản lý, vận hành, sửa chữa, đầu tư xây dựng các dự án nguồn điện.

    • Trả lời hàng trăm câu hỏi về điện mặt trời áp mái

      Buổi tọa đàm - giao lưu trực tuyến do Báo Tuổi Trẻ phối hợp với Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC), Tổng công ty Điện lực TP.HCM (EVNHCMC), Công ty cổ phần đầu tư Điện Xanh và Công ty cổ phần Năng lượng điện mặt trời Việt Nam (SPUC) tổ chức.

      Diễn ra từ 9h-11h30, hàng trăm độc giả gửi câu hỏi đến để được tham vấn về thủ tục, chi phí lắp đặt điện mặt trời, thủ tục mua bán lại điện cho ngành Điện,...

      Các câu hỏi đã được các chuyên gia giải đáp cụ thể. Đồng thời, các chuyên gia cũng tư vấn những giải pháp kỹ thuật, giải pháp hỗ trợ tài chính cho khách hàng khi đầu tư lắp đặt điện mặt trời áp mái trên mái nhà hộ gia đình, trung tâm thương mại, cao ốc...

      Theo quy định tại Thông tư số 05/2019/TT-BCT ngày 11/3/2019 của Bộ Công Thương, ngành Điện mua lại điện mặt trời từ người dân với giá trong năm 2019 là 2.134 đồng/kWh.

      Đối với các dự án điện mặt trời trên mái nhà, ngành Điện sẽ kiểm tra hòa lưới, lắp điện kế 2 chiều (miễn phí) và ký hợp đồng mua bán điện mặt trời để thanh toán phần điện dư phát ngược lên lưới cho khách hàng. 

      Độc giả có thể tham khảo nội dung tọa đàm trong link sau: https://tuoitre.vn/lap-dien-mat-troi-se-duoc-tra-tien-dien-ra-sao-20190509112512974.htm 

    • Kinh nghiệm của Nhật Bản về phát triển điện mặt trời áp mái

      Câu chuyện về cơ cấu lại nguồn năng lượng của Nhật Bản đầu thế kỷ 21 gắn liền với sự cố tháng 3/2011, Nhà máy Điện hạt nhân Fukushima Daiichi gặp thảm họa kép về động đất và sóng thần. Sau sự cố này, Chính phủ Nhật Bản đã quyết định thay đổi cơ cấu nguồn điện: Dừng vận hành một số nhà máy điện hạt nhân, tạm thời không phát triển điện hạt nhân mới, tập trung phát triển nhiệt điện và năng lượng tái tạo.

      Đến nay, những tấm pin mặt trời áp mái ở Nhật Bản ngày càng phổ biến. Thậm chí, đã có ngày càng nhiều khu vực dân cư tự chủ về nguồn năng lượng nhờ tận dụng rất tốt nguồn năng lượng mặt trời. 

      Có chính sách hấp dẫn, thu hút được đầu tư

      Ngay từ năm 2008, Chính phủ Nhật Bản đã thực hiện chính sách hỗ trợ cho vay mua nhà sử dụng năng lượng tái tạo với thời gian trả nợ tối đa là 10 năm, trong đó, cho những gia đình cải tạo nhà, chuyển sang sử dụng năng lượng mặt trời được vay số tiền tối đa lên đến 5 triệu Yen, tương đương gần 5.000 USD. Ngoài ra, Chính phủ Nhật Bản còn mua điện sản xuất từ năng lượng mặt trời với giá cao hơn giá thị trường và giảm giá bán các tấm pin năng lượng mặt trời.

      Tháng 8/2011, Nhật Bản đã ban hành Luật Trợ giá (FiT) mua năng lượng tái tạo, khuyến kích người dân tự sản xuất điện mặt trời tại nhà và từ đó xây dựng các trung tâm điện mặt trời lớn, tập trung. Luật FiT cho phép hỗ trợ giá điện sản xuất từ năng lượng mặt trời khi các doanh nghiệp tư nhân muốn đầu tư .
      Cụ thể, Chính phủ mua điện sản xuất từ năng lượng mặt trời với giá cao hơn giá thị trường, khoảng 40 Yen/kWp (0.50 USD/kWh) cho các dự án có công suất 10 kW trở lên. Đối với các dự án công suất <10 kW, giá mua là khoảng 42 yen/kWp (0.53 USD/kWh).

      Thị trấn xanh Fujisawa, nơi có số dân sử dụng điện mặt trời áp mái cao nhất Nhật Bản 

      Chỉ riêng năm 2016, Chính phủ Nhật Bản dành khoảng 2,3 nghìn tỉ Yen (tương đương 20,5 tỉ USD) hỗ trợ việc mua lại điện mặt trời với giá cao.

      Nhật Bản cũng khuyến khích chính quyền các địa phương cùng tham gia các dự án điện mặt trời. Theo báo cáo của Tổ chức phi lợi nhuận “Mạng lưới chủ sở hữu điện mặt trời ở Nhật Bản”, tính đến tháng 7/2013 đã có 277 cơ quan hành chính các cấp ở Nhật Bản (chiếm 15% số lượng cơ quan hành chính của quốc gia này) thực hiện hoặc đồng ý “cho thuê mái nhà” các công trình công cộng, lắp đặt hệ thống pin mặt trời.

      Tháng 4/2017, Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản (METI) giới thiệu đạo luật FiT mới (sửa đổi), trong đó, giảm thuế từ 21 đến 30 Yên/kWp điện tái tạo, tùy thuộc vào quy mô hệ thống. Điều này đã khuyến khích đầu tư từ DN tư nhân vào lĩnh vực năng lượng tái tạo. 

      Những kết quả khả quan

      Chính sách hấp dẫn của Chính phủ Nhật Bản đã thu hút một số lượng lớn các dự án đầu tư vào năng lượng tái tạo, trong đó phổ biến nhất là năng lượng mặt trời. Từ năm 2011 đến năm 2014, công suất lắp đặt điện mặt trời tại Nhật Bản tăng mạnh từ 5.000 MW lên 25.000 MW. Đến nay, đã có khoảng 2,4 triệu khách hàng (bao gồm hộ gia đình, doanh nghiệp…) lắp đặt điện mặt trời áp mái ở Nhật Bản. 

      Trong số các dự án điện mặt trời, 80% là quy mô nhỏ, chủ yếu là công trình lắp đặt trên mái nhà. Hệ thống điện mặt trời áp mái có nhiều ưu điểm như, giảm được tiền thuê đất, không cần thiết phải kí hợp đồng tiêu thụ điện với các công ty điện lực địa phương… Những khách hàng lắp đặt điện mặt trời áp mái khi không sử dụng hết số lượng điện sản xuất ra, có thể bán cho các công ty điện với mức giá ưu đãi. 

      Còn các dự án điện mặt trời ở Nhật Bản có quy mô lớn chỉ chiếm 20% vì gặp nhiều khó khăn về giải phóng mặt bằng, chuyển đổi đất nông nghiệp, khó khăn trong việc hòa lưới điện mặt trời vào lưới điện quốc gia...

      Tháng 7/2018, Nhật Bản thông qua kế hoạch chiến lược phát triển năng lượng lần thứ 5 tầm nhìn 2030 và đến 2050. Theo đó, Nhật Bản đã định hướng phát triển năng lượng dựa trên nguyên lí 3 E+S, (Viết tắt của Safety - an toàn, Energy Sercurity - an ninh năng lượng, Enviroment - môi trường, Economic Effeciency - hiệu quả kinh tế). Nguyên lý này cho thấy, Nhật Bản đang hướng đến xác lập cơ cấu cung cầu năng lượng bền vững, giảm gánh nặng kinh tế và thân thiện với môi trường. 

      Theo kế hoạch, Nhật Bản tiếp tục duy trì mục tiêu sử dụng đa dạng các nguồn năng lượng. Cụ thể, đến năm 2030, trong cơ cấu nguồn điện, năng lượng tái tạo chiếm từ 22-24%, nhiên liệu hóa thạch 56% và năng lượng hạt nhân từ 20-22%.

      Để thực hiện được mục tiêu đề ra, việc tiếp tục đẩy mạnh phát triển điện mặt trời, trong đó có các công trình điện mặt trời áp mái là không thể thiếu trong Chiến lược phát triển năng lượng của chính phủ Nhật Bản. 

    • Việt Nam cần phát triển hợp lý các nguồn năng lượng

      Ông Hoàng Quốc Vượng

      PV: Xin ông cho biết những kết quả chính về phát triển năng lượng tái tạo (NLTT) của Việt Nam thời gian qua?

      Thứ trưởng Hoàng Quốc Vượng: Phát triển năng lượng tái tạo là định hướng lớn của Việt Nam. Thời gian qua, Chính phủ đã ban hành nhiều cơ chế khuyến khích phát triển năng lượng tái tạo, cụ thể là phát triển điện mặt trời, điện gió, điện sinh khối và thủy triều... Nhờ vậy, đã có nhiều nhà đầu tư trong, ngoài nước quan tâm, đầu tư các dự án điện gió, điện mặt trời tại Việt Nam.

      Đến nay, nếu tính cả công suất của các nhà máy thủy điện thì năng lượng tái tạo đã chiếm khoảng 40% trong tổng công suất hệ thống điện Việt Nam. Tuy nhiên, nếu không tính các nhà máy thủy điện, năng lượng tái tạo nước ta vẫn chiếm tỷ trọng thấp, không đáng kể trong hệ thống điện quốc gia.

      Dự kiến, đến cuối năm nay, Việt Nam sẽ có khoảng 1.000 MW công suất các nhà máy điện mặt trời và khoảng hơn 1.000 MW điện gió được đưa vào khai thác. Tôi cho rằng, đó là những kết quả đáng khích lệ trong phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo ở Việt Nam. 

      PV: Việt Nam là một quốc gia biển, với hơn 3.600 km đường bờ biển. Chính phủ Việt Nam dự kiến phát triển điện thủy triều, điện sóng biển như thế nào, thưa ông?

      Thứ trưởng Hoàng Quốc Vượng: Năng lượng sóng biển là một dạng năng lượng có tiềm năng lớn. Tuy nhiên, trên thực tế, sử dụng năng lượng thủy triều, sóng biển trên thế giới còn rất hạn chế.

      Tại Việt Nam, thời gian qua, Bộ Công Thương mới chỉ nhận được một số đề xuất của các nhà đầu tư trong nước và quốc tế “chào hàng” công nghệ, thiết bị, chứ chưa có nhà đầu tư nào đăng ký dự án thực tế khai thác năng lượng sóng, năng lượng thủy triều phục vụ cho phát điện. 

      Nhưng chúng tôi cho rằng, với sự tiến bộ của KHCN, thời gian tới, đây cũng là một dạng năng lượng có tiềm năng rất lớn mà chúng ta cần phải quan tâm, nghiên cứu và khai thác.

      PV: Nhật Bản là nước đi đầu trong phát triển năng lượng tái tạo và đã có những dự án hỗ trợ Việt Nam. Xin ông cho biết, Nhật Bản đã hỗ trợ cụ thể như thế nào?

      Thứ trưởng Hoàng Quốc Vượng: Bộ Kinh tế - Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản (METI) và Tổ chức Ngoại thương Nhật Bản (JETRO) đã hỗ trợ Bộ Công Thương tập trung phát triển công nghệ năng lượng sạch một cách bền vững, có hiệu quả, hạn chế tối đa những mặt tiêu cực;…

      Không chỉ hợp tác với Nhật Bản, Bộ Công Thương còn phối hợp với Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Nhật Bản, Liên minh Châu Âu (EU) và nhiều nước khác trong phát triển năng lượng tái tạo, thúc đẩy tăng trưởng xanh. 

      PV: Thời gian tới, Việt Nam sẽ tập trung phát triển các nguồn năng lượng nào và năng lượng tái tạo có là nguồn năng lượng chủ đạo hay không, thưa ông? 

      Thứ trưởng Hoàng Quốc Vượng: Việt Nam là đất nước đang phát triển, nhu cầu sử dụng năng lượng hàng năm có mức tăng trưởng rất cao. Nhu cầu sử dụng điện hàng năm của Việt Nam đều tăng trên 10%. Vì vậy, Việt Nam cần phải phát triển hợp lý các nguồn năng lượng như thủy điện, nhiệt điện than, nhiệt điện dầu, điện khí và các dạng năng lượng tái tạo...

      Chủ trương của Chính phủ là phải đẩy nhanh khai thác có hiệu quả các nguồn năng lượng sơ cấp mà chúng ta có, nhất là các nguồn năng lượng tái tạo mà ở đây là năng lượng gió, năng lượng mặt trời. Tuy nhiên, chúng ta vẫn phải phát triển ở mức độ hợp lý các loại năng lượng truyền thống, làm sao đảm bảo được an ninh năng lượng quốc gia, phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

      PV: Xin cảm ơn ông! 

    • Dồn sức cho các dự án điện mặt trời nối lưới được hưởng giá mua ưu đãi

      Dự kiến, gần 100 nhà máy điện mặt trời vào vận hành trong 6 tháng đầu năm 2019 (Ảnh minh họa).

      Theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) có trách nhiệm mua toàn bộ lượng điện sản xuất từ các dự án điện mặt trời hòa lưới điện có ngày vận hành trước 30/6/2019 trong vòng 20 năm với giá mua ưu đãi.

      Vì vậy, các chủ đầu tư nhà máy điện mặt trời đang "tăng tốc" để có thể phát điện kịp tiến độ này.

      "Chạy đua" cùng thời gian

      Ông Nguyễn Quốc Trung - Trưởng phòng Điều hành thị trường điện, Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia cho biết, trong 4 tháng đầu năm, đã có 18 nhà máy điện mặt trời với tổng công suất là 850 MW vào vận hành. Dự kiến, từ nay đến ngày 30/6/2019 sẽ có thêm 75 nhà máy điện mặt trời với tổng công suất khoảng 4.000 MW kết nối vào hệ thống.

      Thời gian rất gấp trong khi khối lượng công việc còn lại rất lớn để những nhà máy này kịp vào vận hành. Hơn nữa, tháng 5, 6 là cao điểm mùa nắng nóng, vốn là thời kỳ vận hành khó khăn, căng thẳng nhất của hệ thống điện. "CBNV của A0 đang phải đối mặt với áp lực công việc rất lớn” - ông Trung cho hay.

      A0 đã và đang chủ động các giải pháp, phối hợp chặt chẽ và hỗ trợ tối đa cho các chủ đầu tư nhà máy điện mặt trời trong giai đoạn "nước rút" này. Điển hình, theo các thông tư hiện hành, tổng thời gian để xử lý mọi công việc từ lúc nhận hồ sơ đề nghị đóng điện điểm đấu nối của chủ đầu tư cho đến khi đóng điện lần đầu là 90 ngày, nhưng A0 đã chủ động rút ngắn chỉ còn 15 ngày (nhanh gấp 6 lần). 

      Trung tâm cũng đã vận hành Cổng dịch vụ trực tuyến để các chủ đầu tư gửi hồ sơ đăng ký đóng điện lần đầu công trình mới. Ứng dụng công nghệ thông tin tối đa để giải quyết nhanh chóng, kịp thời và không để xảy ra lỗi chủ quan dẫn tới chậm tiến độ.

      Ông Nguyễn Quốc Trung chia sẻ thêm, A0 bố trí người trực 24/24h, kể cả trong các ngày nghỉ lễ vừa qua như 10/3 âm lịch, 30/4-1/5, hay các ngày thứ 7, chủ nhật hằng tuần. Ngoài ra, A0 cũng thiết lập nhiều kênh thông tin hỗ trợ các chủ đầu tư, khách hàng, đơn vị thi công qua viber, zalo, tạo ra những nhóm công tác làm việc online.

      Tháo gỡ khó khăn trong vận hành

      Gần 100 nhà máy điện mặt trời vào vận hành với tổng công suất gần 5.000 MW là sự bổ sung nguồn điện cần thiết cho hệ thống, trong bối cảnh cân đối cung - cầu đang căng thẳng. Tuy nhiên, các dự án nhà máy điện mặt trời phát triển "nóng", đa số tập trung tại Bình Thuận, Ninh Thuận, Đăk Lăk, dẫn tới quá tải lưới điện ở các khu vực này.

      Ngoài ra, do tính chất đặc thù của nguồn điện này là không ổn định, phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết nên công tác vận hành hệ thống điện cũng chịu không ít thách thức. 

      Công tác vận hành hệ thống điện sẽ gặp nhiều khó khăn do nguồn điện mặt trời có tính chất phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết và không ổn định.

      Từ đầu năm 2018, A0 đã phối hợp với Tư vấn EGI (Vương Quốc Bỉ) triển khai dự án đánh giá ảnh hưởng của các nguồn năng lượng tái tạo (NLTT) đến công tác vận hành hệ thống điện. Từ đó đến nay, căn cứ trên tình hình phát triển thực tế, A0 tiếp tục theo dõi, nghiên cứu và đề xuất với EVN các phương án vận hành tối ưu, đảm bảo cung cấp điện an toàn liên tục và ổn định.

      A0 cũng đang xây dựng hệ thống giám sát vận hành các nhà máy điện NLTT và sẽ đưa vào vận hành trong tháng 6/2019; chủ động nghiên cứu, đề xuất giải pháp và nguyên tắc điều chỉnh nguồn điện, phối hợp ngừng/giảm công suất nguồn truyền thống và nguồn NLTT khi xảy ra các hiện tượng đầy tải, quá tải trên lưới. Cùng với đó, A0 sẽ tiếp tục tăng cường đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong vận hành nguồn NLTT.

    • Gần 100 nhà máy điện mặt trời chạy đua với COD

      Theo Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia (A0), chỉ còn gần 3 tháng nữa là đến thời gian quy định, trong khi số lượng các nhà máy điện mặt trời dự kiến đưa vào vận hành là rất lớn (miền Bắc 6 dự án, miền Nam 54 dự án, miền Trung 28 dự án). Việc dồn dập thử nghiệm và cấp chứng nhận COD chỉ trong khoảng thời gian ngắn là thách thức không nhỏ với các đơn vị quản lý vận hành hệ thống điện. Ngoài ra, việc vận hành các nhà máy điện mặt trời cũng sẽ gặp không ít khó khăn do nguồn năng lượng này không ổn định về công suất phát. 

      Cụ thể, công suất nguồn năng lượng mặt trời thay đổi tức thời theo điều kiện thời tiết; các nhà máy trong cùng khu vực cùng có chung xu hướng biến động, dẫn đến sự thay đổi đồng thời lượng công suất lớn - tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định hệ thống điện. Việc vận hành các nguồn năng lượng tái tạo cũng phải đảm bảo không gây quá tải các đường dây, TBA, nhất là tại khu vực Ninh Thuận, Bình Thuận...

      Tuy còn nhiều khó khăn, nhưng EVN và các đơn vị trực thuộc đang tích cực phối hợp hỗ trợ các chủ đầu tư. A0 đã chủ động gửi công văn và hướng dẫn các chủ đầu tư, sớm cung cấp tài liệu, chuẩn bị đóng điện vận hành. 

      Đặc biệt, cuối tháng 3/2019, EVN đã tổ chức Hội nghị chuẩn bị vận hành các Nhà máy điện mặt trời, với mục đích trao đổi, lấy ý kiến các chủ đầu tư về dự thảo quy trình, thủ tục chạy thử, nghiệm thu và xác nhận ngày vận hành thương mại (COD) từng phần/cả nhà máy; đồng thời công khai minh bạch thông tin về hiện trạng vận hành lưới điện khu vực miền Trung, miền Nam, giúp các nhà đầu tư nắm rõ, phối hợp với ngành Điện đề xuất, kiến nghị với các cấp có thẩm quyền giải quyết dứt điểm các vướng mắc, khó khăn.

      Cũng tại Hội nghị này, EVN đã chủ động kiến nghị giải pháp hỗ trợ chủ đầu tư tháo gỡ các khó khăn về quy trình, thủ tục đưa các nhà máy điện mặt trời đi vào vận hành trước ngày 30/6/2019. Do khối lượng công việc rất lớn, nên EVN đề nghị các chủ đầu tư cần sớm cung cấp tài liệu kỹ thuật và đầu mối liên lạc cho các cấp điều độ theo quy định để phối hợp chuẩn bị đóng điện công trình; định kỳ ngày 15 hàng tháng cập nhật tiến độ gửi cấp điều độ có trách nhiệm điều khiển; kết nối và thử nghiệm chức năng điều khiển xa AGC với A0... 

      Ông Trần Đình Nhân - Tổng Giám đốc EVN khẳng định, các đơn vị thuộc EVN cũng sẽ phối hợp, hỗ trợ, tạo điều kiện tối đa cho các nhà máy điện mặt trời đi vào vận hành thương mại trước ngày 30/6/2019, để được hưởng mức giá ưu đãi theo quy định. 

    • Điện mặt trời "chạy đua" hưởng ưu đãi

      Đại diện Công ty CP Thủy điện Miền Trung cho biết, đơn vị phải tranh thủ hoàn thành trước thời điểm 30/6/2019 để hưởng cơ chế giá 9,35 US cent/kWh theo Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg do Thủ tướng ban hành hồi tháng 4/2017. Có thời điểm, Công ty phải huy động thêm lao động phổ thông tại địa phương vào làm việc, số lao động tại công trường lên đến trên 800 người.

      Nhờ đó ngày 20/4, Nhà máy Điện mặt trời Cư Jút (huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông), trực thuộc Công ty CP Thủy điện Miền Trung chính thức phát điện thương mại. Thời gian vận hành thương mại sớm hơn 2 tháng so với dự kiến. Dự án được triển khai từ tháng 6/2017, có tổng vốn đầu tư 1.367 tỉ đồng với công suất 50 MW, lượng điện bình quân gần 95 triệu kWh/năm, doanh thu ước đạt 200 tỉ đồng/năm.

      Trước đó, vào đầu tháng 3, tại huyện Buôn Đôn (Đắk Lắk), cụm công trình Nhà máy điện mặt trời Srê-pốc 1 và Quang Minh là dự án đầu tiên ở Tây nguyên được đưa vào hòa mạng lưới điện quốc gia. Dự án có công suất 100 MW, được xây dựng trên diện tích đất 120 ha với tổng mức đầu tư gần 2.300 tỉ đồng.

      Theo dự thảo mới, sau thời điểm 30/6/2019, giá điện mặt trời có thể chỉ còn 6,67 US cent/KWh (đối với mô hình dự án điện mặt trời trên mặt đất). Chính vì vậy, nhiều dự án đang chạy đua với thời gian để được đóng điện trước thời điểm trên. Trong số này có thể kể đến như dự án Tổ hợp điện mặt trời và điện gió của Tập đoàn Trung Nam tại huyện Thuận Bắc (Ninh Thuận) dự kiến khánh thành và đưa vào vận hành chính thức từ ngày 27/4/2019. Tập đoàn này cũng dự kiến khánh thành thêm một dự án khác tại Trà Vinh vào cuối tháng 6 tới dù mới được khởi công vào đầu năm nay.

      "Hiện chúng tôi đang đẩy nhanh tiến tộ để kịp hoàn thành trước 30/6 vì nếu không sẽ không được hưởng cơ chế giá ưu đãi, đồng nghĩa mất khoảng hơn 30% doanh thu nếu tính theo dự thảo giá mới" - đại diện của Tập đoàn Trung Nam giải thích.

      Cùng chạy đua với thời gian còn phải kể đến dự án điện mặt trời tại hồ thủy điện Dầu Tiếng (Tây Ninh) mà theo chủ đầu tư, đây là dự án điện mặt trời lớn nhất châu Á. Dự án được xây dựng trên phần bán ngập nước hồ Dầu Tiếng, công suất 420 MW, sản lượng điện dự kiến lên đến 1,56 tỉ kWh/năm.

    • EVNCPC: Hội thảo Phát triển điện mặt trời trên mái nhà – Tạo sự gắn kết giữa các bên

      Tham gia Hội thảo có đại diện Sở Công Thương, Đại học Bách Khoa Đà Nẵng - đơn vị tư vấn cho Sở Công Thương thực hiện đánh giá hiệu quả dự án ĐMTMN, 10 công ty cung cấp giải pháp điện mặt trời, 3 tổ chức tài chính, cung cấp giải pháp hỗ trợ đầu tư ĐMTMN, 60 khách hàng sử dụng điện có quan tâm, có tiềm năng lắp đặt ĐMTMN.

      Cùng dự có lãnh đạo ban chuyên môn của EVN, EVNCPC và các đơn vị thành viên trên địa bàn 13 tỉnh, TP miền Trung - Tây Nguyên.  

      Lãnh đạo Ban Kinh doanh EVN, lãnh đạo EVNCPC cùng dự Hội thảo

      Tự cung cấp điện bằng giải pháp đầu tư ĐMTMN gắn với công trình xây dựng hiện đang là xu hướng của các nước trên thế giới. Bởi đây là nguồn năng lượng tái tạo, thân thiện với môi trường, không bị cạn kiệt như nguồn năng lượng hóa thạch.

      Địa bàn miền Trung – Tây Nguyên có bức xạ mặt trời và số giờ nắng trung bình khá cao, có tiềm năng rất lớn để phát triển ĐMTMN. Khách hàng lắp đặt ĐMTMN có nhiều lợi ích như: Tiết kiệm chi phí tiền điện nhờ giảm mua điện lưới quốc gia; có thể bán phần điện không sử dụng hết cho ngành Điện với giá cao; có thời gian hưởng lợi lâu dài sau thời gian thu hồi vốn; chống nóng hiệu quả cho nhà ở, công trình xây dựng; nâng cao thương hiệu, hình ảnh của doanh nghiệp khi sử dụng năng lượng sạch, có thể được cấp chứng chỉ năng lượng tái tạo giúp tăng lợi thế cạnh tranh.

      Với mong muốn đồng hành trong việc đầu tư điện mặt trời của khách hàng, EVNCPC tổ chức Hội thảo Phát triển điện mặt trời trên mái nhà tạo diễn đàn kết nối các khách hàng tiềm năng trên địa bàn miền Trung - Tây Nguyên với các nhà cung cấp hệ thống điện mặt trời, tổ chức tài chính và ngành Điện. Qua đó cung cấp cho khách hàng đầy đủ thông tin về chính sách, cơ chế của nhà nước, giải đáp các ý kiến thắc mắc, từ đó khách hàng có đủ cơ sở đề quyết định đầu tư ĐMTMN.

      Hội thảo đề cập đến các nội dung: Tình hình triển khai và các giải pháp khuyến khích lắp đặt điện mặt trời trên mái nhà ở khu vực miền Trung -Tây Nguyên; Tiềm năng điện mặt trời mái nhà tại khu vực miền Trung - Tây Nguyên và hướng dẫn đấu nối, kiểm tra thử nghiệm; Hiệu quả kinh tế dự án ĐMTMN - dự án thực tế đã triển khai; Quy trình thực hiện dự án ĐMTMN và kết quả phát triển ĐMTMN tại tỉnh Đăk Lăk; Điện mặt trời trên mái nhà - Giải pháp năng lượng bền vững và hiệu quả; Giải pháp tài chính đối với ĐMTMN tại Việt Nam; Điện mặt trời hòa lưới không accu; Giải pháp điện mặt trời áp mái - Bảo hiểm sản lượng và hỗ trợ tài chính; Nhà thầu EPC, lắp đặt, vận hành và bảo dưỡng các hệ thống/dự án Điện mặt trời chất lượng cao trên mái nhà và trang trại (Rooftop & Solar Farm).

      Bà Lê Thị Phương Cẩm - Trưởng Ban Kinh doanh EVNCPC trình bày tham luận "Tình hình triển khai và các giải pháp khuyến khích lắp đặt điện mặt trời trên mái nhà ở khu vực miền Trung-Tây Nguyên"

      Bên cạnh đó tại Hội thảo còn giới thiệu các văn bản của pháp luật về phát triển điện mặt trời của Chính phủ, Bộ Công thương và ngành Điện: Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg ngày 11/04/2017 về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam và số 02/2019/QĐTTg ngày 08/01/2019 sửa đổi bổ sung một số điều của QĐ 11/2017/QĐ-TTg; các thông tư số 16/2017/TT-BCT ngày 12/09/2017 quy định phát triển dự án và hợp đồng mua bán điện mẫu áp dụng cho các dự án ĐMT, số 05/2019/TT-BCT ngày 11/03/2019 sửa đổi, bổ sung một số điều của thông tư 16/2017;

      Hội thảo cũng giới thiệu các văn bản của Tập đoàn Điện lực Việt Nam ban hành như văn bản số 1530/EVN-TCKT ngày 27/03/2019 về việc hạch toán doanh thu, chi phí hệ thống điện áp mái tại văn phòng Tổng công ty và các đơn vị trực thuộc, số 1532/EVN-KD ngày 27/03/2019 và số 1586/EVN-KD ngày 28/03/2019 hướng dẫn thực hiện các dự án ĐMTMN.

      Thời gian tới, EVNCPC tiếp tục quảng bá, hỗ trợ khách hàng trong việc tư vấn, khảo sát, nghiệm thu, đấu nối các dự án ĐMTMN vào lưới điện EVNCPC; ký kết chính thức hợp đồng mua bán điện với các dự án ĐMTMN, thanh toán tiền mua điện phát ra lưới cho chủ đầu tư ngay khi Thông tư 05/2019/TT-BCT có hiệu lực; đề xuất EVN tìm kiếm nguồn tài trợ để hỗ trợ một phần kinh phí cho khách hàng lắp đặt ĐMTMN; phát triển các mô hình ESCO, kêu gọi bên thứ 3 đầu tư ĐMTMN.

      Tại Hội thảo, ông Phạm Sỹ Hùng – Phó Tổng giám đốc EVNCPC đã giải đáp các thắc mắc của nhà đầu tư, trong đó khuyến khích công trình điện mặt trời lắp trên mái nhà, mái nhà của trang trại có sẵn (công suất nhỏ hơn 1 MWp) nhận được ưu đãi theo quy định là được ngành Điện mua điện với giá cao (giá 9,35 cent/1 kWh) khi dự án được phát điện trước 30/6/2019 và giá này được kéo dài đến 20 năm.

      Kết luận tại Hội thảo, ông Phạm Sỹ Hùng – Phó Tổng giám đốc EVNCPC nhấn mạnh mục đích của Hội thảo hôm nay là tạo ra môi trường để nhà đầu tư, nhà cung cấp giải pháp, nhà tài chính và EVNCPC gặp nhau để thảo luận về những chính sách mà các Bộ, ngành triển khai; sự quan tâm của nhà đầu tư đối với ĐMTMN.

      Năm 2019, EVN giao cho EVNCPC vận động, hỗ trợ, khuyến khích các nhà đầu tư thực hiện ĐMTMN với công suất 48 MWp trên phạm vi 13 tỉnh, thành phố miền Trung – Tây Nguyên và 9,4 MWp trên mái nhà các văn phòng, các điện lực, trạm biến áp của Tổng công ty.

      Ông Phạm Sỹ Hùng - Phó Tổng giám đốc EVNCPC kết luận tại Hội thảo

      Các tài liệu liên quan về quy định của nhà nước, của EVN, các giải pháp kỹ thuật và tài chính đã trình bày tại Hội thảo sẽ được EVNCPC đăng tải trên trang tin điện tử của Tổng công ty, để các nhà đầu tư/người dân quan tâm có thể tìm đọc, tham khảo thông tin" - ông Phạm Sỹ Hùng cho biết. 

      "Đối với nhà đầu tư, nhà cung cấp giải pháp, tài chính cho ĐMTMN cần phối hợp với Tổng công ty qua đầu mối là Trung tâm CSKH Điện lực miền Trung, qua đó tạo ra sự gắn kết để nhà đầu tư có nhu cầu đầu tư thì EVNCPC cung cấp ngay các thông tin kết nối giữa các bên”.

      Hiện nay, còn một số dự án ĐMTMN sắp đưa vào vận hành, việc lắp đặt công tơ 2 chiều miễn phí sẽ được EVNCPC thực hiện để đưa công trình nhanh chóng vào vận hành.

      Phó Tổng giám đốc EVNCPC bày tỏ: “Chúng tôi có 10 phần thưởng cho 10 nhà đầu tư tốt, hiệu quả tiêu biểu trong năm nay để tri ân nhà đầu tư điện áp mái đã góp phần đầu tư tạo ra nguồn điện từ năng lượng sạch tại miền Trung – Tây Nguyên. Phát triển điện mặt trời nói chung, điện mặt trời áp mái là quá trình lâu dài. Hội thảo đã tiên phong trong việc quảng bá điện mặt trời áp mái, kêu gọi đầu tư tại miền Trung – Tây Nguyên để cùng góp sức cung cấp thêm nguồn năng lượng sạch, năng lượng tái tạo tại Việt Nam, qua đó góp phần giảm bớt áp lực về nguồn điện đang thiếu hụt hiện nay. Những kiến nghị, ý kiến hôm nay tại Hội thảo, chúng tôi đều đã ghi nhận và sẽ có thông tin kịp thời đến nhà đầu tư”. 

      Thời gian qua, thực hiện chủ trương của Chính phủ, EVNCPC đã hỗ trợ khách hàng lắp đặt ĐMTMN bằng việc sẵn sàng để ký kết hợp đồng, lắp đặt công tơ hai chiều miễn phí, thanh toán tiền mua điện từ các dự án ĐMTMN với khách hàng.

      Tính đến tháng 2/2019, khu vực miền Trung- Tây Nguyên đã có 330 khách hàng lắp đặt ĐMTMN đấu nối vào lưới điện EVNCPC với tổng công suất 2,1 MWp; EVNCPC đã đầu tư lắp đặt ĐMTMN ở các trụ sở Điện lực, đến 30/6/2019 sẽ đạt mức công suất 7,2 MWp.

      Một số hình ảnh giới thiệu các giải pháp về kỹ thuật, tài chính với các nhà đầu tư ĐMTMN bên lề Hội thảo:

       

       

    • Đề xuất phát triển điện gió ngoài khơi

       

      Bên cạnh bài toán năng lượng, việc đẩy mạnh phát triển kinh tế biển sẽ góp phần bảo vệ an ninh, chủ quyền quốc gia và lãnh hải, thu hút được nhiều nhà đầu tư, nhà thầu từ Âu, Mỹ...

      Bên cạnh đó, chúng ta có thể tận dụng công nghệ và thiết bị xây dựng dầu khí, góp phần chuyển giao/bổ sung chiến lược và lao động hiện có của ngành dầu khí cùng các ngành vận tải biển và cảng, thăm dò và khảo sát biển...

      TS. Đinh Văn Nguyên

      Chi phí lưu trữ và truyền tải điện giảm

      TS. Đinh Văn Nguyên, Trưởng dự án phát triển năng lượng ngoài khơi toàn quốc của Cộng hòa Ireland, cho rằng với mô hình điện gió ngoài khơi, ưu điểm đầu tiên và lớn nhất là gió ngoài khơi mạnh vào ban ngày, thường phù hợp với nhu cầu điện. Vì vậy, chi phí cho lưu trữ và truyền tải điện gió ngoài khơi sẽ giảm thiểu hơn, đồng thời điện sa thải cũng thấp hơn. Điều này đã làm giảm khó khăn lớn nhất trong phát triển năng lượng tái tạo (NLTT) là điện nền (thường phải dùng điện khí, điện than, hoặc một phần thủy điện). Thứ hai, gió ngoài khơi ổn định hơn và hệ số công suất cao hơn, có thể đạt 40 - 50% (ở Việt Nam), làm giảm chi phí sản xuất điện, tăng tuổi thọ hệ thống cơ khí, kết cấu...

      Về mặt kỹ thuật xây dựng và môi trường, điện gió ngoài khơi cũng cạnh tranh hơn các loại điện khác. Cụ thể, việc vận chuyển, lắp dựng các tua bin lớn (giảm chi phí sản xuất điện quy dẫn) dễ dàng bằng tàu/sà lan. Những tua bin lớn như 9 MW có cánh dài 80m, 12 MW có cánh dài 107m, việc vận chuyển trên đất liền gần như là bất khả thi, nhưng sẽ dễ dàng trên biển. Tương tự về mặt môi trường, phát thải CO2 của điện gió ngoài khơi là thấp nhất trong các dạng năng lượng, chỉ 16g CO2/kWhe). Trong khi thủy điện là 28g CO2/kWhe, hạt nhân 33g CO2/kWhe, điện khí gas 450g CO2/kWhe, và điện than 1.050g CO2/kWhe. Thêm vào đó, mô hình điện gió ngoài khơi hầu như không gây ảnh hưởng đến đời sống con người bởi tiếng ồn trong quá trình lắp dựng, vận hành, cản trở tầm nhìn, nhất là điện gió ngoài khơi hiện đại thường cách bờ trên 10km.

      Hấp dẫn hơn EU và Bắc Mỹ

      TS. Nguyễn Duy Khiêm, chuyên gia năng lượng của Trường đại học Quy Nhơn (Bình Định), cho biết bản thân từng nghiên cứu loại hình năng lượng này. Thời điểm đó, suất đầu tư ngoài khơi cao hơn đất liền một chút, nhưng về mặt kỹ thuật đo đếm, tốc độ gió trung bình ở trên các vùng biển Việt Nam rất thuận lợi.

      Mô hình điện gió (gần bờ) ở Bạc Liêu

      Hiện Chính phủ cũng có giá điện cho loại hình năng lượng này, việc truyền tải điện cũng không quá phức tạp và các nước cũng đã làm nhiều. Vì thế, đây là mô hình hiệu quả và khả thi đặc biệt với điều kiện đất đai ở Việt Nam có giới hạn, việc tận dụng mô hình điện gió ngoài khơi sẽ tối đa hóa tài nguyên với dải bờ biển dài từ bắc tới nam.

      “Theo tôi được biết, các ngành chức năng đang soạn thảo Quy hoạch điện VIII (thay thế Quy hoạch điện VII, đã điều chỉnh). Theo quy hoạch mới này, tỷ lệ năng lượng tái tạo trong cơ cấu nguồn được đưa lên tới 30%. Để năng lượng tái tạo phát triển đúng tỷ lệ đó thì phải đồng loạt đẩy mạnh phát triển tất cả các loại hình, trong đó điện gió ngoài khơi là một phần rất quan trọng. Đầu tiên phải xác định hướng chiến lược như vậy và sau đó có những cơ chế chính sách đi kèm”, TS. Nguyễn Duy Khiêm đề xuất.

      TS. Đinh Văn Nguyên nhận định: Trong tương lai, khi công nghiệp điện gió ngoài khơi cùng chuỗi sản xuất, lắp dựng, vận hành và bảo dưỡng đã phát triển thì điện gió ngoài khơi ở Việt Nam sẽ hấp dẫn hơn các vùng có khí hậu lạnh như EU, Bắc Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc. Bởi ở vùng biển Việt Nam tình trạng sóng và thời tiết tốt hơn nên giá thành kết cấu móng, trụ sẽ thấp hơn, các tua bin, cánh quạt sẽ có tuổi thọ cao hơn và chi phí cho lắp dựng và bảo dưỡng sẽ tốt hơn. Thêm vào đó, điện gió trên biển ở Việt Nam không có thời gian cánh quạt bị đóng băng (icing time) nên giúp tiết kiệm chi phí và tối đa hóa thời gian vận hành.

      Mặc dù vậy, TS. Nguyên cũng lưu ý với điều kiện gió và địa hình biển ở Việt Nam, các trang trại gió (wind farm) cách bờ trên 20km sẽ có lợi về kinh tế hơn so với ven bờ. Chi phí cho bảo dưỡng, sửa chữa tua bin, cáp trên biển lớn hơn nhiều so với trên đất liền nên để giảm thiểu các chi phí này, ngay từ giai đoạn lập dự án cần lưu ý dùng tua bin tốt, có uy tín và tránh tất cả các nhà sản xuất Trung Quốc (có số lượng bán ra nhiều nhưng chủ yếu là ở thị trường Trung Quốc, chưa có uy tín trên thế giới). Xây dựng trang trại gió lớn (500 MW trở lên) để có thể tạo thành chuỗi dịch vụ nhằm giảm chi phí bảo dưỡng.

    • EVN cam kết hỗ trợ tối đa để phát triển điện mặt trời áp mái

      Vì sao phải phát triển ĐMT áp mái?

      Theo ông Trần Đình Nhân - Tổng giám đốc EVN, năm 2017, sau khi Thủ tướng ban hành Quyết định số 11 về cơ chế khuyến khích phát triển điện mặt trời, các dự án công suất lớn đã phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, các nhà đầu tư tập trung quá nhiều vào các khu vực có cường độ bức xạ lớn và khả năng tiếp cận mặt bằng dễ dàng (các tỉnh Nam Trung bộ). Điều này, tạo nên sức ép lớn đối với lưới truyền tải; một số nhà máy sẽ không phát được hết công suất, ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư. 

      Trước thực trạng trên, điện mặt trời áp mái chính là giải pháp đặc biệt hiệu quả góp phần đảm bảo an ninh năng lượng, bởi tính ưu việt của nguồn điện này là đấu nối thẳng vào lưới điện hạ thế đã có sẵn của EVN. Tuy nhiên, đến nay, cả nước mới chỉ có 1.800 khách hàng tham gia với công suất lắp đặt khoảng 30 MWp, sản lượng điện năng phát lên lưới đạt gần 4 triệu kWh - con số quá nhỏ bé so với tiềm năng.

      Tại Hội thảo “Thúc đẩy phát triển điện mặt trời áp mái tại Việt Nam” vừa được tổ chức mới đây, bà Ngụy Thị Khanh - Giám đốc Trung tâm Phát triển xanh (GreenID) cho hay, Việt Nam có trên 11 triệu hộ gia đình. Nếu khai thác hiệu quả nguồn lực này sẽ góp phần giảm áp lực rất lớn cho hệ thống điện và không gây nên sự quá tải cục bộ cho lưới truyền tải. 

      Theo các chuyên gia năng lượng, điện mặt trời áp mái còn có thể triển khai theo hình thức chia sẻ: EVN chia sẻ lưới điện cho các nhà đầu tư; các hộ gia đình chia sẻ mái nhà; nhà đầu tư có thể tham gia bằng cách đầu tư nguồn vốn, thiết bị... Khi lắp đặt điện mặt trời áp mái, các gia đình không chỉ giảm được chi phí tiền điện mà còn góp phần giảm áp lực nguồn điện cho EVN.

      Việt Nam có tiềm năng rất lớn trong việc phát triển điện mặt trời áp mái, đặc biệt là khu vực miền Trung và miền Nam

      Thúc đẩy bằng cách nào?

      Việc phát triển điện mặt trời áp mái tại Việt Nam còn nhiều vướng mắc, do chưa có hướng dẫn chính thức về cách thức thanh quyết toán tiền điện cho khách hàng; chi phí đầu tư vẫn còn cao; khách hàng còn e ngại do thiếu thông tin về chất lượng sản phẩm, đơn vị thi công, lắp đặt, chế độ vận hành...

      Theo bà Ngụy Thị Khanh, thời gian tới, các cơ quan chức năng cần đẩy mạnh công tác truyền thông, để từng hộ gia đình hiểu được những lợi ích cũng như vốn đầu tư, kĩ thuật đấu nối điện mặt trời áp mái; đồng thời, Nhà nước cần có cơ chế, chính sách hỗ trợ như miễn thuế trong thời gian hệ thống chưa được hoàn vốn; có các chương trình hỗ trợ tín dụng... 

      Ngoài ra, cần có cơ chế để các nhà tài trợ, ngân hàng, nhà đầu tư, sản xuất, các tổ chức quốc tế và trong nước cũng tham gia sâu rộng, cung cấp các giải pháp, gói dịch vụ hấp dẫn khuyến khích khách hàng đầu tư và sử dụng điện mặt trời áp mái...

      Đặc biệt, Bộ Công Thương cần sớm ban hành Thông tư sửa đổi Thông tư 16/2017, để EVN và các đơn vị điện lực có thể ký kết hợp đồng và thanh toán tiền điện phát lên lưới cho khách hàng; đồng thời xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật điện mặt trời áp mái đảm bảo chất lượng, an toàn và hiệu quả cho khách hàng cũng như hệ thống lưới điện.

      Về phía EVN, ông Trần Đình Nhân cho biết, Tập đoàn cam kết hỗ trợ tối đa mọi yêu cầu của người dân, doanh nghiệp như: Đơn giản hóa các quy trình thủ tục đấu nối; thanh toán tiền điện kịp thời sau khi có thông tư hướng dẫn của các bộ/ngành; lắp đặt miễn phí công tơ hai chiều... EVN cũng sẽ tiếp tục tiên phong trong công tác tuyên truyền, triển khai lắp đặt điện mặt trời áp mái để người dân, doanh nghiệp thấy được lợi ích, hiệu quả từ những mô hình cụ thể. 

    • EVN tổ chức hội nghị hướng dẫn thủ tục công nhận vận hành thương mại cho 98 nhà đầu tư điện mặt trời

      Tham dự Hội nghị có ông Đinh Thế Phúc - Phó Cục trưởng Cục Điều tiết Điện lực (Bộ Công Thương), đại diện Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo (Bộ Công Thương) cùng khoảng gần 100 chủ đầu tư và nhà thầu thi công các dự án điện mặt trời.

      Về phía EVN, có ông Trần Đình Nhân - Tổng giám đốc EVN; ông Ngô Sơn Hải – Phó Tổng giám đốc EVN cùng đại diện các Ban, các Đơn vị thuộc EVN, bao gồm: Trung tâm Điều độ HTĐ Quốc gia, Công ty Mua bán điện, Tổng Công ty Truyền tải điện Quốc gia, các Tổng Công ty Điện lực miền Trung và miền Nam.

      Ông Đinh Thế Phúc - Phó Cục trưởng Cục Điều tiết Điện lực giải đáp các thủ tục, quy định cho các chủ đầu tư tại Hội nghị

      Kịp thời tháo gỡ vướng mắc

      Tại Hội nghị, các đơn vị của EVN đã báo cáo về tình hình phát triển nguồn năng lượng tái tạo và đầu tư các dự án phục vụ đấu nối, giải tỏa công suất năng lượng tái tạo; Dự thảo quy trình quy định trình tự, thủ tục chạy thử, nghiệm thu và công nhận ngày vận hành thương mại (COD) từng phần/cả nhà máy; Tình hình đấu nối, chuẩn bị đóng điện các dự án điện mặt trời và các khó khăn, vướng mắc trong vận hành.

      Phát biểu ý kiến tại Hội nghị, các chủ đầu tư dự án điện mặt trời đã hoan nghênh EVN đã chủ động tổ chức Hội nghị, để các doanh nghiệp được bày tỏ nguyện vọng cũng như nêu lên các vướng mắc trong quá trình thực hiện, từ đó và bàn bạc, tìm giải pháp tháo gỡ kịp thời.

      Ông Trần Đình Nhân - Tổng giám đốc EVN khẳng định Tập đoàn sẽ hỗ trợ tối đa cho các chủ đầu tư để các nhà máy điện mặt trời đi vào vận hành thương mại trước ngày 30/6/2019

      Đặc biệt, các chủ đầu tư dự án cũng đánh giá cao việc EVN đã hiện đại hóa, đơn giản hóa rất nhiều các thủ tục so với trước đây, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư sản xuất điện. Bên cạnh đó, các chủ đầu tư và các đơn vị phía EVN cũng đã trao đổi, thảo luận để làm rõ một số vấn đề kỹ thuật trên thực tế cũng như kiến nghị về các công tác, quy trình, thủ tục phục vụ việc vận hành các nhà máy điện mặt trời như: Việc xác định công suất phát tối đa (Pmax) của các nhà máy, kể cả trong thời gian thử nghiệm Pmax lớn hơn hoặc nhỏ hơn công suất đã đăng kí; các thủ tục, quy định mẫu về chạy thử nghiệm; việc giải tỏa công suất nhà máy, vấn đề đấu nối lên lưới quốc gia; vấn đề công nhận nhận COD từng phần/toàn nhà máy...

      Tiếp nhận ý kiến của các doanh nghiệp là chủ đầu tư các dự án năng lượng tái tạo, đại diện lãnh đạo Cục Điều tiết Điện lực, Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo, lãnh đạo EVN và các đơn vị trực thuộc đã giải đáp các vướng mắc; cũng như đưa ra các kiến nghị, giải pháp để tạo điều kiện tối đa nhằm hỗ trợ chủ đầu tư tháo gỡ các khó khăn trong việc đưa các nhà máy điện mặt trời đi vào vận hành trước ngày 30/6/2019.

      Gần 100 chủ đầu tư dự án điện mặt trời tham dự Hội nghị

      EVN luôn hỗ trợ tối đa

      Báo cáo tại Hội nghị, Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia (A0) cho biết, việc vận hành các nhà máy điện mặt trời sẽ gặp không ít khó khăn, do nguồn năng lượng này có tính không ổn định về công suất phát. Cụ thể, công suất nguồn năng lượng mặt trời thay đổi tức thời theo điều kiện thời tiết; các nhà máy trong cùng khu vực có xu hướng cùng biến động, dẫn đến sự thay đổi đồng thời một lượng công suất lớn – tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định hệ thống.

      Ngoài ra, từ tháng 6/2019, việc vận hành các nguồn năng lượng tái tạo phải đảm bảo yêu cầu không gây quá tải các đường dây, máy biến áp, dẫn đến sóng hài điện áp có khả năng vượt giới hạn trên lưới điện 110 kV, nhất là khu vực Ninh Thuận, Bình Thuận...

      Phần trình bày của đại diện Trung tâm Điều độ Hệ thống điều độ Quốc gia về công tác đấu nối, chuẩn bị đóng điện các dự án điện mặt trời

      Bên cạnh đó, số lượng các nhà máy điện mặt trời dự kiến vào vận hành từ nay đến hết tháng 6 là rất lớn (miền Bắc 6 dự án, miền Nam 54 dự án, miền Trung 28 dự án), gây khó khăn và áp lực lớn về tiến độ thử nghiệm, nghiệm thu; chưa kể một số thời điểm tình hình thời tiết không đảm bảo điều kiện yêu cầu để vận hành thử nghiệm.

      Trước những khó khăn này, A0 đã chủ động gửi công văn và hướng dẫn các chủ đầu tư, phối hợp sớm cung cấp tài liệu, phục vụ chuẩn bị đóng điện vận hành. Đồng thời, A0 cũng tăng cường thời gian làm việc 3 ca, kể cả ngày nghỉ cuối tuần; sắp xếp bố trí nhân lực để hỗ trợ các bộ phận có khối lượng công việc tăng cao như Trung tâm Điều độ miền Trung, miền Nam...

      Đại diện Ban Thị trường điện (EVN) trình bày về Dự thảo Quy trình công nhận ngày vận hành thương mại nhà máy điện gió/mặt trời

      Tuy nhiên, theo A0, do khối lượng công việc của thời gian tới là rất lớn, nên để các nhà máy điện mặt trời đưa vào vận hành đúng tiến độ dự kiến, chủ đầu tư cần sớm cung cấp tài liệu kỹ thuật của dự án và đầu mối liên lạc cho các cấp điều độ theo quy định để phối hợp chuẩn bị đóng điện công trình; định kỳ ngày 15 hàng tháng cập nhật tiến độ gửi cấp điều độ có quyền điều khiển; kết nối và thử nghiệm ETE, SCADA/EMS, chức năng điều khiển xa AGC với Trung tâm Điều độ Hệ thống điện quốc gia/miền; phối hợp với cấp điều độ và các đơn vị liên để thử nghiệm hút/phát công suất phản kháng; kết nối và thử nghiệm chức năng điều khiển xa AGC với A0... Thời gian thử nghiệm, nghiệm thu phấn đấu hoàn thành trong tháng 6/2019.

      Phát biểu kết luận Hội nghị, Tổng Giám đốc EVN Trần Đình Nhân cho biết, EVN sẽ tiếp thu ý kiến của các chủ đầu tư, đồng thời sẽ sớm ban hành Quy định tạm thời về Trình tự, thủ tục chạy thử, nghiệm thu và công nhận ngày COD từng phần/cả nhà máy điện mặt trời. Các đơn vị của EVN cũng sẽ phối hợp, hỗ trợ tối đa các chủ đầu tư để tạo điều kiện tối đa cho các nhà máy điện mặt trời đi vào vận hành thương mại trước ngày 30/6/2019.

    • Đánh thức tiềm năng điện năng lượng mặt trời ở Tây Nguyên

      Tây Nguyên được xem là vùng đất có tiềm năng lớn về năng lượng mặt trời với số giờ nắng từ 2.000 đến 2.600 giờ/năm nên vài năm trở lại đây, nhiều nhà đầu tư về điện năng lượng mặt trời đã tìm đến để khai thác nguồn năng lượng vô tận này.    

      Những ngày đầu tháng 3 của mùa khô Tây Nguyên, giữa cái nắng rừng rực khô cháy cỏ cây, có mặt tại công trường Dự án Nhà máy điện năng lượng mặt trời Cư Jút (xây dựng tại thị trấn Ea Tling, huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông), chúng tôi chứng kiến cảnh nhộn nhịp thi công trên công trường hết sức khẩn trương. Tranh thủ thời tiết thuận lợi, các lực lượng khẩn trương tập kết vật liệu, xây dựng các hạng mục... Hàng trăm xe tải tấp nập ra vào, xe ủi, máy múc tích cực san ủi mặt bằng.

      Ông Trương Công Giới - Tổng Giám đốc Công ty Thủy điện miền Trung cho biết, Dự án Nhà máy điện mặt trời do công ty làm chủ đầu tư được xây dựng trên diện tích 62ha, có công suất thiết kế 50MW với tổng kinh phí 1.367 tỷ đồng.

      “Tới nay, các hạng mục lớn đã được hoàn thành như: Xây dựng đường chính và san lấp mặt bằng; kênh thoát nước; hạ tầng nhà quản lý, nhà kho, nhà bảo vệ, bể nước, tường rào; thi công lắp đặt trạm 110kV, đường dây đấu nối, lắp đạt 37ha pin năng lượng mặt trời… Đơn vị đang đôn đốc các đơn vị thi công bảo đảm tiến độ hợp đồng với mục tiêu phát điện thương mại vào tháng 4-2019 và hoàn thành toàn bộ các hạng mục đầu tư của dự án, bảo đảm phát điện trước 30-6-2019”, ông Giới thông tin.

      Cùng với nỗ lực của chủ đầu tư, tiến độ dự án đạt được kết quả như hiện tại có sự quan tâm của chính quyền địa phương trong công tác giải phóng mặt bằng. Theo ông Đỗ Văn Chính, Giám đốc Trung tâm phát triển quỹ đất huyện Cư Jút, sau khi được chấp thuận chủ trương đầu tư, Công ty Thủy điện miền Trung đã ký hợp đồng với Trung tâm thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng cho toàn bộ dự án. Trung tâm đã phối hợp với HĐND, UBND thị trấn Ea Tling tổ chức họp thông báo và tuyên truyền các chủ trương, chính sách của nhà nước về bồi thường cho các hộ dân có đất bị thu hồi.

      Dự án điện năng lượng mặt trời đang được tích cực triển khai tại Tây Nguyên.

      “Sau 3 giai đoạn, đơn vị đã hoàn tất công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng 58,5ha của 66 hộ dân với tổng kinh phí hơn 73,7 tỷ đồng. Phần lớn người dân nằm trong diện thu hồi đất ủng hộ việc xây dựng nhà máy. Trong quá trình giải phóng mặt bằng, chính quyền địa phương đã thường xuyên tổ chức đối thoại với người dân để kịp thời tháo gỡ những kiến nghị, khiếu nại. Nhờ vậy, toàn bộ đất sạch đã được bàn giao cho chủ đầu tư sớm hơn so với kế hoạch”, ông Chính cho hay.

      Cũng theo ông Chính, ngoài dự án trên, một dự án khác cũng đang khởi động tại huyện Cư Jút là Dự án điện mặt trời Trúc Sơn. Dự án này được UBND tỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư từ tháng 4-2018. Dự án có công suất thiết kế 44,4MW với tổng kinh phí 1.107 tỷ đồng, do Công ty Univergy K.K, Công ty Europe Clean Enegies Japan K.K và Công ty CP Tập đoàn truyền thông Thanh niên làm chủ đầu tư. Dự án dự kiến triển khai trên diện tích 50,77ha tại thôn 5, xã Trúc Sơn và hoàn thành, đưa vào sử dụng trong tháng 6-2019.

      “Là vùng đất khô cằn, đất đai trong huyện đa số là cằn cỗi, sỏi đá, khó canh tác nông nghiệp, nhưng số giờ nắng lại lên đến hơn 2.600 giờ/năm và nền nhiệt độ ở quanh vùng cũng khá cao. Với điều kiện này, các dự án điện mặt trời được nhận định sẽ đạt hiệu quả cả về kinh tế lẫn môi trường nên UBND huyện rất kỳ vọng sau khi hoàn thành, 2 dự án này sẽ góp phần nâng cao sản lượng điện từ nguồn năng lượng tái tạo, bảo vệ môi trường và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện nói riêng, toàn tỉnh nói chung”, ông Chính kỳ vọng.

      Không chỉ tại địa bàn tỉnh Đắk Nông mà việc khai thác nguồn năng lượng tái tạo này để sản xuất điện đang được các tỉnh trong khu vực Tây Nguyên tích cực triển khai. Ông Hồ Phước Thành, Giám đốc Sở Kế hoạch đầu tư tỉnh Gia Lai cho biết, Gia Lai là một trong những tỉnh tiên phong triển khai các dự án điện mặt trời và đến thời điểm này, đã có 23 nhà đầu tư đăng ký 33 dự án điện mặt trời với tổng công suất gần 4.000 MW. Còn tại địa bàn tỉnh Đắk Lắk, đến nay đã có 1 nhà máy đi vào hoạt động, 6 dự án khác đang khảo sát và bước đầu triển khai, với tổng công suất 969 MWp.

      Đánh giá về những hiệu quả kinh tế - xã hội mang lại, ông Lê Quang Minh, Chủ tịch HĐQT, Tổng Giám đốc Công ty CP Đầu tư và Phát triển Điện Đại Hải (cụm công trình điện mặt trời Sêrêpốk 1 - Quang Minh ở xã Ea Wer, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk) khẳng định dù mới đi vào hoạt động chưa lâu, nhưng đầu tư vào điện mặt trời ở vùng đất nghèo nắng cháy này là đúng hướng.

      “Điển hình như tại dự án SêrêPốk 1 mới đi vào hoạt động từ đầu tháng 2 vừa qua, đã hòa lưới điện quốc gia được 20 triệu kWh. Khi cả SêrêPốk 1 và Quang Minh cùng phát điện, sẽ cung cấp cho điện lưới quốc gia khoảng 150 triệu kWh mỗi năm, doanh thu khoảng 300 tỷ đồng, nộp ngân sách 30 tỷ đồng/năm cho địa phương. Điều này nghĩa là mỗi ha đất cằn ở huyện biên giới sẽ đem lại doanh thu gần 3 tỷ đồng, đóng góp ngân sách gần 300 triệu đồng mỗi năm”, ông Minh dẫn chứng.

      Cũng theo ông Minh, việc xây dựng nhà máy điện mặt trời đã giải bài toán kinh tế cho những vùng đất khô cằn nhưng giàu tiềm năng về nắng, gió. “Việc phát triển điện mặt trời không chỉ làm cho giá trị gia tăng trên mỗi đơn vị diện tích tăng lên 30 đến 40 lần so với cây trồng phù hợp với hiện trạng đất mà còn tạo công ăn, việc làm cho nhiều người dân địa phương”, ông Minh nói.

      Khi làm việc với lãnh đạo các tỉnh Tây Nguyên trong khuôn khổ “Hội nghị xúc tiến đầu tư tỉnh Đắk Lắk năm 2019”, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình cho rằng, “rừng xanh đại ngàn” là tinh hoa của Tây Nguyên, các địa phương cần tìm các biện pháp, các nguồn lực để phát triển hiệu quả. Tây Nguyên cũng có những vùng đất cằn cỗi đầy nắng và gió, nắng nóng quanh năm. Đây là khó khăn đối với sản xuất nông lâm nghiệp nhưng lại là thuận lợi vì có nguồn bức xạ mặt trời và gió để phát triển năng lượng vô giá, chúng ta cần phải tận dụng đầu tư, khai thác nguồn năng lượng quý giá này nhằm đem lại hiệu quả kinh tế lớn...

    • Bình Phước: Điện mặt trời thúc đẩy kinh tế vùng biên

      Sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg về “Cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam”, tỉnh Bình Phước đã kêu gọi đầu tư phát triển dự án điện mặt trời trên những vùng đất kém màu mỡ, khô cằn.

      Mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định phê duyệt dự án Điện mặt trời với quy mô 800 MWp tại huyện biên giới Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

      Lãnh đạo tỉnh Bình Phước kiểm tra dự án điện mặt trời ở huyện Lộc Ninh.

      Để phục vụ dự án, ngay từ cuối năm 2018, tại xã Lộc Tấn, huyện Lộc Ninh, Công ty Cổ phần Tập đoàn Hưng Hải, đơn vị được chọn thực hiện dự án đã khởi công công trình đường dây và trạm biến áp 220 kV Lộc Ninh - Bình Long 2, để đấu nối các nhà máy điện mặt trời trên địa bàn huyện Lộc Ninh vào hệ thống điện lưới quốc gia với tổng chiều dài đường dây gần 30 km, chạy qua 5 xã của huyện Lộc Ninh đến điểm cuối là trạm 220 kV Bình Long 2; tổng mức đầu tư trên 1.200 tỷ đồng.

      Đây là hạng mục cấp bách để truyền tải điện, phục vụ kết nối hòa lưới điện quốc gia khi các dự án điện mặt trời đưa vào sử dụng. Chủ đầu tư đã ký hợp đồng với 10 nhà thầu thực hiện các công việc phục vụ đầu tư tuyến đường dây này, thời gian dự kiến thi công hoàn thành từ tháng 12/2018 đến tháng 6/2019.

      Vùng đất tỉnh Bình Phước quy hoạch phát triển điện năng lượng mặt trời vốn là những khu vực đất bạc màu, không phù hợp với phát triển nông nghiệp. Trước đây, được giao cho một số công ty trồng cao su nhưng không mang hiệu quả. Tuy vậy, đây lại là nơi có cường độ bức xạ mặt trời cao, địa hình bằng phẳng, hệ thống giao thông thuận lợi, không thuộc đất lâm phần, không ảnh hưởng đến quốc phòng - an ninh của địa phương nên công tác giải phóng mặt bằng khá thuận lợi.

      Ông Hoàng Nhật Tân – Chủ tịch UBND huyện Lộc Ninh cho hay: “Chúng tôi rất kỳ vọng vào dự án điện mặt trời, bởi sẽ giúp cải thiện cơ cấu kinh tế của địa phương. Dự án đang được Tập đoàn Hưng Hải triển khai nhanh, đồng bộ, từ mặt hoàn tất các thủ tục pháp lý đến phối hợp đền bù giải phóng mặt bằng”.

      Ông Nguyễn Anh Hoàng, Giám đốc Sở Công thương Bình Phước cho biết: “Trong điều kiện các nguồn năng lượng khác như thủy điện, nhiệt điện... ngày càng gặp nhiều khó khăn thì phát triển điện mặt trời là một chính sách rất hợp lý. Nó sẽ giải quyết được cùng lúc nhiều vấn đề. Đó là cung cấp năng lượng cho nền kinh tế, sản xuất và đời sống nhân dân trong khu vực. Tạo nguồn thu ngân sách nhà nước. Giải quyết được công ăn việc làm cho lao động địa phương trong giai đoạn xây dựng nhà máy cũng như sau khi các nhà máy đi vào hoạt động.

      Trên cơ sở dự án được duyệt thì chủ đầu tư cũng đã tích cực bắt tay ngay vào việc thực hiện dự án. Về địa phương, chúng tôi cũng đã hỗ trợ về mặt thủ tục, mặt bằng… để làm sao dự án sớm được hoàn thành và đi vào hoạt động theo đúng tiến độ”.

      Qua tính toán chi tiết, nếu đầu tư 1 MWp điện năng lượng mặt trời, mỗi năm đóng góp thuế cho ngân sách là 1 tỷ đồng. Tổng 800 MWp sẽ mang lại nguồn thu ngân sách nhà nước rất lớn. Bên cạnh đó, để vận hành 1 nhà máy cần từ 100 – 150 cán bộ, công nhân. Như vậy, nếu khi toàn bộ dự án hoàn thành và đi vào hoạt động sẽ góp phần giải quyết việc làm thường xuyên rất lớn cho địa phương.

    • Vương quốc Anh cam kết hỗ trợ Việt Nam phát triển năng lượng tái tạo

      Hội thảo do Đại sứ quán Vương quốc Anh tại Việt Nam, Bộ Thương mại Quốc tế (DIT), Hội đồng Công nghiệp Năng lượng (EIC), Hiệp hội Doanh nghiệp Anh quốc tại Việt Nam (BBGV) và Hiệp hội Năng lượng Việt Nam (VEA) phối hợp tổ chức.

      Đại sứ Vương quốc Anh tại Việt Nam, ông Gareth Ward nhận định Việt Nam trong những năm gần đây nổi lên là một nhà sản xuất năng lượng quan trọng ở Đông Nam Á và được xếp trong nhóm bốn quốc gia hàng đầu Đông Nam Á về sản xuất dầu khí và trữ lượng dầu. Đồng thời, nhu cầu phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam ngày càng tăng và Chính phủ đang có những sáng kiến​ để thúc đẩy lĩnh vực này, đặc biệt là điện gió và mặt trời.

      Trong khi đó, Vương quốc Anh cũng là quốc gia dẫn đầu thế giới về gió ngoài khơi với công suất lắp đặt lớn nhất toàn cầu là 7,6 GW. “Tôi tin rằng Hội thảo này sẽ là nền tảng để Vương quốc Anh hợp tác chặt chẽ với Việt Nam và hỗ trợ Việt Nam trong quá trình chuyển hướng khỏi nhiên liệu hóa thạch và gia tăng thị phần của năng lượng tái tạo trong những năm tới”, Đại sứ Gareth Ward nói.

      Tại Hội thảo, đại diện 30 công ty của Vương quốc Anh trong lĩnh vực năng lượng tái tạo và tài chính xanh cũng đã tham dự và chia sẻ với các đối tác Việt Nam cách tiếp cận chính sách, phát triển khung pháp lý và kinh nghiệm về phát triển năng lượng hướng tới giảm thiểu carbon.

      Phát biểu tại Hội thảo, Thứ trưởng Bộ Công Thương Cao Quốc Hưng cho biết, trong vòng 20 năm qua, Việt Nam đã đạt được mức tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) ấn tượng từ 6-7%. Nhưng mặt khác, nhu cầu điện năng đã tăng trên 13% trong giai đoạn 2000-2010; trên 11% trong giai đoạn 2011-2016; đến năm 2018 là trên 10%. Nhu cầu điện năng tăng cao liên tục tạo ra những sức ép lớn về đầu tư cho năng lực phát điện, cũng như hệ thống truyền tải và phân phối.

      Các dự báo cho thấy từ nay cho đến năm 2030, nền kinh tế Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trưởng ở mức cao từ 6,5 - 7,5%/năm, do đó, ưu tiên cao phải được dành cho đảm bảo nhu cầu năng lượng.

      Một trong những mục tiêu ưu tiên của Việt Nam là phát triển năng lượng tái tạo để giảm dần sự phụ thuộc vào các dạng năng lượng phát điện truyền thống nhằm bảo vệ môi trường. 

      Theo Quy hoạch phát triển điện lực Quốc gia đã được Chính phủ phê duyệt, công suất lắp đặt nguồn điện cả nước sẽ lên đến 130.000 MW vào năm 2030. Như vậy, khoảng 83.000 MWW nguồn điện mới sẽ cần phải xây dựng và đưa vào vận hành từ nay đến 2030, cùng với đó là các cơ sở hạ tầng truyền tải và phân phối đồng bộ.

      Thứ trưởng Cao Quốc Hưng cho biết thêm, Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo đến năm 2030, có xét đến 2050 được Chính phủ Việt Nam phê duyệt vào tháng 9/2015 đã đưa ra các mục tiêu cụ thể. Trong đó, tỷ trọng điện năng sản xuất từ các nguồn năng lượng tái tạo trong tổng điện năng sản xuất toàn quốc sẽ tăng từ 35% năm 2015 lên mức 38% năm 2020 và 43% năm 2050.

      Để khuyến khích phát triển năng lượng tái tạo nhằm đạt các mục tiêu phát triển trên, Bộ Công Thương đã xây dựng và trình Chính phủ ban hành hàng loạt các cơ chế như Fit (Feed-in-Tariff) cho điện mặt trời, điện gió, điện sản xuất từ chất thải rắn, điện sinh khối,... Chính phủ cũng ban hành các chính sách ưu đãi khác cho các nhà đầu tư như ưu tiên cung cấp tín dụng, miễn/giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, tiền thuê đất, sử dụng Hợp đồng mua bán điện mẫu... 

      Thông qua Hội thảo, “Bộ Công Thương mong muốn được trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm của Vương quốc Anh và quốc tế trong phát triển năng lượng carbon thấp và phát triển các nguồn năng lượng tái tạo; trao đổi các giải pháp, khả năng hợp tác, khả năng tiếp cận các nguồn vốn từ các tổ chức tài chính quốc tế và Anh quốc cho các dự án năng lượng tái tạo tại Việt Nam”, Thứ trưởng Cao Quốc Hưng cho biết.

    • Điện mặt trời áp mái ở Ninh Thuận: Vì sao khó nhân rộng?

      Hiệu quả thiết thực

      Hơn một năm qua, việc lắp đặt điện mặt trời trên mái nhà và công tơ hai chiều trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận đã đạt được hiệu quả nhất định. Sau khi có Quyết định số 11 của Thủ tướng Chính phủ về “Cơ chế hỗ trợ các dự án điện mặt trời tại Việt Nam” có hiệu lực, ngày 26/6/2017, Công ty TNHH Thương mại và xây dựng Vương Thành Đạt là đơn vị tiên phong của tỉnh Ninh Thuận đã thực hiện hợp đồng thi công điện mặt trời trên mái nhà cho người dân. Đến nay, Công ty này đã thực hiện thi công cho 14 ngôi nhà trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận.

      Hệ thống điện mặt trời được lắp đặt trên mái nhà ở của dân do Công ty Vương Thành Đạt thi công.

      Bà Ngô Thị Hoàng Thư - Giám đốc Công ty cho biết: “14 hợp đồng chúng tôi thi công điện mặt trời trên mái đều đã đạt hiệu quả. Tất cả đều nối lưới điện với đồng hồ 2 chiều. Với diện tích lắp đặt 100m2, đầu tư 600 triệu đồng, từ 4-5 năm sẽ hoàn vốn. Sau khi lắp đặt, các gia đình đã tiết kiệm đáng kể chi phí. Tất cả thiết bị, phụ kiện nhập khẩu đều có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, phần lớn là công nghệ của Đức và Nhật Bản hợp tác sản xuất”.

      Bà Lương Thị Như Thủy (Phường Thanh Sơn - TP. Phan Rang - Tháp Chàm) chia sẻ: “Nhà tôi đầu tư gần 60m2 với tổng chi phí 170 triệu đồng. Trước đây, chi phí tiền điện của gia đình là 3,4 triệu đồng/tháng, nay chỉ còn trung bình 1,7 triệu đồng/tháng. Sau khi đầu tư thấy hiệu quả, nhiều bạn bè cũng đã đầu tư lắp đặt”.

      Theo báo cáo của Sở Công Thương Ninh Thuận, tính đến cuối tháng 2/2019, toàn tỉnh có 29 dự án điện trên mái nhà đã được lắp đặt, trong đó Công ty Điện lực Ninh Thuận đã lắp đặt 15 dự án cho khách hàng; Tổng sản lượng điện phát trên lưới là 107.087 kWh. Đặc biệt, nhiều cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận cũng đã lắp đặt thí điểm như: Công ty Điện lực Ninh Thuận, trụ sở Văn phòng UBND tỉnh, Sở Công Thương...

      Trên thực tế, lợi ích của việc đầu tư dự án điện mặt trời trên mái nhà người dân trong thời gian qua đã rất hiệu quả, giúp người dân giảm chi phí sử dụng điện đáng kể; ngành điện cũng giảm được áp lực về nguồn điện. Tuy nhiên, để tạo sự lan tỏa rộng rãi, hiện vẫn còn nhiều vướng mắc.

      Vướng mắc từ đâu?

      Dù hiệu quả đầu tư điện mặt trời trên mái nhà đã rõ, nhưng vẫn chưa được áp dụng trên diện rộng. Nguyên nhân là nguồn đầu tư ban đầu lớn nên những hộ gia đình có mức thu nhập trung bình không xoay sở được. Tuy nhiên những hộ gia đình có điều kiện để làm thì gặp khó khăn vướng mắc trong khâu thỏa thuận đấu nối, thêm vào đó chưa có hướng dẫn cụ thể về thanh toán mua bán điện, thuế...

      Ông Nguyễn Hữu Tiên - Phó Giám đốc Công ty Điện lực Ninh Thuận cho biết: “Hiện nay, Công ty chưa thể ký hợp đồng mua bán điện với các khách hàng mà chỉ có thỏa thuận ghi nhận sản lượng điện của khách hàng phát lên lưới và đợi Thông tư hướng dẫn cụ thể từ Bộ Tài Chính. Tính từ tháng 6/2018 đến nay, sản lượng điện của khách hàng phát lên lưới điện là hơn 100.000 kWh (bình quân 18.000 kWh/tháng)”.

      Trong cuộc họp ngày 4/3/2019 do UBND tỉnh chủ trì, hầu hết lãnh đạo các ngân hàng đóng chân trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận được mời đến tham dự đều trả lời chưa có kế hoạch hay chính sách cho vay ưu đãi gì cho khách hàng đầu tư điện mặt trời trên mái nhà, kể cả Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - Chi nhánh Ninh Thuận. Họ gần như chưa hiểu, chưa tin vào hiệu quả của dự án này. Chỉ duy nhất Ngân hàng Bưu Điện Liên Việt - CN Ninh Thuận là có kế hoạch hỗ trợ.

      Tại cuộc họp, nhiều nhà đầu tư lắp đặt công nghệ cũng đã trình bày chi tiết, thuyết phục hiệu quả thiết thực của việc đầu tư điện mặt trời trên mái nhà. Khách hàng chỉ cần đầu tư diện tích 60m2 trên mái nhà, mỗi năm có thể tiết kiệm chi phí sử dụng điện hơn 36 triệu đồng (chỉ tính 10 tháng/năm), trong 6 năm hoàn vốn đầu tư, tuổi thọ của dự án hơn 35 năm, có thể bán điện cho EVN trong 20 năm. Với chi phí đầu tư như trên, người dân lãi 15%/năm.

      Phó Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận Phạm Văn Hậu cho rằng, hiệu quả đầu tư điện mặt trời áp mái là rất lớn, doanh nghiệp, người dân không chỉ giảm chi phí tiền điện mà còn mang lại lợi ích cho ngành Điện. Vì vậy, UBND tỉnh cũng đã chỉ đạo Sở Công Thương phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - CN Ninh Thuận và các đơn vị cung cấp thiết bị lắp đặt… làm rõ lợi ích cũng như hiệu quả mang lại của dự án, sớm có chính sách tín dụng ưu đãi hỗ trợ người dân, doanh nghiệp đầu tư. Tỉnh sẽ tiếp tục kiến nghị Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính và các Bộ, ngành liên quan, sớm có văn bản hướng dẫn thực hiện giá mua, bán điện….

      Với địa phương có đặc thù nắng hạn kéo dài trong năm, chiến lược khuyến khích mở rộng đầu tư điện mặt trời trên mái nhà sẽ góp phần không nhỏ vào phát triển kinh tế của tỉnh Ninh Thuận nói riêng và khu vực nói chung.

    • Phát triển năng lượng sạch tại Việt Nam vẫn còn hạn chế

      Thứ trưởng Hoàng Quốc Vượng phát biểu tại Hội thảo - Nguồn ảnh: Bộ Công Thương

      Hội thảo nằm trong chuỗi “Kế hoạch hành động toàn cầu hướng tới nền kinh tế ít carbon” do Nhật Bản triển khai để hỗ trợ các nước thành viên ASEAN.

      Phát biểu tại Hội thảo, Thứ trưởng Bộ Công Thương Hoàng Quốc Vượng cho biết, năng lượng có vai trò quan trọng trong sự phát triển của mỗi quốc gia.

      Mức độ tiêu thụ năng lượng luôn có xu hướng tăng lên, nhất là tại các nước đang phát triển. Điều này đã tác động đến biến đổi khí hậu toàn cầu và suy giảm nguồn tài nguyên năng lượng.

      Trước những thách thức đó, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách để tăng cường thúc đẩy các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, để vừa đảm bảo điện đáp ứng sự phát triển của đất nước, vừa giảm tác động tiêu cực tới môi trường.

      Theo Thứ trưởng Hoàng Quốc Vượng, với cơ chế giá hấp dẫn, hiện nay nhiều nhà đầu tư đã đăng ký đầu tư vào các dự án điện gió và điện mặt trời tại Việt Nam.

      Tuy nhiên, Thứ trưởng Hoàng Quốc Vượng cũng chỉ ra việc phát triển năng lượng tái tạo hiện  vẫn còn những hạn chế nhất định như đặc tính không ổn định, khả năng giải toả công suất thấp. Việc chỉ tập trung nhiều dự án ở một số địa điểm sẽ ảnh hưởng đến khả năng vận hành hệ thống điện.

      Bộ Công Thương đang tích cực làm việc với cơ quan liên quan để nghiên cứu giải pháp triển khai hiệu quả.

      Ông Daisuke Okabe, Phó Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam cho biết 2 nước Việt Nam - Nhật Bản đã có nhiều hoạt động hợp tác trong lĩnh vực năng lượng. Đặc biệt, tháng 11/2017, Bộ Công Thương của Việt Nam và Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghệ của Nhật Bản đã ký kết biên bản ghi nhớ về năng lượng sạch.

      Cũng theo ông Daisuke Okabe, Nhật Bản luôn sẵn sàng hỗ trợ để Việt Nam phát triển năng lượng sạch. Ông Okabe hi vọng, các hoạt động hợp tác giữa 2 nước sẽ tạo ra nhiều quan hệ mới trong ngành công nghiệp carbon thấp, đặc biệt là trong khối tư nhân.

      Tại Hội thảo Đối tác Công - Tư Việt Nam - Nhật Bản về công nghệ năng lượng sạch, các chuyên gia và diễn giả cũng tập trung trao đổi, thảo luận về công nghệ thông minh trong ngành năng lượng tái tạo, trong sử dụng năng lượng hiệu quả...

    • Bổ sung 2 dự án điện rác vào Quy hoạch phát triển Điện lực Quốc gia

      Tại Văn bản số 211/TTg-CN ngày 18/02/2019, dự án Nhà máy điện rác Hậu Giang đặt tại xã Hòa An, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang có quy mô công suất 12 MW, trong đó, giai đoạn 1 công suất 6 MW đưa vào vận hành năm 2019 và giai đoạn 2 công suất 6 MW đưa vào vận hành năm 2024. Nhà máy này đấu nối vào hệ thống điện Quốc gia bằng cấp điện áp 22 kV.

      Dự án Nhà máy Điện rác Phú Thọ tại xã Trạm Thản, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ có quy mô công suất 18 MW, trong đó, giai đoạn 1 công suất 9 MW sẽ đưa vào vận hành năm 2020, giai đoạn 2 công suất 9 MW đưa vào vận hành năm 2026. Nhà máy đấu nối vào hệ thống điện Quốc gia bằng cấp điện áp 110 kV.

      Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan, Ủy ban nhân dân các tỉnh Hậu Giang và Phú Thọ hướng dẫn, quản lý quá trình chuẩn bị đầu tư và đầu tư xây dựng các dự án theo đúng quy định hiện hành của pháp luật về đầu tư xây dựng, đất đai, quản lý chất lượng và bảo vệ môi trường.

      Hiện nay, Việt Nam đã có một số nhà máy điện rác đang hoạt động. Trong đó, Nhà máy Phát điện Gò Cát có công suất 2,43 MW, Nhà máy Xử lý chất thải rắn phát điện Cần Thơ có công suất 6 MW và Nhà máy Xử lý chất thải công nghiệp phát điện tại khu xử lý rác Nam Sơn có công suất 0,6 MW. 

      Giá mua điện rác được quy định tại Thông tư 32/2015/TT-BCT của Bộ Công Thương ngày 8/10/2015 về phát triển dự án và Hợp đồng mua bán điện mẫu áp dụng cho các dự án phát điện sử dụng chất thải rắn. Theo đó, giá mua đối với các dự án phát điện đốt chất thải rắn trực tiếp là 10,05 UScents/kWh. Đối với các dự án phát điện đốt khí thu hồi từ bãi chôn lấp chất thải rắn là 7,28 UScents/kWh. Giá mua điện được điều chỉnh theo biến động của tỷ giá đồng/USD.

    • TP.HCM: Đã lắp đặt hơn 10.382 kWp điện mặt trời áp mái

      Một số công trình tiêu biểu trên địa bàn có thể kể đến như: Nhà máy xử lý nước thải của Công ty CP Đầu tư xây dựng và thương mại Phú Điền (980 kWp); Công ty TNHH Schneider Electric Manufacturing Việt Nam (360 kWp), Công ty CP Dịch vụ Du lịch Phú thọ (259,2 kWp)...

      Dàn pin năng lượng mặt trời áp mái được lắp đặt tại trụ sở Tổng công ty Điện lực TP Hồ Chí Minh

      Riêng Tổng công ty Điện lực TP.HCM (EVNHCMC), tính đến nay đã có 19 đơn vị trực thuộc hoàn tất lắp đặt hệ thống điện mặt trời nối lưới tại trụ sở, với tổng công suất 1.127,9 kWp.

      Hiện nay, Tổng công ty đang triển khai lắp đặt ở 47 trạm biến áp trung gian, với tổng công suất ước tính là 2.658 kWp, dự kiến đưa vào vận hành vào cuối tháng 6/2019.

      Ông Nguyễn Duy Quốc Việt - Phó Tổng giám đốc EVNHCMC cho biết, để có được thành quả này, những năm qua, Tổng công ty đã đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, vận động người dân lắp đặt điện mặt trời áp mái. Không chỉ truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng, EVNHCMC còn tổ chức làm việc với những khách hàng tiềm năng như các cơ quan, trường học, bệnh viện, khách sạn, doanh nghiệp trong khu chế xuất, khu công nghiệp…

      Tổng công ty cũng gửi Thư ngỏ vận động sử dụng điện mặt trời đến khách hàng thông qua các hình thức như qua email, ứng dụng EVNHCMC CSKH, Zalo; trên website của EVNHCMC và website chăm sóc khách hàng; phổ biến cho điện thoại viên để hướng dẫn, tuyên truyền đến khách hàng có nhu cầu tìm hiểu thông tin về điện mặt trời.

      Đồng thời, tổ chức tuyên truyền đến CBCNV trong toàn Tổng công ty hiểu rõ về chủ trương sử dụng điện mặt trời, từ đó góp phần tuyên truyền đến người dân và đóng vai trò tiên phong trong việc sử dụng điện mặt trời.

      Theo “Báo cáo Đánh giá kỹ thuật Tiềm năng năng lượng mặt trời trên mái nhà tại Việt Nam” năm 2017 của Ngân hàng Thế giới - World Bank, tiềm năng điện mặt trời trên địa bàn TP.HCM ước tính là khoảng 6.300 MW. Dù tiềm năng là rất lớn nhưng theo ông Việt, vẫn còn những vướng mắc ảnh hưởng đến việc vận động khách hàng sử dụng điện mặt trời. 

      Cụ thể, hiện ngành Điện vẫn chưa thể ký hợp đồng mua bán điện mặt trời với khách hàng do chưa có hướng dẫn chính thức về cách thức thanh quyết toán cho khách hàng; giá thành lắp đặt 1 kWp điện mặt trời còn cao, trong khi chưa có chính sách hỗ trợ về vốn vay đối với các dự án điện mặt trời và các chương trình hỗ trợ chi phí lắp đặt điện mặt trời cho khách hàng.

      Không chỉ có vậy, hiện nay trên thị trường có rất nhiều doanh nghiệp cung cấp và lắp đặt các hệ thống điện mặt trời với hàng trăm nhãn hiệu, xuất xứ khác nhau mà chưa có đơn vị, tổ chức hỗ trợ xác nhận, dẫn đến tâm lý e ngại, không dám lắp đặt sử dụng điện mặt trời; chưa có tiêu chuẩn kỹ thuật đối với các thiết bị liên quan như tấm pin, khung đỡ, inverter để hạn chế các sản phẩm kém chất lượng lưu thông trên thị trường...

      Để thúc đẩy việc triển khai chương trình điện mặt trời nối lưới trên địa bàn TP.HCM, EVNHCMC cho rằng, các bộ, ngành cần sớm có hướng dẫn cách thức quyết toán lượng điện mặt trời dư phát ngược lên lưới đối với các dự án điện mặt trời nối lưới trên mái nhà; đồng thời đưa việc lắp đặt điện mặt trời áp mái thành 1 yêu cầu bắt buộc đối với các cơ quan hành chính sự nghiệp, đơn vị thụ hưởng ngân sách nhà nước và là một tiêu chí để đánh giá, xếp hạng doanh nghiệp.

      Ngoài ra, Nhà nước cần ban hành tiêu chuẩn kỹ thuật và qui trình đấu nối điện mặt trời trên mái nhà thống nhất chung cho cả nước; ban hành quy định về chi phí kiểm tra, thử nghiệm yêu cầu kỹ thuật nối lưới và danh sách các đơn vị có thể thực hiện công tác này bên cạnh các đơn vị Điện lực...

      Đặc biệt, để khuyến khích người dân, cần có các chương trình hỗ trợ, ưu đãi về tài chính đối với các đơn vị, hộ gia đình lắp đặt điện mặt trời áp mái...

    • Tạo cơ chế khuyến khích phát triển điện mặt trời

      Số liệu của Bộ Công Thương cho thấy, tính đến ngày 18/6/2018, cả nước đã có 100 dự án điện mặt trời quy mô lớn được bổ sung vào quy hoạch điện cấp tỉnh/quốc gia. Riêng dự án điện mặt trời lắp mái là khoảng gần 750 dự án với tổng công suất 11,55 MWp. Tuy nhiên, Bộ cũng cho rằng, quy định hiện hành về khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời vẫn còn gặp một số vướng mắc về quy trình đấu nối; mâu thuẫn với quy định về thuế trong việc bán lại sản lượng điện dư của các dự án điện mặt trời áp mái...

      Gỡ vướng cho vấn đề này, tại Dự thảo Quyết định đề xuất phát triển các dự án điện mặt trời nối lưới với 3 hình thức. Một là, phát triển các dự án điện mặt trời nối lưới được thực hiện theo Quy hoạch phát triển điện lực. Hai là, các dự án điện mặt trời nối lưới công suất trên 50 MWp chưa có trong Quy hoạch phát triển điện lực phải được thực hiện thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, bổ sung vào Quy hoạch phát triển điện lực. Ba là, Bộ Công Thương phê duyệt, bổ sung vào Quy hoạch phát triển điện lực các dự án điện mặt trời có công suất nhỏ hơn hoặc bằng 50 MWp chưa có trong Quy hoạch phát triển điện lực.

      Tháo gỡ vướng mắc về đấu nối dự án điện mặt trời vào hệ thống điện, Dự thảo Quyết định nêu rõ, bên bán điện chịu trách nhiệm đầu tư, vận hành và bảo dưỡng đường dây và trạm biến áp tăng áp (nếu có) từ nhà máy điện của bên bán điện tới điểm đấu nối với lưới điện của bên mua điện.

      Điểm đấu nối do bên bán điện và bên mua điện thỏa thuận theo nguyên tắc là điểm đấu nối gần nhất vào lưới điện hiện có của bên mua điện, đảm bảo truyền tải công suất nhà máy điện của bên bán điện, phù hợp với Quy hoạch phát triển điện lực được duyệt. Trường hợp điểm đấu nối khác với điểm đặt thiết bị đo đếm, bên bán điện chịu phần tổn thất điện năng trên đường dây đấu nối và tổn thất máy biến áp tăng áp của nhà máy. 

      Biểu giá hấp dẫn

      Đặc biệt, khuyến khích đầu tư vào các dự án điện mặt trời nhằm đáp ứng nhu cầu điện phục vụ sinh hoạt, thúc đẩy sản xuất, tại Dự thảo Quyết định, Bộ Công Thương tiếp tục đề xuất biểu giá mua điện của các dự án điện mặt trời trong giai đoạn từ 1/7/2019 đến ngày 30/6/2020.

      Cụ thể, mức giá điện mặt trời vùng 1 đối với dự án điện mặt trời nổi, dự án điện mặt trời mặt đất và dự án điện mặt trời mái nhà (mô hình hộ kinh doanh bán điện và hộ tiêu thụ điện) dao động từ 9,18 - 9,85 UScent/kWh/h (tương đương từ 2.095 - 2.448 đồng/kWh); vùng II từ 7,89 - 8,47 UScent/kWh (tương đương từ 1.802 - 1.933 đồng/kWh; vùng III từ  6,94 - 8,99 UScent/kWh (tương đương 1.697 - 2.052 đồng/kWh). Biểu giá này sẽ được điều chỉnh theo hướng giảm dần trong giai đoạn từ 1/7/2020 đến ngày 30/6/2021.

      Với biểu giá điện đề xuất, ông Trần Viết Ngãi, Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam cho rằng, biểu giá này rất khuyến khích các nhà đầu tư, bởi so với nhiều nước trên thế giới thì đây là mức giá đề xuất hấp dẫn. Ở các nước phát triển thì mức giá trung bình khoảng 5 - 7 UScent/kWh... Ông Ngãi cho rằng, việc tiếp tục xây dựng cơ chế khuyến khích đầu tư dự án điện mặt trời là rất cần thiết trong bối cảnh các nguồn năng lượng hóa thạch hay thủy điện ngày càng cạn kiệt.

      Theo kế hoạch, Quyết định về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2019. Trước đó (năm 2017), nhằm khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời ở Việt Nam, trong đó có ưu đãi về vốn và thuế; ưu đãi về đất cũng như giá bán điện (9,35 UScents/kWh). Chính cơ chế này đã tạo nên một “làn sóng” đầu tư vào các dự án điện mặt trời trong thời gian qua.

    • Nhà máy Điện mặt trời tại Trung tâm Điện lực Vĩnh Tân hòa lưới điện Quốc gia

      Nhà máy Điện mặt trời tại Trung tâm Điện lực Vĩnh Tân đi vào vận hành có ý nghĩa rất lớn trong việc tăng cường nguồn điện cho phụ tải phía Nam

      Nhà máy Điện mặt trời tại Trung tâm Điện lực Vĩnh Tân có công suất lắp đặt là 6,2 MW, tổng mức đầu tư khoảng 100 tỷ đồng. Sau khi đi vào vận hành, sản lượng phát điện dự kiến đạt khoảng 10,5 triệu kWh/năm.

      Công trình được EVNPECC2 triển khai theo phương thức tự thiết kế - mua sắm trang thiết bị - tổ chức thi công, nên Công ty đã chủ động được toàn bộ các khâu, góp phần hoàn thành công trình với chất lượng tốt, tiết kiệm chi phí và về đích sớm hơn 3 tháng so với tiến độ đề ra.

      Đây cũng là công trình nằm trong chiến lược phát triển của EVNPECC2 làm chủ đầu tư xây dựng nhà máy điện từ đây đến năm 2022 với mục tiêu đạt tổng công suất 500 MW.

      Việc EVNPECC2 đưa vào vận hành nhà máy điện mặt trời đầu tiên của tỉnh Bình Thuận trước Tết Nguyên đán Kỷ Hợi có ý nghĩa rất lớn trong việc tăng cường nguồn cấp điện cho phụ tải khu vực và hệ thống, nhất là trong thời gian tới, tình hình cung cấp điện khu vực phía Nam được dự báo có nhiều khó khăn, thách thức. Đồng thời, cũng khẳng định năng lực, trình độ tiên tiến cũng như phát huy nội lực trong nước của lực lượng cán bộ, kỹ sư của EVNPECC2 nói riêng và ngành Điện lực Việt Nam nói chung.

    • Thay đổi cơ chế mua bán điện mặt trời áp mái

      Chính sách mới được kì vọng sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong cơ chế thanh toán giữa bên mua và bên bán điện mặt trời nối lưới

      Quyết định trên sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg ngày 11/4/2017 về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam.

      Trong đó, theo Quyết định mới sửa đổi, bên bán điện thực hiện thanh toán lượng điện năng nhận từ lưới điện theo quy định hiện hành. Bên mua điện thực hiện thanh toán lượng điện năng từ dự án trên mái nhà phát lên lưới điện với giá mua bán điện quy định như đối với dự án điện mặt trời nối lưới.

      Các bên có trách nhiệm thực hiện các quy định của pháp luật hiện hành về thuế và phí.

      Giá mua bán điện đối với dự án trên mái nhà cho năm tiếp theo được xác định trên cơ sở tỷ giá trung tâm của đồng Việt Nam so với đô la Mỹ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố vào ngày công bố tỷ giá cuối cùng của năm trước.

      Trước đó, theo Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg, các dự án trên mái nhà được thực hiện cơ chế bù trừ điện năng (net-metering) sử dụng hệ thống công tơ hai chiều. Trong một chu kỳ thanh toán, lượng điện phát ra từ các dự án trên mái nhà lớn hơn lượng điện tiêu thụ sẽ được chuyển sang chu kỳ thanh toán kế tiếp. Khi kết thúc năm hoặc khi kết thúc hợp đồng mua bán điện, lượng điện phát dư sẽ được bán cho bên mua điện với giá bán điện theo quy định.

      Tính đến cuối năm 2018, trên cả nước đã có khoảng 1.500 khách hàng lắp đặt điện mặt trời áp mái nối lưới, với tổng công suất trên 19.000 kWp. Các khách hàng này đã được ngành Điện lắp đặt công tơ đo đếm hai chiều. Trong đó, TP.HCM là đơn vị đi đầu, với hơn 900 khách hàng lắp đặt điện mặt trời nối lưới, tổng công suất 10.382 kWp.

    • PC Quảng Trị: Trao tặng công trình điện mặt trời áp mái đầu tiên

      Gắn biển tên công trình điện mặt trời áp mái tại Trung tâm Mái ấm tình
      hồng TP. Đông Hà

      Hệ thống điện mặt trời áp mái của Trung tâm Mái ấm tình hồng TP. Đông Hà có công suất 4,32 kWp, sản lượng điện bình quân 18 kWh/ngày. Hệ thống do Trung tâm Sản xuất thiết bị đo điện tử Điện lực miền Trung thiết kế, thi công.

      Tổng giá trị đầu tư toàn hệ thống là 120 triệu đồng, từ nguồn vốn hỗ trợ của Tổng công ty Điện lực miền Trung. Đây là công trình điện mặt trời áp mái đầu tiên được đưa vào sử dụng tại tỉnh Quảng Trị, góp tạo ra nguồn điện năng lượng tái tạo phục vụ tại chỗ, giảm áp lực cho hệ thống điện lưới.

      Tại buổi lễ tiếp nhận hệ thống điện mặt trời áp mái, ông Ngô Quang Mành - Phó Giám đốc Trung tâm Mái ấm tình hồng TP. Đông Hà vui mừng cho biết: Có được năng lượng điện mặt trời, Trung tâm sẽ chủ động được nguồn điện sử dụng phục vụ học tập, vui chơi, sinh hoạt cho các em, đồng thời giảm gánh nặng về chi phí trả tiền điện hàng tháng.

      Công trình này nằm trong chuỗi các hoạt động của tháng “Tri ân khách hàng” năm 2018 do PC Quảng Trị thực hiện.

    • Điện mặt trời "vượt trần"

      Xã hội hóa cung cấp điện

      Đến thời điểm cuối năm 2018, Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) đã ký 54 hợp đồng mua bán điện với các chủ đầu tư với tổng công suất gần 3.000 MW, vượt mục tiêu 850 MW trước 2020 theo Quy hoạch điện VII điều chỉnh. Kết quả này đạt được chỉ sau khoảng một năm giá và các cơ chế mua bán điện được ban hành.

      Không dừng lại ở đó, các dự án mới vẫn tiếp tục được đầu tư phát triển. Mới nhất là việc Bộ Công Thương xin bổ sung thêm 17 dự án điện mặt trời (ĐMT) đã hoàn thành thẩm định vào quy hoạch ĐMT. Các dự án này nằm ở khu vực miền Trung, miền Nam nơi có tiềm năng phát triển. Trong bối cảnh đó, nhiều người tỏ ra lo lắng vì ĐMT phát triển vượt quy hoạch tới 9 lần, hệ thống truyền tải điện đã đầy tải, thậm chí quá tải dẫn đến nguy cơ nhiều dự án ĐMT khi hoàn thành cũng khó được phát điện lên hệ thống.

      Tuy nhiên, ngay chính văn bản của Bộ Công Thương trình Chính phủ về việc bổ sung 17 dự án mới khẳng định việc đấu nối của các dự án vào hệ thống lưới về cơ bản đều đáp ứng khả năng giải tỏa công suất cho các nhà máy. Tuy nhiên, để đấu nối được hiệu quả thì phải xây dựng mới các đường dây 110 kV, trạm biến áp, dây dẫn...

      Đánh giá về sự “bùng nổ” ĐMT trong thời gian qua, ông Huỳnh Kim Tước, Giám đốc Trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ (Sở KH-CN TP.HCM), tỏ ra hồ hởi: Toàn bộ do tư nhân bỏ vốn vào đầu tư, nhà nước không phải tốn một đồng chi phí nào là một thành công rất lớn, rất tốt trong việc xã hội hóa lĩnh vực cung cấp điện. Nó vừa bổ sung nguồn cung vừa giảm áp lực nhu cầu tiêu thụ điện. Việc phát triển ĐMT nói riêng và năng lượng tái tạo nói chung hiện nay ở Việt Nam là hết sức đáng mừng và phù hợp xu thế phát triển chung của thế giới. Chưa kể con số vượt quy hoạch 9 lần nghe "hoành tráng" nhưng theo Quy hoạch điện VII (điều chỉnh), tỷ lệ này rất khiêm tốn.

      Cụ thể, tổng công suất các nhà máy (công suất thiết kế) từ nguồn điện sử dụng năng lượng tái tạo (gồm: Thủy điện nhỏ, điện gió, ĐMT, điện sinh khối) mới chỉ đạt tỷ lệ 9,9%. Nếu trừ các thủy điện nhỏ ra thì tổng nguồn năng lượng tái tạo chỉ khoảng 7%. Nếu tính riêng ĐMT, con số sẽ còn thấp hơn rất nhiều. 

      Điều chỉnh quy hoạch, nâng cấp lưới

      Theo ông Huỳnh Kim Tước, việc mới phát triển đã vướng lưới là do công tác làm quy hoạch, dự báo của chúng ta chưa chính xác, không theo kịp và không nắm bắt được xu thế phát triển. Vì vậy, việc cần làm là quy hoạch lại cho phù hợp. Địa phương nào có tiềm năng, địa phương nào có nhu cầu bao nhiêu phải làm rõ; phải có giải pháp truyền tải từ nơi sản xuất tới nơi tiêu thụ; các bộ ngành trung ương phải giúp đỡ các địa phương làm quy hoạch cũng như hướng dẫn các nhà đầu tư để việc đầu tư được hiệu quả.

      TS Nguyễn Duy Khiêm, Trường ĐH Quy Nhơn (Bình Định), chuyên gia về kỹ thuật điện, nhận xét: Lo ngại lưới điện quá tải cũng có cơ sở vì hiện nay một số địa phương như Ninh Thuận, Bình Thuận phát triển rất mạnh. Nguy cơ lưới điện hấp thụ không hết sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của nhà đầu tư. Ở góc độ này, có 2 cách giải quyết. Thứ nhất, nhà nước đã không phải tốn tiền đầu tư sản xuất điện thì nên đầu tư nâng cấp lưới. Thứ hai, kinh nghiệm của nhiều nước là tạo cơ chế chia sẻ và hài hòa lợi ích của các bên. Theo đó, nhà nước mà đại diện là bên mua điện và nhà đầu tư sản xuất điện cần ngồi lại để xây dựng một cơ chế chung từ các giải pháp kỹ thuật như đấu nối thế nào cho an toàn, hiệu quả. Làm sao bảo đảm lưới điện an toàn hấp thu hết lượng điện, nhà máy vận hành hết công suất. Khi đó, nhà đầu tư sẽ bán điện dễ dàng hơn và nhà nước cũng nâng cấp lưới điện tốt hơn.

      Khẳng định năng lượng tái tạo là điều tất yếu cho an ninh năng lượng, là ngành công nghiệp cần đầu tư và quy hoạch dài hạn 20 - 30 năm, tức đến năm 2035 - 2050, TS Đinh Văn Nguyên, Trung tâm năng lượng biển và tái tạo thuộc Trường ĐH Tổng hợp Cork (Cộng hòa Ireland), nhấn mạnh: Chính sách cho ngành này cần dài hạn và tổng thể dựa trên quy hoạch, khảo sát, dự báo nguồn, tải, lưới, tiêu thụ, nhân lực, chuỗi cung cấp tiêu thụ. Như vậy, năng lượng tái tạo sẽ phát triển.

    • “Nóng” chuyện giải tỏa công suất điện mặt trời

      Ông Nguyễn Đức Cường

      Phóng viên (PV): Mục tiêu của A0 khi công bố khả năng giải tỏa công suất của các nhà máy ĐMT là gì, thưa ông?

      Ông Nguyễn Đức Cường: Công bố này làm minh bạch thông tin và thực trạng của lưới điện, giúp các nhà quản lý và các nhà đầu tư có quyết định chính xác, để các dự án phát huy được hiệu quả; và việc vận hành hệ thống điện quốc gia ổn định, an toàn, kinh tế. Bởi hiện đang có rất nhiều nhà đầu tư ĐMT, nhưng địa bàn xây dựng nhà máy chỉ tập trung vào khu vực có nhiều nắng. Điều này có thể gây quá tải lưới điện.

      Thực tế, các nhà đầu tư đến với khu vực này vào những thời điểm khác nhau, nên thường tạo ra những thắc mắc, tại sao có doanh nghiệp đầu tư vào ĐMT thì được, đến lượt tôi lại bị quá tải? Chưa kể, theo quy định, tháng 6/2019, các nhà máy ĐMT hòa lưới sẽ được hưởng giá mua 9,35 UScent/kWh, thời hạn kéo dài 20 năm. Vì vậy, A0 phải tính toán và thực hiện công khai minh bạch, giúp các nhà đầu tư hiểu được cụ thể, đường dây nào đã đầy tải, quá tải theo các dữ liệu hiện có. Chúng tôi muốn công khai thông tin để các nhà đầu tư và dư luận cùng biết.

      PV: Công bố này liệu có tạo ra một “cuộc chạy đua” mới trong việc hoàn tất các thủ tục phê duyệt dự án, khẩn trương ký PPA không, thưa ông?

      Ông Nguyễn Đức Cường: Nguyên nhân dẫn đến các đường dây bị đầy tải, quá tải như công bố là do thiếu đồng bộ về quy hoạch, thiếu chính sách phát triển năng lượng tái tạo một cách hợp lý, dẫn tới thực tế các nhà đầu tư đổ xô vào làm ĐMT.

      Những PPA ký được ở thời gian trước như kiểu xếp hàng mua vé xem bóng đá khi mà số chỗ ở sân chỉ là có hạn, xếp hàng trước nên mua được, xếp sau hết vé, phải đi về. Bởi vậy, để đáp ứng được nguyện vọng làm ĐMT của các nhà đầu tư tới sau, cần phải nâng cấp lưới.

      Nhưng đầu tư đường dây và trạm biến áp không thể nhanh như làm nhà máy ĐMT. Rất nhiều tuyến đường dây truyền tải hiện giờ còn chưa có trong Quy hoạch điện và sẽ cần trải qua các thủ tục, quy trình về đầu tư theo quy định hiện hành với các bước như, bổ sung quy hoạch - lập dự án - phê duyệt và triển khai xây dựng... mất rất nhiều thời gian.

      PV: Dư luận luôn hiểu rằng, ký được PPA tức là đã được xem xét tới phương án giải toả hết công suất của nhà máy thông qua các đường dây truyền tải hiện có. Đúng vậy không, thưa ông?

      Ông Nguyễn Đức Cường: Thoả thuận đấu nối là một phụ lục của PPA và thường được đàm phán xong trước khi ký PPA chính thức. Thoả thuận đấu nối nhằm đưa ra phương án để giải toả hết công suất và điện năng của cả đời dự án, đánh giá ảnh hưởng của dự án đối với hệ thống điện hiện có, đưa ra giải pháp giảm mức độ ảnh hưởng và cuối cùng là phân định trách nhiệm đầu tư đấu nối.

      PV: Nhiều đường dây ở Ninh Thuận và các vùng lân cận đang đầy tải hoặc quá tải, trong khi Ninh Thuận được phép kéo dài thời gian hoàn thành nhà máy ĐMT đến hết năm 2020, thay vì tháng 6/2019. Liệu có xảy ra tình trạng, không có thêm dự án nào hoàn tất hồ sơ để phát điện thương mại kịp mốc này do không có lưới truyền tải không, thưa ông?

      Ông Nguyễn Đức Cường: Mặc dù ĐMT có cả mặt tích cực lẫn hạn chế trong huy động và vận hành điều độ hệ thống điện, nhưng có thêm nguồn điện nào, dù là nhỏ cũng rất quý, nhất là trong điều kiện khoảng 2 năm gần đây không có nguồn điện lớn mới nào được khởi công, bổ sung cho hệ thống. Bởi vậy, A0 rất cố gắng cân đối, nhưng không dễ với thực trạng lưới truyền tải hiện nay.

      Có ý kiến, nếu quá nhiều nhà máy ĐMT ở khu vực Ninh Thuận, Bình Thuận cùng phát lên lưới và khi không thể truyền tải hết công suất, sẽ giao cho A0 điều độ, giảm công suất các nhà máy ĐMT đến mức phù hợp. Tuy nhiên, sau khi tính toán, A0 thấy rằng, khi cần sẽ phải giảm đồng thời các nhà máy ĐMT đang cùng được đấu vào lưới quá tải, chứ không thể chỉ giảm một vài nhà máy. Như vậy, tất cả các nhà máy ĐMT sẽ đều cùng bị giảm sâu về công suất huy động so với thiết kế. Điều này sẽ làm khó cho nhà đầu tư bởi, họ đã tính toán đầu tư là dài hạn cho 20 năm (cân đối chi phí bỏ ra và thu về), trong khi thực tế không phát điện được như dự tính do lưới điện quá tải.

      PV: Có khi nào khu vực được gia hạn như Ninh Thuận không đủ lưới truyền tải, còn nơi khác lại thừa lưới để truyền tải lại không được gia hạn không, thưa ông?

      Ông Nguyễn Đức Cường: Đúng là sẽ có tình trạng này xảy ra. Bởi hiệu quả của dự án ĐMT phụ thuộc nhiều vào khả năng bức xạ mặt trời tại địa điểm làm dự án, mặt bằng cho dự án... Do đó, có thể lý giải tại sao lưới ở khu vực Ninh Thuận và Bình Thuận đang quá tải với sự tập trung dày đặc của các nhà máy ĐMT. Ngay ở khu vực này cũng có thể có nhà máy tuy đã có PPA, nhưng bước vào triển khai lại khó khăn, không giải phóng được mặt bằng, tiền huy động không đủ, trong khi có nhà máy khác đang chờ ký PPA lại có mặt bằng sạch và có nguồn vốn sẵn sàng để đẩy nhanh tiến độ về đích sớm.

      Người ngoài ngành không hiểu, có thể nghĩ, nếu không đấu nối được vào lưới 110 kV thì chuyển sang nối vào lưới 220 kV thậm chí lên lưới 500 kV vì đường dây đó đi gần nhà máy ĐMT. Tuy nhiên, lưới điện các cấp cũng như quân cờ domino, bởi vì có đấu vào lưới 110 kV thì cũng sẽ có những chỗ phải lên lưới 220 kV và 500 kV để truyền tải đi xa tới nơi tiêu thụ. ĐMT sản xuất tập trung ở miền Trung, nhưng miền Trung không phải là nơi tiêu thụ điện lớn trên cả nước. ĐMT cũng không thể đấu nối vào các phần dành cho điện gió, bởi vị trí điện gió và ĐMT không đồng pha với nhau về mặt vị trí.

      PV: Từ góc độ điều độ hệ thống điện, theo ông, liệu có giải pháp nào giải quyết vấn đề quá tải, đầy tải cho ĐMT không?

      Ông Nguyễn Đức Cường: Rất khó, bởi nguồn và lưới đi với nhau, muốn thêm nguồn thì phải có lưới để tải điện. Trong Quy hoạch điện 7 điều chỉnh, khi phê duyệt chưa tính đến sự xuất hiện của các nhà máy ĐMT cụ thể, mà chỉ mới dự báo tương lai sẽ huy động được mức công suất này từ năng lượng tái tạo. Thực tế, làn sóng đầu tư vào làm ĐMT cũng chỉ diễn ra dồn dập khi có quyết định cho phép giá mua ĐMT tương đương 9,35 UScent/kWh từ tháng 4/2017. 

      Theo nguyên tắc, với sự cấp tập trong đầu tư về ĐMT như thời gian qua, các Tổng công ty điện lực vùng nhận được đề nghị đấu nối cần phải tham khảo ý kiến của công ty truyền tải điện khu vực hoặc Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia, bởi 1 nhà máy nhỏ 50 MW có thể không sao, nhưng 10 nhà máy thì thành 500 MW và cần lưới cao hơn để truyền tải.

      Cũng có tâm lý, cứ thoả thuận đi, nếu quá tải thì giảm. Điều này nghe có vẻ hợp lý, nhưng khi đã ký PPA đại trà thì lại khác, bởi nếu có 1 doanh nghiệp với công suất 200 MW khi quá tải cần giảm huy động 50% thì doanh nghiệp vẫn còn lại 100 MW. Nhưng khi có 10 doanh nghiệp đều ký PPA với công suất lên lưới là 1.000 MW – 2.000 MW mà vẫn lưới đó, chỉ huy động được 100 MW, tất cả đều phải giảm tới 90% công suất phát. Như vậy, mỗi doanh nghiệp có khi chỉ còn 10 MW. Lúc đó, nhà đầu tư chắc chắn không thể chấp nhận.

      Có tình trạng, có những dự án trước đây không chấp nhận ký PPA vì tính toán là không đủ đường truyền tải, nhưng sau đó nhà đầu tư lại đồng ý ký PPA và chấp nhận điều độ giảm khi dư cung. Sau đó, gánh nặng này lại đặt lên vai Điều độ các cấp với suy nghĩ chấp nhận thực trạng có thế thì cứ điều độ đi, giảm cùng giảm, huy động cùng huy động. Tuy nhiên, nói là vậy, chứ đâu phải điều độ dễ như vậy.

      Do đó, A0 cần nhất là số liệu chính xác để điều độ được hệ thống, đặc biệt là tiến độ cụ thể các dự án ĐMT, bởi nếu cứ chủ quan là đã có PPA, nhà đầu tư sẽ xây dựng nhanh, trong khi thực tế có dự án không thể triển khai nhanh được do nhiều nguyên nhân. Nên khi cần huy động theo nhu cầu hệ thống có thể phải đổ dầu vào phát điện thay thế. Điều này khiến giá thành sản xuất điện của cả hệ thống sẽ tăng lên nhanh chóng...

      PV: Trân trọng cảm ơn ông!

    • Tổng kết dự án "Hỗ trợ mở rộng quy mô điện gió tại Việt Nam"

      Trong khuôn khổ của Dự án, GIZ đã hợp tác chặt chẽ với Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo để nghiên cứu, tư vấn và đề xuất với Chính phủ các cơ chế khuyến khích phát triển lĩnh vực điện gió; nâng cao năng lực cho các chủ đầu tư, công ty tư vấn, ngân hàng thương mại, trường đại học, viện nghiên cứu, các cán bộ ở địa phương và trung ương; hỗ trợ các nhà đầu tư, tăng cường các điều kiện về khung pháp lý và quy định.

      Ông Nguyễn Văn Thành - Phó Cục trưởng Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo (Bộ Công Thương) phát biểu tại buổi Lễ.

      Đồng thời, Dự án đã thực hiện các khóa đào tạo về kỹ thuật và tài chính cho cán bộ nhà nước và khối tư nhân, hỗ trợ hợp tác nghiên cứu Việt - Đức về năng lượng gió trong giai đoạn từ 2014 đến 2018, trong khuôn khổ "Sáng kiến công nghệ Khí hậu Đức".

      Một thành công lớn của Dự án là góp phần tư vấn Chính phủ Việt Nam thông qua quyết định về tăng giá điện gió vào tháng 9/2018.

      Ông Nguyễn Văn Thành - Phó Cục trưởng Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo cho biết: Việt Nam đã chuyển từ nước xuất khẩu thành nước nhập khẩu tịnh về năng lượng và mức độ phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu ngày một tăng. Việc giải quyết thiếu hụt về năng lượng sơ cấp, đặc biệt đối với than nhập khẩu từ nước ngoài gặp nhiều khó khăn và tiềm ẩn rủi ro về nguồn cung, giá và công tác vận chuyển.

      “Chính vì vậy, việc khai thác và sử dụng hiệu quả, hợp lý các nguồn năng lượng mới, năng lượng tái tạo có ý nghĩa hết sức quan trọng và mang tính chiến lược xét trên mọi khía cạnh cả về kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, an ninh năng lượng và phát triển bền vững của đất nước", ông Thành nhấn mạnh.

      Ông Thành khẳng định, những hoạt động hỗ trợ của Chính phủ Đức thông qua Dự án này đã góp phần không nhỏ giúp Việt Nam sớm hoàn thành các mục tiêu phát triển bền vững, nhất là hoàn thành các cam kết quốc tế, như: Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đối khí hậu, Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu... Đến nay, Dự án đã được triển khai thành công và hiệu quả.

      Ông Martin Hoppe, Trưởng Phòng Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Đại sứ quán Đức) cho biết: Năm 2013, Chính phủ hai nước đã thống nhất ưu tiên hợp tác phát triển năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện gió. Hiện tại, sau 5 năm triển khai, có nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước đang có ý định đầu tư vào điện mặt trời và điện gió tại Việt Nam. Dự án đã đóng vai trò quan trọng và là chất xúc tác trong việc thúc đẩy các nhà đầu tư đó vào Việt Nam.

      Việt Nam nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa và có hơn 3.000 km đường bờ biển bao quanh, với tiềm năng lý thuyết điện gió trên cả nước ước đạt 27 GW, Việt Nam được coi là quốc gia giàu tiềm năng để phát triển điện gió.

    • Phát triển năng lượng tái tạo: Thách thức trong điều hành hệ thống điện Việt Nam

      Ông Nguyễn Đức Cường

      PV: Khi NLTT phát triển, việc điều hành hệ thống điện sẽ có những thuận lợi, khó khăn gì, thưa ông?

      Ông Nguyễn Đức Cường: Theo Quy hoạch điện VII hiệu chỉnh, đến năm 2020, hệ thống điện Việt Nam sẽ có 800 MW điện gió và 850 MW điện mặt trời và tiếp tục tăng trong những năm tiếp theo. Việc phát triển NLTT đi kèm cơ chế khuyến khích ưu đãi sẽ thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước, qua đó giảm áp lực về việc thu xếp vốn xây dựng các công trình nguồn điện. Đặc biệt, các dự án điện mặt trời, điện gió chủ yếu tập trung ở miền Nam và Nam Trung bộ - khu vực có phụ tải chiếm khoảng 50% cả nước. Vì vậy, phát triển NLTT sẽ góp phần giảm thiếu hụt điện tại miền Nam, tăng cường an ninh cung ứng điện và giảm căng thẳng trong vận hành hệ thống điện.

      Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, NLTT cũng gây không ít khó khăn trong việc điều hành hệ thống điện. Cụ thể, với đặc điểm công suất phát hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn năng lượng sơ cấp mang tính bất định như NLTT, sự ổn định của hệ thống điện nhìn chung sẽ bị ảnh hưởng nếu các nguồn điện truyền thống không kịp thời điều chỉnh theo sự thay đổi công suất của phụ tải và nguồn điện từ NLTT. 

      Theo tính toán, hệ số sử dụng công suất của các nguồn NLTT (gió, mặt trời) tại Việt Nam chỉ khoảng 18-20%, thấp hơn đáng kể so với nguồn nhiệt than khoảng 75% và thủy điện khoảng 40-50%. Ngoài ra, nếu NLTT tham gia sâu vào hệ thống, việc vận hành sẽ gặp những thách thức sau: Chất lượng điện năng cũng có xu hướng xấu đi, hiện tượng điện áp nằm ngoài ngưỡng quy định sẽ tăng thêm, đặc biệt tại các khu vực tập trung nhiều nguồn và cách xa trung tâm phụ tải, quá trình mất cân bằng trong hệ thống có xu hướng xảy ra nhanh và mạnh hơn. 

      Trong 3-5 năm tới, sự phát triển của các dự án điện mặt trời cũng có thể vượt quá khả năng mang tải của lưới điện hiện có. Giới hạn vận hành của thiết bị tại các khu vực có tiềm năng điện mặt trời lớn như Ninh Thuận, Bình Thuận, Phú Yên, Khánh Hoà… sẽ liên tục bị vi phạm, gây bất ổn hệ thống, nguy hiểm cho thiết bị và phát sinh nhiều vấn đề về kĩ thuật mà các cấp điều độ phải xử lý.

      PV: Cần phải làm gì để “hóa giải” những khó khăn, thách thức trên, thưa ông?

      Ông Nguyễn Đức Cường: Một trong các thách thức lớn nhất trong vận hành nguồn NLTT là tính bất ổn của công suất phát. Để có thể giảm nhẹ ảnh hưởng này, Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã giao A0 xây dựng hệ thống dự báo năng lượng tái tạo ngắn hạn. Hệ thống sẽ dự báo được công suất phát của các nguồn NLTT dựa trên các thông tin về dự báo khí tượng thủy văn, thời tiết, đặc tính vận hành và thời gian hoạt động thực tế của các nhà máy NLTT. Từ kết quả này, A0 sẽ có các phương án chủ động lập kế hoạch huy động nguồn điện NLTT và kế hoạch huy động các nguồn hỗ trợ khác để điều khiển tần số hệ thống điện. Nếu làm tốt việc dự báo, hệ thống điện sẽ được vận hành ổn định, an toàn và kinh tế.

      PV: Việc xây dựng hệ thống dự báo năng lượng tái tạo có gặp nhiều khó khăn không, thưa ông?

      Ông Nguyễn Đức Cường: Đây là hệ thống hoàn toàn mới, A0 chưa có nhiều kinh nghiệm, công tác triển khai cũng gặp rất nhiều thử thách. Bên cạnh đó, ngoài nỗ lực của A0, cần có sự tham gia của các đơn vị khác như, đơn vị cung cấp dịch vụ dự báo khí tượng có chất lượng cao, đảm bảo độ tin cậy, đơn vị sở hữu nhà máy NLTT...

      Hiện nay A0 đang tích cực trao đổi, học hỏi kinh nghiệm quốc tế và khu vực về dự báo NLTT; cử các chuyên viên, kỹ sư tham gia hội nghị, hội thảo và các lớp đào tạo chuyên sâu về dự báo; kết nối với các nhà cung cấp giải pháp, cơ sở hạ tầng dự báo công suất NLTT để tìm hiểu và đặt vấn đề xây dựng hệ thống dự báo tại cơ quan A0.

      Đồng thời, A0 cũng chủ động xây dựng yêu cầu kỹ thuật triển khai dự báo, tìm kiếm các đơn vị cung cấp dịch vụ dự báo khí tượng trong và ngoài nước, đảm bảo có thể cung cấp thông tin dự báo bức xạ, nhiệt độ, tốc độ gió… phục vụ lập kế hoạch và điều độ hệ thống điện; kiến nghị Tập đoàn, Cục Điều tiết Điện lực, Bộ Công Thương về việc điều chỉnh, bổ sung các Thông tư, quy trình, quy định về nghĩa vụ đầu tư hệ thống quan trắc, dự báo, bổ sung danh mục các tín hiệu cần cung cấp về các cấp Điều độ.

      PV: Với tính bất ổn nguồn phát của NLTT, việc xây dựng hệ thống dự báo NLTT đã đủ để đảm bảo hệ thống điện quốc gia được vận hành an toàn, ổn định chưa, thưa ông?

      Ông Nguyễn Đức Cường: Đây chỉ là một trong những yếu tố cần thiết để Điều độ quốc gia chủ động trong việc lập kế hoạch huy động nguồn điện tại từng thời điểm. Tuy nhiên, để vận hành hệ thống điện an toàn, ổn định và kinh tế khi NLTT phát triển, còn rất nhiều việc phải làm.

      A0 cũng đang tập trung kiện toàn quy định và tổ chức điều khiển tần số hệ thống điện hiện tại. Cụ thể, đề xuất Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Cục Điều tiết Điện lực cập nhật phương pháp luận xác định lượng công suất điều tần và dự phòng quay, theo hướng có tính toán cụ thể và chi tiết hơn cho các chế độ vận hành lưới điện; rà soát hiện trạng điều khiển tần số trên hệ thống, phối hợp với các đơn vị phát điện toàn quốc thí nghiệm hiệu chỉnh hệ thống tự động điều khiển tần số, điện áp; yêu cầu cài đặt thông số và đưa vào vận hành.

      A0 cũng tiến hành nghiên cứu các phương án điều khiển tần số, điện áp mới trên hệ thống điện để hỗ trợ tích hợp năng lượng tái tạo. Hiện nay, chúng tôi đang phối hợp với Cơ quan Thương mại và Phát triển Hoa Kỳ nghiên cứu các hệ thống tích trữ năng lượng... tiếp tục đẩy mạnh đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; nghiên cứu, học tập kinh nghiệm của các nước trên thế giới có nguồn NLTT phát triển.

      PV: Cùng với nỗ lực của ngành Điện nói chung, A0 nói riêng, theo ông, Nhà nước cũng như chủ đầu tư cần phải làm gì trong việc đảm bảo an ninh hệ thống điện khi NLTT đi sâu trong hệ thống?

      Ông Nguyễn Đức Cường: Các chủ đầu tư cần tuân thủ các tiêu chuẩn quy định trong việc lựa chọn thiết bị đầu tư nhà máy điện mặt trời. Đồng thời, phối hợp chặt chẽ với các cấp điều độ trong việc thoả thuận kỹ thuật, đóng điện điểm đấu nối, thử nghiệm nghiệm thu và vận hành thương mại. Đặc biệt, cần lựa chọn các khu vực có khả năng giải toả công suất để phát triển dự án...

      Với các cơ quan nhà nước, cần sớm ban hành quy hoạch phát triển điện mặt trời cấp quốc gia, trong đó cần xem xét kỹ các vấn đề về khả năng giải toả công suất, các yêu cầu kỹ thuật đi kèm cơ chế khuyến khích, tỷ trọng NLTT phù hợp, đảm bảo hệ thống vận hành an toàn, ổn định và hiệu quả.

      PV: Xin cảm ơn ông! 
        

    • Sử dụng năng lượng điện mặt trời áp mái: Có khả thi với doanh nghiệp chế biến thủy hải sản?

      Những tấm pin năng lượng mặt trời đã được lắp đặt tại Nhà máy đông lạnh thủy sản IDI 

      Theo kết quả nghiên cứu của Trung tâm Tiết kiệm năng lượng TP.HCM (ECC HCMC), trong chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản, chi phí năng lượng, đặc biệt là điện năng xếp thứ 3, chỉ sau chi phí nguyên liệu và công lao động. Riêng lĩnh vực nuôi tôm, chi phí năng lượng chiếm hơn 9% tổng chi phí. 

      Thực tế tại các doanh nghiệp chế biến thủy sản, mức tiêu thụ điện trung bình cho các hoạt động chế biến thủy sản dao động từ 57 - 2.129 kWh/tấn nguyên liệu và 324 - 4.412 kWh/tấn sản phẩm; trong đó, mức tiêu thụ điện cho hệ thống đông lạnh là lớn nhất, chiếm tới 70%. 

      Thời gian qua, với sự tư vấn, hỗ trợ của ngành Điện, các doanh nghiệp thủy sản đã thực hiện nhiều giải pháp tiết kiệm điện. Tuy nhiên, các giải pháp này mới chỉ chủ yếu tập trung vào khâu ánh sáng, điều hòa không khí...; trong khi đó, năng lượng phục vụ sản xuất, chế biến và bảo quản kho lạnh mới chiếm tỉ trọng đáng kể. 

      Tại Hội thảo về sử dụng điện mặt trời áp mái cho các kho lạnh và lĩnh vực chế biến thủy hải sản Việt Nam mới đây, các chuyên gia quốc tế đến từ Cơ quan Hợp tác quốc tế Đức (GIZ) cho biết, một trong những giải pháp hữu hiệu là sử dụng năng lượng điện mặt trời. Các doanh nghiệp có thể tận dụng mái nhà xưởng, tòa nhà văn phòng, thậm chí là bãi xe... lắp đặt tấm pin mặt trời. Điều này không những giúp bảo vệ môi trường, giảm phát thải khí CO2, giảm áp lực cho hệ thống điện quốc gia, mà còn tận dụng năng lượng mặt trời cung cấp nguồn điện cho sản xuất. 

      Điều quan trọng là hiện nay, chi phí đầu tư lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái đang ngày càng rẻ hơn. Đặc biệt, khu vực miền Trung (từ Quảng Trị đến Phú Yên) và miền Nam - nơi ngành chế biến thủy hải sản phát triển mạnh, lại có tiềm năng lớn về năng lượng mặt trời. Riêng khu vực miền Nam, nắng quanh năm, nhất là trong các tháng 1, 3, 4 thường có nắng từ 7h sáng đến 17h. Cường độ bức xạ trung bình thường lớn hơn 3,489 kcal/m2/ngày, rất phù hợp để phát triển điện mặt trời áp mái. 

    • Thêm 2 hợp đồng mua bán điện mặt trời được ký kết

      Dự án Nhà máy Điện mặt trời Phong Điền 2 do Công ty CP Đầu tư Đoàn Sơn Thủy đầu tư xây dựng tại thôn Lương Mai, xã Phong Chương, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Dự án có tổng công suất 50 MW, điện năng sản xuất hằng năm gần 68 triệu kWh.

      Ông Nguyễn Danh Sơn - Giám đốc Công ty Mua bán điện và bà Trần Thị Hương Hà - Giám đốc Công ty CP Đầu tư Đoàn Sơn Thủy ký hợp đồng mua bán đối với dự án điện mặt trời Phong Điền 2

      Dự án Nhà máy Điện mặt trời đầm Trà Ổ do Công ty CP Năng lượng tái tạo Việt Nam đầu tư. Nhà máy đặt tại xã Mỹ Châu, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định, công suất 50 MW, sản lượng điện năng sản xuất trong năm tối đa trên 78 triệu kWh. 

      Cả 2 nhà máy dự kiến đưa vào vận hành cuối tháng 5/2019. 

      Giám đốc Công ty CP Năng lượng tái tạo Việt Nam (bên phải) và Giám đốc EVNEPTC trao biên bản ký kết

      Giá mua điện trong các hợp đồng đã ký tuân thủ quy định tại Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg ngày 11/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam.

      Cụ thể, EVNEPTC sẽ mua điện tại điểm giao nhận điện với giá 2.086 đồng/kWh, áp dụng cho phần nhà máy điện mặt trời nối lưới vận hành thương mại trước ngày 30/6/2019 (áp dụng 20 năm kể từ ngày vận hành thương mại).

    • Đến Ninh Thuận, “hóng” chuyện điện gió

      Biến gió thành điện

      Theo kết quả nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, Ninh Thuận là khu vực có tiềm năng phát triển điện gió lớn nhất cả nước. Tốc độ gió trung bình ở độ cao 65m, đạt 7,25 m/s, bảo đảm cho turbin gió phát điện ổn định. Chia sẻ với chúng tôi, lãnh đạo tỉnh Ninh Thuận cho biết, lợi thế này đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà đầu tư.

      Đến thăm dự án Điện gió Đầm Nại (công suất 40 MW) tại huyện Ninh Hải và Thuận Bắc do Công ty cổ phần Điện gió Đầm Nại làm chủ đầu tư, chúng tôi được biết, hiện 3 turbin, tổng công suất hơn 6 MW đã được đưa vào hoạt động. Dự kiến, toàn bộ dự án sẽ hoàn thành trong năm 2018. Nay mai, những “cối xay gió” này sẽ biến gió thành điện. Ngoài Đầm Nại, các dự án khác cũng đang được thực hiện khẩn trương để đưa gió thành nguồn năng lượng mới, phát điện trong năm 2018.

      Với dự án Điện gió Trung Nam, ông Trần Đức Xuyên, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Điện gió Trung Nam, cho biết: “Sau khi giai đoạn 1, Công ty đã quyết định đầu tư gần 9.000 tỷ đồng triển khai kết hợp giữa điện gió và điện mặt trời tại xã Bắc Phong, Lợi Hải, huyện Thuận Bắc. Dự kiến tháng 6/2019, công trình sẽ hoàn thành, với 40 trụ điện gió và 700.000 tấm pin năng lượng mặt trời… Đây là dự án năng lượng tái tạo kết hợp gió và mặt trời với tổng công suất 309,75 MW, lớn nhất và lần đầu tiên xây dựng tại Việt Nam”.

      Ảnh minh họa

      Hiện thực hóa giấc mơ...

      Theo quy hoạch phát triển điện gió tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2015 - 2020 tầm nhìn 2030 đã được Bộ Công Thương phê duyệt, tỉnh sẽ phát triển các dự án điện gió, với tổng công suất 1.429 MW. Tỉnh Ninh Thuận đang tập trung đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để các nhà đầu tư được hưởng ưu đãi theo khung quy định của Chính phủ.

      Tôi hiểu rằng, Ninh Thuận đang trải thảm đỏ cho các nhà đầu tư điện gió. Có thể kể đến một số ưu đãi cụ thể như: Chủ đầu tư dự án được miễn tiền thuê đất, được áp dụng thuế suất thu nhập doanh nghiệp 10% trong suốt quá trình thực hiện dự án; được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo. Đồng thời, được miễn thuế nhập khẩu đối với vật tư, thiết bị nhập khẩu...

      Ông Phạm Văn Hậu - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận cho biết, ngày 31/8/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 115/NQ-CP về thực hiện một số cơ chế, chính sách đặc thù hỗ trợ tỉnh Ninh Thuận phát triển kinh tế - xã hội, ổn định sản xuất, đời sống nhân dân giai đoạn 2018-2023. Tiềm năng lớn, lại có những cơ chế chính sách hỗ trợ đặc thù của Chính phủ, Ninh Thuận đã thực sự sẵn sàng trở thành trung tâm điện gió nói riêng và năng lượng tái tạo nói chung của cả nước.

      Cũng theo ông Phạm Văn Hậu, Ninh thuận ưu tiên các nhà đầu tư có năng lực, kinh nghiệm, công nghệ hiện đại và có quyết tâm cao nhất thực hiện các dự án năng lượng tái tạo trên địa bàn. Trong thời gian tới, UBND tỉnh tiếp tục chỉ đạo các Sở, ban ngành phối hợp với các nhà đầu tư giải quyết những vướng mắc còn tồn đọng về thủ tục đầu tư, giải phóng mặt bằng. Các dự án điện gió, điện mặt trời sau khi đi vào hoạt động thương mại sẽ đóng góp rất lớn, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia; đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội của địa phương.

      “Hóng” chuyện điện gió ở Ninh Thuận, tôi tin rằng, vùng đất đầy nắng đầy gió này đã, đang thực sự biến khó khăn trở thành lợi thế. 

      Ninh Thuận:

      - Có 14 vùng gió tiềm năng với khoảng 8.000 ha, tập trung chủ yếu ở các huyện Thuận Bắc, Thuận Nam và Ninh Phước, lượng gió tốc độ trung bình từ 6,4-9,6 m/s, đảm bảo turbin gió hoạt động ổn định.

      - Hiện có 15 dự án điện gió được chấp thuận chủ trương khảo sát, lập luận chứng kinh tế kỹ thuật. Trong đó, 12 dự án đã được phê duyệt đầu tư với tổng công suất 744,75 MW.

    • Việt Nam: “Miền đất hứa” phát triển điện gió

      Ông Ti Chee Liang

      PV: Thưa ông, UBND tỉnh Trà Vinh vừa đồng ý chủ trương cho phép Janakuasa/Ecotech triển khai 2 dự án điện gió tại địa phương. Xin ông cho biết, vì sao Công ty lại lựa chọn đầu tư vào lĩnh vực điện gió - một lĩnh vực còn khá mới ở Việt Nam?

      Ông Ti Chee Liang: Có 2 lý do chính. Thứ nhất, năng lượng xanh là xu thế phát triển trên thế giới. Có nhiều trang trại điện gió và điện mặt trời đã được xây dựng tại các nước châu Âu. Năng lượng xanh ngày càng góp phần quan trọng vào việc bảo vệ môi trường sống. Thế giới hiện nay đã sử dụng xe điện thay thế xe sử dụng xăng, dầu trong giao thông đường bộ và Công ty Sản xuất xe điện Tesla là một trong những công ty có giá trị nhất thế giới.

      Thứ hai, khi nền kinh tế phát triển và nhu cầu sử dụng năng lượng ngày càng lớn, việc bổ sung nguồn năng lượng xanh, sạch, ngày càng trở nên cấp thiết hơn. Janakuasa mong muốn trở thành một trong những doanh nghiệp đi đầu hỗ trợ Việt Nam phát triển nền kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực năng lượng xanh.

      PV: Những khó khăn khi đầu tư dự án điện gió là gì, thưa ông?

      Ông Ti Chee Liang: Tôi phải thừa nhận rằng, về mặt kỹ thuật, các dự án nhà máy điện rất phức tạp, đòi hỏi phải tuân thủ các quy định nghiêm ngặt về hệ thống điện quốc gia. Mặt khác, dự án điện có suất đầu tư rất lớn, các yêu cầu về thủ tục pháp lý, hành chính cũng rất chặt chẽ. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, chúng tôi rất biết ơn tỉnh Trà Vinh đã thẩm định và giúp rút ngắn quá trình thực hiện các thủ tục hành chính, tạo điều kiện để hai bên cùng đạt được tiến độ của dự án.

      Cùng với đó, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) là bên mua điện, có rất nhiều kinh nghiệm và trình độ quản lý các dự án quy mô lớn đã tích cực hỗ trợ đẩy nhanh tiến độ thực hiện các thủ tục pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi để đàm phán thành công hợp đồng mua bán điện.

      PV: Chính phủ Việt Nam vừa có Quyết định về điều chỉnh giá điện gió từ 7,8 Uscents/kWh lên 8,5 Uscents đối với dự án trên đất liền và 9,8 Uscents đối với các dự án trên  biển. Ông đánh giá thế nào về sự điều chỉnh này?

      Ông Ti Chee Liang: Chúng tôi cho rằng, mức giá mua điện gió 7,8 Uscents trước đây là khá thấp, khó hấp dẫn, thu hút các nhà đầu tư. Nhưng Chính phủ Việt Nam đã kịp thời điều chỉnh giá điện. Với mức giá điều chỉnh vừa qua, tôi thấy là hợp lý và có thể tiếp tục đầu tư các dự án điện gió khác ở Việt Nam.

      PV: Nhiều người dân địa phương lo ngại, các dự án điện gió sẽ làm ảnh hưởng xấu đến môi trường như chiếm đất, chiếm biển… Công ty sẽ giải quyết vấn đề này như thế nào?

      Ông Ti Chee Liang: Điện gió là một trong nguồn năng lượng sạch nhất do không phát sinh khí thải, gây ô nhiễm môi trường. Lưu lượng gió rất phong phú và là nguồn vô tận. Các trang trại điện gió chỉ có tác động một phần nhỏ về môi trường, khi cánh quạt gió va quệt vào đàn chim bay trên trời, hoặc gây ra tiếng ồn tần số thấp do tua-bin gió hoạt động. Những vấn đề này đã được các nước phát triển mạnh về điện gió ở châu Âu nghiên cứu kỹ và chúng tôi sẽ đưa những giải pháp và công nghệ đã được kiểm chứng vào trang trại điện gió Trà Vinh.

      Một số lập luận cho rằng, xây dựng điện gió ngoài khơi ảnh hưởng đến đánh bắt hải sản? Thực tế nghiên cứu cho thấy, trang trại điện gió ngoài khơi còn làm tăng quần thể cá do tua bin gió có vai trò như các rạn san hô nhân tạo.

      Là nhà đầu tư phát triển dự án điện gió, chúng tôi rất thận trọng với những ảnh hưởng đối với môi trường. Chúng tôi đã thuê các tư vấn chuyên nghiệp tiến hành lập báo cáo đánh giá tác động môi trường và xã hội trong khu vực phát triển dự án. Kinh nghiệm của các dự án điện gió trên thế giới cho thấy, tác động môi trường từ điện gió là rất ít so với các công nghệ phát điện khác.

      PV: Công ty đã nghiên cứu và đưa ra giải pháp kỹ thuật như thế nào liên quan đến nối lưới điện quốc gia tại Việt Nam, thưa ông?

      Ông Ti Chee Liang: Chúng tôi hiểu rằng, các thông số kỹ thuật khi đấu nối điện gió vào lưới điện quốc gia sẽ có nhiều khó khăn, thách thức với 3 lý do chính: Dao động công suất, tần số; thay đổi về tốc độ gió làm tăng hoặc giảm sản lượng điện; điện áp cao hoặc thấp đột ngột có thể gây ra nhảy thiết bị bảo vệ lưới điện.

      Tuy nhiên, những vấn đề này không phải là mới mà đã được giải quyết xong tại các trang trại điện gió lớn ở các nước châu Âu. Chúng tôi dự định tận dụng kinh nghiệm và kiến thức trên thế giới của Janakuasa (Singapore) và Ratchaburi (Thái Lan), là bên có quyền truy cập vào các giải pháp đã thử nghiệm tốt ở các nước châu Âu và áp dụng vào trang trại điện gió Trà Vinh.

      Đấu nối vào lưới điện quốc gia sẽ là vấn đề phức tạp nếu quốc gia đó không có quy hoạch phát triển điện lực đầy đủ. Chúng tôi hiểu rằng, Việt Nam đã nghiên cứu một cách cẩn trọng các tác động tiêu cực từ các dự án năng lượng tái tạo khi đấu nối vào hệ thống điện quốc gia. Khi thực hiện các dự án, chúng tôi sẽ tính toán kỹ các thông số kỹ thuật, bảo đảm an toàn khi đấu nối.

      PV: Trân trọng cảm ơn ông!

      Dự án Điện gió Hiệp Thạnh:

      - Chủ đầu tư: Công ty cổ phần năng lượng tái tạo Ecotech Việt Nam; Công ty Janakuasa Pte LTD (Singapore)

      - Địa điểm xây dựng: Xã Hiệp Thạnh, thị xã Duyên Hải

      - Công suất thiết kế: 78MW (với 18 - 19 cột tua bin gió)

      - Tổng vốn đầu tư: Gần 3.370 tỷ đồng. 

      - Dự kiến hoàn thành: Năm 2020.

    • Dự án điện gió: Vì sao đăng ký nhiều, thực hiện ít?

      TS. Mai Duy Thiện

      PV: Ông đánh giá như thế nào về sự phát triển của điện gió tại Việt Nam thời gian qua?

      TS. Mai Duy Thiện: Việt Nam có tiềm năng rất lớn về điện gió. Tuy nhiên, đến nay, điện gió vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Bởi từ trước tới nay, nước ta đã quen với nguồn năng lượng truyền thống. Phải đến Quy hoạch điện VII trở đi, Việt Nam mới đề cập nhiều đến năng lượng tái tạo (NLTT), trong đó có điện gió. Vì là nguồn năng lượng mới, nên cơ chế, chính sách… về điện gió vẫn còn chưa hoàn thiện, gây vướng mắc, khó khăn cho các chủ đầu tư.

      Ví dụ, Việt Nam chưa có cơ chế ưu tiên vay vốn với lãi suất ưu đãi cho các dự án điện gió; thủ tục triển khai các dự án vẫn còn nhiều vấn đề, phải qua rất nhiều cấp như: Địa phương cấp đất, duyệt dự án; Bộ Công Thương duyệt quy hoạch; thủ tục đấu nối do EVN thực hiện...

      Tiềm năng gió của Việt Nam là rất lớn, nhưng chỉ có thể phát triển tại các địa phương từ Quảng Bình trở vào phía Nam, còn ở phía Bắc, thường xuyên có bão, độ ổn định của gió thấp.

      PV: Có ý kiến cho rằng, thời gian qua chưa nhiều nhà đầu tư tham gia vào lĩnh vực điện gió là do giá điện gió chưa hấp dẫn. Quan điểm của ông về vấn đề này?

      TS. Mai Duy Thiện: Đúng vậy! Trước khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 39/2018/QĐ-TTg vào ngày 10/9/2018 về cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện gió tại Việt Nam, giá điện gió ở Việt Nam chỉ ở mức 7,8 cent/kWh, quá thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Trong khi vốn đầu tư các dự án điện gió rất lớn, khoảng 2-2,5 triệu USD/MW, do hầu hết các thiết bị, công nghệ đều phải nhập khẩu từ nước ngoài. Giá bán thấp, vốn đầu tư lớn, dẫn đến lợi nhuận thấp, thời gian thu hồi vốn kéo dài, nhà đầu tư khó thu xếp vốn vay ngân hàng.

      Tuy nhiên, với mức giá điện gió vừa được tăng lên theo Quyết định số 39/2018/QĐ-TTg (giá điện gió các dự án trên đất liền 8,5 Uscents/kWh, dự án điện gió trên biển lên 9,8 Uscents/kWh), chắc chắn lĩnh vực điện gió sẽ thu hút được nhiều các nhà đầu tư hơn trong thời gian tới.

      PV: Trong số những nhà đầu tư đã đăng kí đầu tư vào điện gió, thì hiện số dự án đã triển khai vẫn chỉ đếm trên đầu ngón tay. Nguyên nhân do đâu, thưa ông?

      TS. Mai Duy Thiện: Trước tiên phải kể đến năng lực của nhà đầu tư. Điện gió là một lĩnh vực mới ở Việt Nam, có hàm lượng khoa học công nghệ rất cao. Nhiều nhà đầu tư có nguồn lực tài chính nhưng lại chưa đủ trình độ về công nghệ triển khai và quản lý dự án. Ngược lại, nhiều nhà đầu tư đủ năng lực về công nghệ, lại không huy động được nguồn tài chính. Có nhà đầu tư đủ năng lực, nhưng giá điện gió trước đây quá thấp, nên đang “nghe ngóng”, chờ khi giá điện gió phù hợp sẽ triển khai dự án...

      Ngoài ra, cũng có một số nhà đầu tư ảo, thấy Nhà nước có chủ trương phát triển điện gió, nhiều ưu đãi về thuế đất, thì đăng kí dự án, nhưng không đủ năng lực triển khai; chờ khi giá điện gió tăng sẽ chuyển nhượng dự án cho nhà đầu tư khác…

      PV: Theo ông, cần phải làm gì để “loại” những nhà đầu tư ảo, năng lực kém khi phê duyệt các dự án điện gió?

      TS. Mai Duy Thiện: Tôi cho rằng, Nhà nước, chính quyền các địa phương cần phải xem xét, cân nhắc kỹ lưỡng hơn năng lực của các nhà đầu tư khi phê duyệt dự án, tránh đầu tư vào điện gió trở thành phong trào ảo, tính thực tiễn không cao. Đồng thời, tránh hiện tượng các nhà đầu tư kém năng lực chiếm dự án, còn các nhà đầu tư có năng lực lại mất cơ hội... Ví dụ, khi nhà đầu tư nước ngoài vào khảo sát, đến đâu cũng thấy đã có dự án, nhưng đều là dự án treo.

      Ngoài ra, rất cần rà soát lại một cách tổng thể các dự án đầu tư, từ cấp địa phương cho đến cấp Trung ương, nhà đầu tư nào thực sự có khả năng thì tiếp tục cho đầu tư; kiên quyết thu hồi dự án của những nhà đầu tư ảo, không có năng lực.

      PV: Ở góc độ điều hành hệ thống điện, nhiều người cho rằng, NLTT nói chung, điện gió nói riêng, độ ổn định không cao sẽ ảnh hưởng đến độ tin cậy cung cấp điện. Ý kiến của ông về vấn đề này?

      TS. Mai Duy Thiện: Với thực tế nguồn điện của nước ta hiện nay, nếu NLTT tham gia quá sâu, rất dễ dẫn đến việc mất an ninh năng lượng. Do vậy, cần phải có lộ trình cụ thể, từng bước, nghiên cứu đưa tỉ lệ NLTT phù hợp vào lưới điện ở từng giai đoạn cụ thể.

      Bên cạnh đó, EVN nói riêng, ngành Điện Việt Nam nói chung cần phải nâng cao năng lực dự phòng, đảm bảo bù đắp nhanh, kịp thời khi sản lượng điện từ NLTT sụt giảm.

      Về lâu dài, khi NLTT tham gia sâu hơn vào hệ thống điện, cần phải nâng cao năng lực của hệ thống điều độ; đầu tư công nghệ, kiểm soát, tính toán được nguồn NLTT trên lưới trong từng thời điểm, từng khu vực, để có giải pháp vận hành hệ thống điện ổn định, đảm bảo an ninh năng lượng… Hiện nay, nhiều nước trên thế giới cũng đã nghiên cứu sâu về điều khiển mạng lưới điện thông minh khi NLTT chiếm tỉ trọng lớn trong hệ thống điện. Việt Nam có thể tham khảo, phối hợp với các chuyên gia nước ngoài để tiếp cận công nghệ này.

      PV: Từ thực tế của Việt Nam, ông có khuyến nghị gì góp phần thúc đẩy điện gió phát triển trong thời gian tới?

      TS. Mai Duy Thiện: Yếu tố quan trọng nhất là giá điện gió, đã được Thủ tướng Chính phủ chỉnh sửa, thay với mức giá mới hợp lý hơn, hấp dẫn các nhà đầu tư hơn. Tuy nhiên, để thúc đẩy điện gió phát triển, ngoài giá điện, Nhà nước cần cơ chế ưu đãi về vốn, lãi suất, thủ tục hành chính... tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư.

      Cùng với đó khi phê duyệt quy hoạch, cần sự phối hợp chặt chẽ giữa địa phương và ngành Điện. Bởi nếu địa phương cấp phép ồ ạt, không phù hợp với quy hoạch của lưới điện truyền tải, chắc chắn dự án đó sẽ gặp khó khăn khi phát lên lưới điện...

      PV: Trân trọng cảm ơn ông!

    • Năng lượng tái tạo cho khu vực chưa có điện lưới: Có khả thi

      Đến nay, Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã hoàn thành cấp điện cho 100% số xã trên cả nước, với tỷ lệ hộ dân nông thôn được sử dụng điện đạt gần 99%. Với thành quả này, Việt Nam cũng được Ngân hàng Thế giới đánh giá là quốc gia thực hiện thành công và đạt hiệu quả cao về đầu tư điện nông thôn. Thực tế, tỉ lệ người dân được sử dụng điện tại Việt Nam đã cao hơn một số quốc gia trong khu vực có điều kiện kinh tế bằng hoặc khá hơn như Indonesia, Philipines, Malaysia...

      Hiện trên cả nước còn hơn 1% số hộ dân chưa được sử dụng điện, hầu hết các hộ dân này đều ở các thôn, bản đặc biệt khó khăn, bị cô lập về địa hình và nằm quá xa lưới điện quốc gia. Vì vậy, việc hoàn thành mục tiêu đến năm 2020, hầu hết số hộ dân nông thôn trên cả nước sẽ được sử dụng điện theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ trong Chương trình cấp điện nông thôn, miền núi và hải đảo giai đoạn 2013 - 2020 (Chương trình 2081) vẫn còn gặp không ít khó khăn, thách thức. Đó là chưa kể, ở những khu vực này, dân cư thường sống rải rác, không tập trung, nên suất đầu tư cho một hộ dân khi kéo điện lưới quốc gia rất cao, trong khi mức tiêu thụ điện năng lại quá ít, doanh thu bán điện thấp...

      Ảnh minh họa

      Trước thực trạng này, nhiều chuyên gia cho rằng, việc ứng dụng các nguồn năng lượng tái tạo phân tán, độc lập, không nối lưới cho những vùng sâu, vùng xa chưa có điện lưới có thể là một trong những giải pháp phù hợp. Dẫn chứng cụ thể, bà Ngụy Thị Khanh - Giám đốc Trung tâm Sáng tạo xanh (Green ID) cho biết, Green ID đã triển khai 2 mô hình năng lượng tái tạo không nối lưới ở Đắk Lắk, An Giang. Đó là mô hình hệ thống cấp điện mặt trời mini không nối lưới tại bản Erot - một bản xa xôi, hẻo lánh của xã Cư Pui, huyện Krongbong, tỉnh Đắk Lắk (cấp điện cho 23 hộ gia đình, 1 nhà thờ và 1 hệ thống cấp nước uống tinh khiết); và mô hình “Ấp sử dụng 100% tấm pin năng lượng mặt trời” xã An Hảo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang (lắp đặt pin năng lượng mặt trời độc lập cho 274 hộ dân ở ấp Vồ Bà và Tà Lọt). Hệ thống điện mặt trời ở những khu vực này đã giúp các hộ dân có đủ điện phục vụ nhu cầu thiết yếu như: Thắp sáng, sử dụng quạt, xem tivi, nghe đài...

      Cũng theo bà Khanh, những hộ dân ở đây chủ yếu là người dân tộc thiểu số, nhu cầu sử dụng điện không cao (chỉ khoảng 3 kWh/hộ gia đình/tháng). Do vậy, việc ứng dụng các mô hình năng lượng tái tạo tại chỗ như: Đèn xách tay năng lượng mặt trời, pin năng lượng mặt trời, thủy điện nhỏ..., hoàn toàn có thể đáp ứng được. Giải pháp này vừa giúp người dân có điện sử dụng, vừa có thể giảm được chi phí so với kéo điện lưới quốc gia. Đó là chưa kể, ngành Điện cũng tiết kiệm được nguồn nhân lực thực hiện công tác quản lý, vận hành, thu tiền điện... 

      Tại Hội thảo “Phát triển năng lượng tái tạo góp phần thực hiện Chương trình điện khí hóa nông thôn và tiếp cận điện cho người nghèo” vừa được tổ chức mới đây, các chuyên gia cũng cho biết, hiện nay, các mô hình năng lượng tái tạo cấp điện không nối lưới cho khu vực nông thôn cũng đang trở thành xu hướng ở các nước trên thế giới. Ông Antoine Vander Elst - Tùy viên Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam chia sẻ: “Năng lượng tái tạo không còn là giấc mơ xa vời hay là loại công nghệ đắt đỏ chỉ có ở các quốc gia giàu có. Nhờ sự phát triển rộng rãi của năng lượng tái tạo, giá thành đã giảm đáng kể trong vài năm gần đây. Năng lượng tái tạo không chỉ góp phần đảm bảo an ninh năng lượng mà còn cung cấp rất nhiều cơ hội nghề nghiệp, giúp cho người nghèo có thể tiếp cận và sử dụng điện”.

      Năm 2017, đầu tư toàn cầu cho các giải pháp năng lượng tái tạo không nối lưới đã đạt 284 triệu USD; trong đó khu vực Đông Phi chiếm 57%. Riêng khu vực châu Á, công suất lắp đặt năng lượng tái tạo độc lập không nối lưới đã tăng từ 1,3 GW năm 2008 lên 4,3 GW vào năm 2017. Trên toàn thế giới, cũng đã có hơn 130 triệu người sử dụng các giải pháp năng lượng tái tạo không nối lưới, để đáp ứng các nhu cầu thắp sáng và một số dịch vụ cơ bản, thiết yếu của cuộc sống. 

      Có thể thấy phát triển năng lượng tái tạo là giải pháp khả thi để Việt Nam hoàn thành mục tiêu điện khí hóa nông thôn, cấp điện cho 100% hộ dân trên toàn quốc. Mặc dù vậy, các chuyên gia cho rằng, cần phải thúc đẩy xã hội hóa các nguồn lực, đặc biệt trong huy động vốn đầu tư; tăng cường hợp tác công - tư, nhà nước và nhân dân cùng làm. Ngoài ra, cần tăng cường chuyển giao công nghệ, thành lập và đào tạo các đội thợ địa phương để lắp đặt, vận hành và bảo dưỡng hệ thống điện năng lượng tái tạo tại chỗ...  

    • Hơn 3.200 kWp điện mặt trời áp mái đã vận hành tại trụ sở các điện lực

      Công trình điện mặt trời áp mái tại trụ sở Tổng công ty Điện lực TP.HCM 

      Trong đó, Tổng công ty Điện lực Hà Nội lắp đặt 52 kWp; Tổng công ty Điện lực miền Trung 352 kWp; Tổng công ty Điện lực miền Nam 1.985 kWp và Tổng công ty Điện lực TP.HCM 855 kWp.

      Theo báo cáo của các đơn vị, do hầu hết các công trình đều mới được hoàn thành và đưa vào sử dụng trong thời gian từ tháng 4/2018 đến nay, nên tổng điện năng thu được tính đến cuối tháng 7/2018 đạt khoảng 1,1 triệu kWh, với giá trị làm lợi khoảng 3,1 tỷ đồng.

      Được biết, tổng tiềm năng điện mặt trời áp mái trên trụ sở và công trình tại các đơn vị trực thuộc EVN là 56,4 MWp. Hiện nay, EVN đang chỉ đạo các đơn vị tiếp tục triển khai lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái, vừa góp phần giảm áp lực cho hệ thống điện lưới; vừa là hình mẫu để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động người dân, doanh nghiệp trên cả nước sử dụng điện mặt trời.

      Theo nghiên cứu của Ngân hàng thế giới về năng suất phát điện mặt trời, ở khu vực miền Nam (TP.HCM và các tỉnh miền Nam), điện năng phát của 1 kWp đạt khoảng 1.350-1.450 kWh/năm; riêng khu vực Ninh Thuận, Bình Thuận có thể đạt 1.550 kWh/năm. Còn các tỉnh miền Trung đạt khoảng 1.300 kWh/năm. Giá trị làm lợi (tính theo giá mua điện của văn phòng đơn vị Điện lực) điện mặt trời mang lại đạt từ 3,6-3,9 triệu đồng/năm/kWp.

    • "Rộng đường" tiếp cận điện mặt trời quy mô hộ gia đình

      Theo đánh giá của Tổng công ty Điện lực miền Nam, hiện nay các nhà máy điện ở khu vực miền Nam không đáp ứng được nhu cầu phụ tải. Dự báo từ năm 2021-2022 sẽ xảy ra tình trạng thiếu hụt khoảng 1,2- 1,6 tỷ kWh/năm và có thể cao hơn trong trường hợp các dự án nhiệt điện than không đáp ứng được tiến độ hoàn thành.

      Chia sẻ về vấn đề này, ông Nguyễn Tiến Lộc - Phó chủ tịch Hiệp hội kỹ thuật điện Việt Nam cho hay, điện mặt trời áp mái cho các hộ gia đình là giải pháp mang lại hiệu quả lớn cho cả ngành Điện và xã hội.

      Tuy nhiên, một trong những rào cản lớn nhất khiến các hộ gia đình tiếp cận nguồn năng lượng sạch này là chi phí đầu tư lớn và chưa có hỗ trợ tài chính từ các ngân hàng.

      Nhằm tháo gỡ rào cản ấy, Tập đoàn Năng lượng Mặt trời Bách khoa (Solar BK Holdings) vừa đưa ra thị trường gói giải pháp BigK.

      Ông Nguyễn Vũ Nguyên- Giám đốc Maketing Solar GATES (thành viên Solar BK Holdings) cho biết, đây là gói giải pháp điện mặt trời áp mái đầu tiên tại Việt Nam có bảo hiểm sản lượng điện và hỗ trợ dịch vụ tài chính. Ngoài mang lại nhiều lợi ích về năng lượng, các hộ gia đình tham gia đầu tư điện mặt trời còn được hưởng mức ưu đãi với giá rẻ. BigK dành cho đối tượng hộ gia đình có công suất từ 2 - 10 kWp.

      Ngay tại lễ ra mắt BigK ngày 20/9, đã diễn ra việc ký kết hợp tác cung cấp gói bảo hiểm sản lượng điện cho giải pháp điện mặt trời BigK giữa SolarGATES và Công ty Bảo hiểm BIC; ký kết hợp tác cung cấp, hỗ trợ dịch vụ tài chính cho khách hàng giữa SolarGATES và Ngân hàng BIDV.

      Đây là lần đầu tiên tại Việt Nam, lĩnh vực đầu tư điện mặt trời được một tổ chức thứ 3 độc lập đứng ra bảo hiểm sản lượng điện và một ngân hàng đồng ý cung cấp dịch vụ tài chính. Mục tiêu của việc ký kết hợp tác nhằm góp phần tạo thêm niềm tin cho người tiêu dùng yên tâm sử dụng nguồn năng lượng sạch hữu ích, tiết kiệm và thân thiện này.

      Với sự hợp tác giữa SolarBK Holdings và BIC, từ ngày 1/8/2018 đến 31/7/2019, khi mua BigK, khách hàng sẽ được cung cấp thêm gói bảo hiểm sản lượng điện từ BIC. Sản lượng được bảo hiểm sẽ bằng 75% sản lượng dự kiến của hệ thống sản sinh, trong thời gian 5 năm kể từ ngày cấp giấy xác nhận bảo hiểm từ SolarGATES.

      Đối với dịch vụ tài chính giữa SolarBK Holdings và BIDV, khách hàng của BigK sẽ được hỗ trợ thêm các gói vay ưu đãi từ 12 tháng đến 36 tháng từ BIDV Vũng Tàu Côn Đảo. Trong đó, SolarBK Holdings sẽ triển khai chương trình hỗ trợ lãi suất 12 tháng đầu tiên cho khách hàng trong khoảng thời gian từ 20/9/2018 – 31/10/2018.

      Theo ông Nguyên, khoảng 5 năm trước giá đầu tư trọn gói năng lượng mặt trời có giá 60 triệu đồng/Wp, hiện nay giải pháp BigK giá chỉ hơn 23 triệu đồng/Wp. Ngoài sự hỗ trợ vốn vay đến 70% của ngân hàng, khả năng hoàn vốn trong 5 năm và sinh lợi từ 20-25 năm là điều kiện thuận lợi cho nhiều hộ gia đình sử dụng điện mặt trời áp mái một cách dễ dàng.

      Ông Đặng Thanh Hiển – Giám đốc BIC Vũng Tàu cho hay, đây là lần đầu tiên một công ty bảo hiểm tham gia vào lĩnh vực năng lượng mặt trời trên mái ở hộ gia đình. Theo đó, BIC sẽ lo chi trả cho khách nếu công suất điện năng không đạt theo mức cam kết.

    • "Cú hích" cho năng lượng xanh

      Cụ thể theo Quyết định (QĐ) 39 của Thủ tướng Chính phủ (ký ngày 10/9, có hiệu lực từ ngày 1/11/2018), giá điện gió đối với các dự án lắp đặt dưới biển là 9,8 US cent/kWh (tức 2.223 đồng/kWh). Với các dự án điện gió lắp đặt ở đất liền, giá bán tại điểm đấu nối là 8,5 US cent/kWh thay cho mức 7,8 US cent/kWh hiện tại (giá này sẽ được điều chỉnh theo biến động VND/USD). Chi phí mua điện từ các dự án điện gió sẽ được tính toán trong thông số đầu vào phương án giá bán điện hằng năm của Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN).

      Giá điện gió tăng gần 10% so với trước sẽ kích thích cho các dự án đang được triển khai

      Ông Bùi Văn Thịnh, Chủ tịch Hiệp hội điện gió Bình Thuận, vui mừng cho biết: QĐ 39 sẽ là “cú hích” mới và mạnh cho ngành năng lượng xanh nói chung, điện gió nói riêng.

      Theo ông Thịnh, ngày 18/4/2017, khi Thủ tướng về làm việc tại Bình Thuận, Hiệp hội điện gió Bình Thuận đã có văn bản đề xuất Thủ tướng xem xét việc tăng giá cho điện gió. Trên thực tế, giá điện gió (7,8 cent/kWh) là quá thấp, nhà đầu tư không có lãi. Đây là nguyên nhân chính làm cho các dự án điện gió chậm triển khai.

      “Trong QĐ 39 của Thủ tướng, giá điện gió tăng gần 10%. Điều này thể hiện sự ưu tiên về chính sách của Chính phủ. Theo chúng tôi, 8,5 cent/kWh là giá tốt cho các dự án đang được triển khai”, ông Thịnh nói.

      Chủ tịch Hiệp hội điện gió Bình Thuận cho rằng, quyết định này bãi bỏ điều 9 của QĐ 37 (sau 12 tháng không khởi công sẽ thu hồi dự án), nhưng đồng thời có quy định rất cụ thể điều kiện được khởi công dự án, là hoàn toàn phù hợp với thực tế hiện nay. “Để lách luật, nhiều chủ dự án khởi công hoành tráng, sau đó không làm gì cả. Điều này vừa gây lãng phí đất đai, vừa tạo ấn tượng không tốt về các dự án điện gió”.

      Cũng theo ông Thịnh, thời hiệu của QĐ 39 chỉ áp dụng đến ngày 1/11/2021 là hoàn toàn phù hợp thông lệ quốc tế. Điều này thúc đẩy các chủ dự án muốn đầu tư thật sự vào ngành điện gió vốn đang phát triển chậm hơn điện mặt trời.

      Không triển khai sẽ kiên quyết thu hồi

      Ông Đỗ Minh Kính, Giám đốc Sở Công Thương Bình Thuận, cho biết theo quy hoạch đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã được Bộ Công Thương phê duyệt thì công suất lắp đặt điện gió của Bình Thuận đạt xấp xỉ 700 MW, sản lượng điện gió tương ứng 1.500 triệu kWh; đến năm 2030 công suất lắp đặt tích lũy đạt 2.500 MW, sản lượng đạt 5.475 triệu kWh.

      Hiện nay Bình Thuận có tới 19 dự án điện gió được tỉnh chấp thuận chủ trương khảo sát, nghiên cứu và chấp thuận đầu tư (công suất đạt 1.192,5 MW). Trong số này đã có 12 dự án được UBND tỉnh cấp chứng nhận đầu tư (tổng công suất 507,3 MW). Trong số 12 dự án trên, đã có 3 dự án đi vào hoạt động, đó là các dự án: Phong Điện 1 Bình Thạnh, Thuận Bình Phú Lạc và một dự án trên đảo Phú Quý.

      Theo lãnh đạo Sở Công Thương Bình Thuận, QĐ 39 của Thủ tướng ra đời vừa thúc đẩy, vừa “ràng buộc” các dự án điện gió. Chỉ có thể đầu tư thực sự mới dám khởi công. Bởi Thủ tướng quy định trước khi khởi công phải hoàn thành đền bù giải tỏa, bàn giao mặt bằng và đặc biệt là đã có hợp đồng với bên mua là EVN.

      Ông Huỳnh Văn Điển - Chủ tịch UBND huyện Tuy Phong (nơi có 2 dự án điện gió đầu tiên của cả nước đi vào hoạt động), cho rằng Tuy Phong là nơi có nhiều dự án điện gió, điện mặt trời nhất tỉnh vì ở đây tỷ lệ giờ nắng, gió cao hơn các nơi khác. Với chủ trương mới này, UBND huyện sẽ cập nhật, theo dõi và tạo điều kiện tốt nhất cho các dự án điện gió và cả điện mặt trời triển khai. Tuy nhiên nếu dự án nào cố tình dây dưa, giữ đất để chuyển nhượng thì UBND huyện sẽ kiến nghị tỉnh thu hồi dự án.

      Đồng quan điểm trên, ông Đỗ Minh Kính cho biết, sau khi có chính sách giá điện gió của Thủ tướng, Sở Công Thương sẽ tham mưu cho UBND tỉnh đốc thúc các dự án triển khai. Nếu dự án nào không làm mà không chứng minh được lý do sẽ kiên quyết thu hồi. “Trước đây anh nói giá điện thấp, nếu làm sẽ lỗ. Nay giá điện được Chính phủ tăng tới 10%, không có lý do gì để không triển khai. Còn nhà đầu tư nào không đủ năng lực thì thu hồi lại để giao cho nhà đầu tư có năng lực và thiện chí”, ông Kính khẳng định.

    • Gỡ rào cản cho năng lượng tái tạo tại Việt Nam

      Brian Hull, Tổng Giám đốc ABB tại Việt Nam, nói rằng, điều cần thiết bây giờ là có các chính sách rõ ràng cho phát triển năng lượng tái tạo. Đó là, hướng dẫn mua bán điện gió theo biểu giá mới và chính sách phát triển điện mặt trời sau tháng 6 năm 2019, để các làn sóng đầu tư được diễn ra theo kế hoạch.

      Đưa ra quan điểm này, người đứng đầu ABB đã tái kiến nghị 3 nội dung chính: Quy hoạch trước hạ tầng lưới điện, Hợp đồng mua bán điện (PPA) được chuẩn hóa, Quy trình phê duyệt dự án đơn giản và rõ ràng, nhằm tạo điều kiện cho điện gió và mặt trời phát triển tại Việt Nam.

      Nhu cầu cao hơn tăng trưởng

      Số liệu từ Tập đoàn Điện lực Việt Nam cho thấy, nhu cầu sử dụng điện sẽ tiếp tục tăng trưởng ở mức cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế. Tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2016-2020 là 10,3-11,3%/ năm, giai đoạn 2021-2030 khoảng 8,0-8,5%/năm.

      Tiêu thụ điện trong những năm gần đây tăng với tốc độ cao, bình quân 12,04%/năm trong giai đoạn 2003-2018, trong khi dự kiến điện thương phẩm năm 2018 đạt 192,1 tỷ kWh, tăng 5,5 lần so với năm 2003 là 34,9 tỷ kWh.

      Điều này, khiến Việt Nam phải tăng dần nguồn điện từ năng lượng tái tạo để đảm bảo phụ tải, ông Nguyễn Văn Thành, Phó Cục trưởng, Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo, Bộ Công Thương, cho biết tại Hội thảo về Tích hợp năng lượng tái tạo, hôm 7/9.

      Theo ông Thành, Quy hoạch điện VII (điều chỉnh) yêu cầu từ nay đến năm 2020, sản xuất điện từ năng lượng tái tạo sẽ chiếm 9,9% tổng công suất nguồn điện, tăng 4,3% so với Quy hoạch điện VII. 

      Quy hoạch này kỳ vọng các nguồn năng lượng từ gió và mặt trời có thể đáp ứng mục tiêu trong Quy hoạch Điện VII điều chỉnh, 6.000 MW điện gió và 12.000 MW điện mặt trời vào năm 2030.

      Tuy nhiên, một thực tế là Việt Nam mới chỉ đi “những bước đầu tiên" của hành trình phát triển năng lượng tái tạo. Quy mô và tiềm năng phát triển còn hạn chế so với các quốc gia trong khu vực, như Thái Lan đã có khoảng 62% tổng công suất lắp đặt, tương đương 3,5 GW.

      Ông Nguyễn Minh Quang, Trung tâm Điều độ Hệ thống điện quốc gia nói rằng, năng lượng tái tạo được xem là nguồn quan trọng để đáp ứng đủ nhu cầu phụ tải của quốc gia trong tương lai. 

      Tuy nhiên, ông Quang cũng tỏ rõ quan ngại việc phát triển năng lượng tái tạo cũng làm gia tăng thách thức lên hệ thống điện, đặc biệt là nghẽn mạch lưới điện, chất lượng điện năng, nhu cầu dự phòng và độ tin cậy cung cấp điện cho hệ thống.

      Trong bối cảnh phát triển lưới điện ở Việt Nam còn hạn chế, ông Quang xác nhận, thời gian trung bình xây dựng một công trình lưới điện là 3 năm, trong khi thời gian triển khai một dự án điện mặt trời chỉ trên dưới 1 năm. Ông nói, việc phát triển điện gió như một nguồn chính cho năng lượng quốc gia, cũng làm “gia tăng thêm áp lực“ cho hệ thống điện.

      Cần chính sách dài hạn

      Chính sách phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đang có những thay đổi. Trong khi các nhà đầu tư điện gió vẫn phải chờ các văn bản hướng dẫn bán điện theo giá mới, các nhà đầu tư điện mặt trời lại đặc biệt quan tâm đến sự thay đổi về chính sách điện mặt trời sẽ thế nào sau 30/6/2019, khi Quyết định 11/2017 hết hiệu lực.

      Đã có những cuộc đối thoại cấp cao giữa các thành viên Chính phủ với doanh nghiệp ngành công nghiệp điện. Tổng Giám đốc ABB cho rằng “việc này cần phải tiếp tục nhằm đảm bảo các chính sách và tiêu chuẩn được xây dựng, phát triển dành riêng cho Việt Nam“.

      Hiện, suất đầu tư vào năng lượng tái tạo tiếp tục xuống mức hợp lý hơn, từ 5-10% mỗi một năm. Tổng giám đốc ABB Việt Nam cho đây là cơ hội để Việt Nam đa dạng hóa nguồn điện để đảm bảo nhu cầu phụ tải.

      Ông Brian Hull tin rằng: “Chính sách dự đoán được và mang tính dài hạn” sẽ thúc đẩy nguồn vốn từ châu Âu, Bắc Mỹ, châu Á đổ vào các dự án phát triển năng lượng tái tạo tại Việt Nam.

      Muốn vậy, một điểm được ông Brian Hull nói “rất quan trọng" là Việt Nam cần có “sự minh bạch trong trung và dài hạn" về cơ chế định giá cho năng lượng tái tạo, cũng như cần có phạm vi để tăng cường PPA (Hợp đồng mua bán điện) để khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài.

      Về góc độ kỹ thuật, ông Brian Hull khuyến cáo, Thông tư quy định về lưới điện truyền tải nên được xây dựng để khuyến khích các nhà đầu tư trang trại năng lượng mặt trời đầu tư vào công nghệ phù hợp tại trang trại nhằm giúp giảm thiểu áp lực lên lưới điện quốc gia.

      Tính đến ngày 31/3/2017, hệ thống truyền tải điện quốc gia do Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia quản lý vận hành bao gồm lưới 500 kV và 220 kV, với tổng số 24.365 km đường dây, 140 trạm biến áp với tổng dung lượng máy biến áp là 77.613 MVA. 

      Tổng Giám đốc ABB Việt Nam cho rằng, những thách thức trong việc tăng cường mạng lưới truyền tải điện quốc gia, đối phó với sự gián đoạn của năng lượng gió và mặt trời, có thể xử lý được bằng công nghệ kỹ thuật số hiện đại.

      Việt Nam cần áp dụng công nghệ để khai thác tốt hơn nguồn điện từ năng lượng gió và mặt trời, cũng như ứng dụng công nghệ tích hợp nguồn điện đòi hỏi Việt Nam phải nâng cấp hệ thống truyền tải điện, cũng như số hóa hệ thống kiểm soát, nhằm cân bằng được các nguồn điện trên hệ thống.

      Muốn vậy, Việt Nam cũng cần chú trọng giải quyết các vấn đề quan trọng như tích hợp năng lượng tái tạo, phát triển mạng lưới, tự động hóa lưới điện và lưới điện siêu nhỏ. Đồng thời cung cấp đầy đủ công nghệ trong chuỗi giá trị điện năng, đảm bảo độ an toàn và tin cậy của dòng điện.

    • 748 dự án điện mặt trời lắp mái đã triển khai trên cả nước

      Cần xem xét tháo gỡ những vướng mắc về thuế cho các dự án điện mặt trời lắp mái

      Hội thảo do Liên minh Năng lượng bền vững Việt Nam (VSEA) và Nhóm công tác về biến đổi khí hậu (CCWG) tổ chức, trong khuôn khổ Tuần lễ Năng lượng tái tạo Việt Nam năm 2018.

      Ông Nguyễn Ninh Hải - Phó phòng Phòng Năng lượng tái tạo, Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo (Bộ Công Thương) cho biết, sau hơn 1 năm triển khai, Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam (gọi tắt là Quyết định 11) và Thông tư 16/2017/TT-BCT của Bộ Công Thương quy định về phát triển dự án và hợp đồng mua bán điện mẫu áp dụng cho các dự án điện mặt trời (gọi tắt là Thông tư 16) đã tạo được "cú hích" cho thị trường điện mặt trời tại Việt Nam. Đặc biệt, cơ chế dành cho các dự án điện mặt trời quy mô lớn đã rất hấp dẫn các nhà đầu tư.

      Cũng theo ông Hải, tính đến ngày 18/6/2018, đã có 100 dự án điện mặt trời quy mô lớn được bổ sung vào quy hoạch điện cấp tỉnh/quốc gia. Trong đó, tổng công suất đăng ký là 4,7 GW vào năm 2020 và thêm 1,77 GW sau năm 2020.

      Với các dự án điện mặt trời lắp mái, tính đến cuối tháng 7/2018, đã có 748 dự án được triển khai trên cả nước, với tổng công suất 11,55 MWp.

      Tuy đã tạo được tín hiệu đáng mừng nhưng việc triển khai các dự án điện mặt trời cũng đang gặp một số vướng mắc về quy trình đấu nối; mâu thuẫn với quy định về thuế trong việc bán lại sản lượng điện dư của các dự án điện mặt trời áp mái; các chứng nhận về inverter...

      Nhiều ý kiến của các đại biểu, chuyên gia cho rằng, cần sớm tháo gỡ những vướng mắc trên, thì mới tạo động lực thúc đẩy cho điện mặt trời phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam.

      Được biết, hiện nay, Bộ Công Thương đang xem xét trình Chính phủ sửa đổi cơ chế giá FIT - cơ chế giá áp dụng cho điện sản xuất từ các nguồn năng lượng tái tạo, đối với dự án điện mặt trời áp dụng sau tháng 6/2019; cơ chế đấu thầu riêng, hợp đồng mua bán điện cho các dự án điện mặt trời. Đồng thời, trình Chính phủ xem xét điều chỉnh Quyết định số 11 để giải quyết những vấn đề liên quan đến thuế cho các dự án điện mặt trời lắp mái.

    • Phát triển nguồn năng lượng tái tạo không nối lưới để hoàn thành mục tiêu điện khí hóa nông thôn

      Hội thảo do Liên minh Năng lượng bền vững Việt Nam (VSEA) và Nhóm công tác về biến đổi khí hậu (CCWG) tổ chức, trong khuôn khổ Tuần lễ Năng lượng tái tạo Việt Nam năm 2018. 

      Theo đại diện của Phòng Điện khí hóa nông thôn thuộc Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo (Bộ Công Thương), mục tiêu của Chương trình cấp điện nông thôn, miền núi và hải đảo giai đoạn 2013 – 2020 (Chương trình 2081) là hầu hết số hộ dân nông thôn trên cả nước được sử dụng điện vào năm 2020. Tuy nhiên, thực tế triển khai vẫn còn không ít khó khăn, thách thức như: Các thôn, bản, hộ dân chưa có điện hầu hết đều ở vùng đặc biệt khó khăn, bị cô lập về địa hình và nằm quá xa lưới điện quốc gia; dân cư sống rải rác trong khi chi phí đầu tư cấp điện quá lớn, mức tiêu thụ điện năng lại quá ít,..., vì vậy cần phải có những chính sách, giải pháp đặc biệt để giải quyết việc cấp điện tại các khu vực này. 

      Theo bà Ngụy Thị Khanh – Giám đốc Trung tâm Sáng tạo xanh (Green ID), cơ quan điều phối VSEA, các nguồn năng lượng tái tạo phân tán, độc lập, không nối lưới cho những vùng sâu, vùng xa chưa có điện lưới có thể là một trong những giải pháp giúp hoàn thành mục tiêu điện khí hóa nông thôn.

      Tại Hội thảo, Green ID cũng giới thiệu về 2 mô hình năng lượng tái tạo gồm: Hệ thống cấp điện mặt trời mini không nối lưới tại bản Erot – một bản xa xôi, hẻo lánh của xã Cư Pui, huyện Krongbong, tỉnh Đắk Lắk (cấp điện hộ 23 hộ gia đình) và mô hình Ấp sử dụng 100% tấm pin năng lượng mặt trời xã An Hảo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang (gồm 274 hộ ở ấp Vồ Bà và Tà Lọt). 

      Phần lớn ý kiến của các đại biểu tham dự Hội thảo đều thống nhất về việc ứng dụng các mô hình năng lượng tái tạo tại chỗ như: Đèn xách tay năng lượng mặt trời, pin năng lượng mặt trời,..., hoàn toàn có thể đáp ứng được nhu cầu của người dân tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, nhu cầu sử dụng điện ít. Tuy nhiên, cần thúc đẩy xã hội hóa nguồn lực để huy động vốn đầu tư cho phát triển các giải pháp năng lượng tái tạo không nối lưới. Ngoài ra, cần tăng cường chuyển giao công nghệ, thành lập và đào tạo các đội thợ địa phương để lắp đặt và vận hành, bảo dưỡng hệ thống cấp điện này,...

    • EVNHCMC: Hoàn thành 16 công trình điện mặt trời lắp mái

      Công nhân EVNHCMC kiểm tra hệ thống điện mặt trời lắp mái tại tòa nhà Tổng công ty

      Hiện, EVNHCMC cũng đang triển khai lắp đặt tại trụ sở của 3 đơn vị còn lại gồm Công ty Điện lực Hóc Môn, Công ty Điện lực Thủ Đức và Công ty Điện lực Duyên Hải. Sau khi hoàn thành tại 19/19 đơn vị trực thuộc, tổng công suất điện mặt trời lắp mái nối lưới của EVNHCMC sẽ là 1151.4 kWp.

      Được biết, trên địa bàn TP.HCM hiện đã có 475 khách hàng lắp đặt điện mặt trời áp mái, có đấu nối vào lưới điện do Tổng công ty quản lý, với tổng công suất 5.280,44 kWp. Trong đó, có hơn 340 khách hàng đã đăng ký bán lại phần điện dư cho ngành Điện.

      Để hỗ trợ khách hàng, EVNHCMC đã chủ động triển khai kiểm tra thử nghiệm các yêu cầu kỹ thuật hệ thống điện mặt trời nối lưới theo quy định tại Thông tư 39/2015/TT-BCT và lắp đặt miễn phí điện kế 2 chiều cho các khách hàng có nhu cầu nối lưới. 

      Hằng tháng, các công ty điện lực tổ chức ghi nhận chỉ số điện năng tiêu thụ và chỉ số điện mặt trời phát ngược lên lưới cho các khách hàng đã được lắp đặt điện kế 2 chiều.

      Tuy nhiên, EVNHCMC vẫn chưa thể ký hợp đồng mua bán điện mặt trời do Bộ Công Thương chưa có hướng dẫn chính thức về cách thức tính toán bù trừ điện năng tiêu thụ, thuế giá trị gia tăng và phát hành hóa đơn cho khách hàng.

    • TP.HCM tiếp tục đẩy mạnh điện mặt trời nối lưới cho tòa nhà

      TP.HCM có rất nhiều tiềm năng để phát triển điện mặt trời nối lưới - Ảnh: Thành Trung.

      Theo đó, các hoạt động trọng tâm như: Đánh giá tiềm năng, tính khả thi trong ứng dụng giải pháp điện mặt trời; xác định công suất điện mặt trời khả dụng, lượng điện năng đóng góp vào lưới điện; định hướng xây dựng nền tảng cơ sở dữ liệu để phát triển điện mặt trời trên mái nhà, góp phần phát triển năng lượng tái tạo của thành phố đạt mục tiêu đề ra.

      Với mục tiêu phát triển điện mặt trời đạt 1 GWp vào năm 2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2068/2015/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg về Cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam.

      Thực hiện chủ trương của Chính phủ, TP.HCM đặt mục tiêu chuyển đổi cơ cấu sử dụng năng lượng theo hướng tăng tỷ lệ năng lượng tái tạo, năng lượng mới đạt từ 1 - 1,74% tổng công suất tiêu thụ toàn thành phố và tập trung phát triển năng lượng mặt trời, đặt biệt là điện mặt trời trên mái nhà.

      Theo kết quả nghiên cứu của World Bank thực hiện, TP.HCM rất có tiềm năng phát triển điện mặt trời với hơn 316.500 mái nhà có thể lắp đặt hệ thống điện này, đạt công suất khoảng 6.379 MWp.

    • EPTC kí hợp đồng mua bán điện với Công ty CP Điện mặt trời Trung Nam

      Lễ kí kết hợp đồng mua bán điện giữa EPTC và Trungnam Solar Power

      Giá điện trong Hợp đồng đã ký tuân thủ quy định tại Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg ngày 11/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ. Cụ thể, EPTC sẽ mua điện tại điểm giao nhận điện với giá 2.086 đồng/kWh, áp dụng cho phần nhà máy điện mặt trời nối lưới vận hành thương mại trước ngày 30/6/2019 (áp dụng 20 năm kể từ ngày vận hành thương mại).

      Trong trường hợp có phần vận hành thương mại sau ngày 30/6/2019, hai bên sẽ xem xét, đưa vào hợp đồng mua bán điện sau khi có hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và cơ chế giá điện cho giai đoạn này.

      Dự án Nhà máy Điện mặt trời Trung Nam có tổng diện tích 264 hecta tại huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận với quy mô thiết kế hơn 705.000 tấm pin; đấu nối với 45 trạm chuyển đổi Inverter và các thiết bị liên quan vào trạm nâng áp. Dự án có tổng vốn đầu tư gần 5.000 tỷ đồng. Dự kiến, điện năng sản xuất hàng năm đạt khoảng 420 triệu kWh.

      Trungnam Solar Power sẽ được khởi công vào ngày 7/7 tới và dự kiến đưa vào vận hành thương mại vào tháng 6/2019. Sau khi hòa vào lưới điện Quốc gia, dự án sẽ góp phần cung cấp, bổ sung nguồn điện cho tỉnh Ninh Thuận nói riêng và cả nước nói chung.

    • Phát triển điện mặt trời lắp mái: Rất tốt, nhưng rất tiếc…

      Theo quyết định số 11/2017/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 11/4/2017, các dự án điện mặt trời lắp mái nối lưới điện quốc gia được thực hiện theo cơ chế bù trừ điện năng, sử dụng công tơ hai chiều. Trong một chu kỳ thanh toán, lượng điện phát ra từ các dự án này lớn hơn lượng điện tiêu thụ sẽ được chuyển sang chu kỳ thanh toán kế tiếp. Kết thúc năm hoặc khi kết thúc hợp đồng mua bán điện, lượng điện phát dư sẽ được bán cho bên mua điện với giá bán điện theo quy định.

      Cần sớm tháo gỡ khó khăn cho điện mặt trời lắp mái

      TP. HCM là một trong những địa phương đi đầu về phát triển điện mặt trời lắp mái. Tính đến nay, đã có 284 khách hàng điện mặt trời lắp mái nối lưới đăng ký bán lại phần điện dư cho EVNHCMC với tổng công suất là 3.64 kWp. Để hỗ trợ khách hàng, EVNHCMC đã chủ động triển khai kiểm tra thử nghiệm các yêu cầu kỹ thuật, lắp đặt điện kế 2 chiều, ghi chỉ số điện năng tiêu thụ và chỉ số điện mặt trời phát ngược lên lưới cho khách hàng... Nhưng đến nay, EVNHCMC vẫn chưa thể ký hợp đồng mua bán điện mặt trời với khách hàng vì chưa có hướng dẫn chính thức về cách thức tính toán bù trừ điện năng tiêu thụ, thuế giá trị gia tăng và phát hành hóa đơn cho khách hàng theo quy định của Bộ Tài chính.  

      Theo ông Đỗ Đức Tưởng - Chuyên gia về năng lượng tái tạo, cần sớm có Thông tư từ Bộ Tài chính, hoặc Thông tư liên ngành Tài chính - Công Thương hướng dẫn cụ thể phương thức bù trừ điện năng tiêu thụ, thuế giá trị gia tăng và hóa đơn trong hợp đồng mua bán điện giữa EVN và các hộ dân. Còn theo ông Trần Viết Ngãi - Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam, việc phát động toàn dân phát triển điện mặt trời trên mái nhà, trên ao hồ, sườn đồi, trên các tòa nhà… là cần thiết trong bối cảnh hiện nay của nước ta. Do vậy, các bộ, ngành cần sớm tháo gỡ mọi vướng mắc cho điện mặt trời  lắp mái nối lưới. 

      Nếu tháo gỡ được các vướng mắc, điện mặt trời lắp mái sẽ phát triển rất nhanh. Với hàng chục triệu hộ gia đình trên đất nước Việt Nam, chỉ cần mỗi hộ phát lên lưới vài kWh, sẽ có con số tổng sản lượng rất lớn; góp phần giảm tải áp lực đầu tư nguồn điện, nhất là khi các nguồn nhiên liệu truyền thống phục vụ sản xuất điện đang ngày càng cạn kiệt. 

    • Chia sẻ kinh nghiệm phát triển điện gió tại Việt Nam

      Các diễn giả quốc tế chia sẻ kinh nghiệm phát triển điện gió tại Việt Nam

      Phát biểu tại Hội thảo, ông Nguyễn Văn Thành - Phó Cục trưởng Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo (Bộ Công Thương) chia sẻ, theo Quy hoạch điện VII điều chỉnh, Việt Nam đặt ra mục tiêu công suất điện gió sẽ đạt 800 MW năm 2020 và đạt 6.000 MW năm 2030. Tuy nhiên, việc phát triển điện gió hiện vẫn còn rất chậm. Đến nay, mới có 7 dự án với tổng công suất 190 MW được đưa vào vận hành.

      Ông Thành cũng nêu một số nguyên nhân là rào cản trong phát triển điện gió tại Việt Nam như nguồn vốn, việc đấu nối giải tỏa công suất, hạn chế trong việc tiếp cận công nghệ mới và hiệu quả,…

      “Đặc biệt, giá điện gió vẫn chưa đủ hấp dẫn các nhà đầu tư. Bộ Công Thương đang nghiên cứu để đưa ra một giá điện mới hài hòa hơn trong thời gian tới, nhằm đảm bảo sự công bằng giữa các nguồn năng lượng tái tạo và phù hợp với công nghệ hiện nay trên thế giới”, ông Thành cho hay.

      “Bộ Công Thương mong muốn được lắng nghe chia sẻ từ các tập đoàn, Tổng công ty, các chuyên gia trong lĩnh vực năng lượng, đặc biệt là năng lượng tái tạo, về kinh nghiệm khai thác tiềm năng năng lượng gió, mặt trời trên các vùng địa hình, khí hậu khác nhau; kinh nghiệm trong việc tích hợp các nguồn điện năng lượng tái tạo...”, ông Thành cho biết thêm.

      Đồng thời, Bộ Công Thương cũng hi vọng tiếp tục nhận được sự hỗ trợ tích cực của Chính phủ Đức, Chính phủ Đan Mạch và các tổ chức quốc tế trong kế hoạch phát triển ngành năng lượng nói chung và lĩnh vực năng lượng tái tạo nói riêng của Việt nam.

      Tại Hội thảo, các chuyên gia đến từ Đức, Đan Mạch đã chia sẻ về các cơ chế, chính sách; công nghệ và kinh nghiệm khai thác; chi phí khai thác điện gió; tích hợp điện gió vào lưới điện,... Đồng thời, các chuyên gia cũng khuyến nghị Việt Nam tiếp tục chuẩn hóa hợp đồng mua bán điện cho các dự án điện gió, để được các tổ chức tài chính quốc tế chấp thuận; quy trình phê duyệt dự án cũng cần được đơn giản hóa, rõ ràng, minh bạch và có thời hạn cụ thể, nhằm giảm tính bất trắc và tăng niềm tin của thị trường cũng như nhà đầu tư…

    • Phát triển năng lượng tái tạo: Tiềm năng lớn, thách thức cũng không nhỏ

      Tiềm năng lớn

      Đánh giá về tiềm năng phát triển năng lượng tái tạo (NLTT) tại Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Công Thương Hoàng Quốc Vượng cho biết: Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, số giờ nắng bình quân trong năm từ 2.500 - 3.000 giờ với nhiệt độ bình quân năm trên 21 độ C. Ngoài ra, Việt Nam có tiềm năng lớn về các dạng NLTT khác như gió, sinh khối... Đây là những nguồn năng lượng sạch, quý giá, cần được khai thác một cách hợp lý, hiệu quả.

      Riêng về tiềm năng điện gió, theo ông Nguyễn Văn Vy - Phó Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam, với công nghệ hiện đại, chỉ cần tốc độ gió từ 5m/s trở lên, tua bin đã có thể phát điện. Ước tính, điện gió trên đất liền của Việt Nam có thể tạo ra khoảng 40-50 nghìn MW, nếu cộng thêm tiềm năng điện gió từ ngoài khơi, Việt Nam có thể phát triển khoảng trên 100 nghìn MW. 

      Còn với năng lượng mặt trời (NLMT), Việt Nam có thể lắp đặt các tấm pin NLMT ở nhiều vùng khác nhau như trên bờ biển, trên hồ nước, đồng bằng, rừng núi, trên mái nhà… Nếu tính trung bình, cứ khoảng 1 ha thu được 1 MW điện mặt trời, Việt Nam có thể sản xuất ra hàng chục ngàn MW công suất từ bức xạ NLMT.

      Hệ thống điện mặt trời trên mái nhà của Tổng công ty Điện lực TP.HCM

      Thách thức phía trước

      Ông Ngô Sơn Hải - Phó Tổng giám đốc EVN cho rằng, để phát triển điện năng một cách hiệu quả, bền vững, EVN hoàn toàn ủng hộ chủ trương đẩy mạnh phát triển NLTT, phù hợp với quy hoạch. Ưu tiên phát triển NLTT sẽ góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ nguồn tài nguyên năng lượng, giảm tác động tiêu cực đến môi trường trong sản xuất điện. Tuy nhiên, khi có sự tham gia của NLTT, thiết kế hệ thống truyền tải và phân phối điện cũng sẽ phải điều chỉnh so với thiết kế truyền thống.

      Tại Việt Nam, do nhu cầu sử dụng điện rất lớn, việc đẩy nhanh phát triển NLTT cũng cần phải lưu ý đến một số vấn đề như: Sự không ổn định của công suất phát vì phụ thuộc vào thời tiết (tốc độ gió, bức xạ mặt trời…). Để đảm bảo hệ thống điện vận hành ổn định, cần phải tính đến công suất dự phòng, bù đắp lượng công suất thiếu hụt khi nguồn NLTT không phát điện được. Các nguồn điện gió và điện mặt trời không có khả năng điều chỉnh điện áp nếu như không có các qui định chặt chẽ bắt buộc phải đầu tư các thiết bị bảo vệ trước khi nối lưới.

      Cũng theo ông Ngô Sơn Hải, hiện nay, các nguồn điện đang vận hành theo cơ chế thị trường phát điện cạnh tranh. Dự kiến năm 2019, sẽ hình thành thị trường bán buôn điện cạnh trạnh. Tuy nhiên, vẫn chưa có cơ chế phù hợp cho NLTT hoạt động trong thị trường điện. Để khắc phục những bất cập trên, EVN đề nghị các cơ quan chức năng sớm phê duyệt các Quy hoạch về phát triển nguồn điện NLTT cấp tỉnh, cấp quốc gia. Các dự án NLTT khi xem xét cần đảm bảo sự phát triển đồng bộ giữa nguồn và lưới điện, đảm bảo khả năng vận hành an toàn, kinh tế của hệ thống điện và hiệu quả đầu tư chung của xã hội...

      Ông Nguyễn Văn Vy - Phó Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam cũng kiến nghị, Nhà nước cần xây dựng chính sách đồng bộ, ổn định, lâu dài cho phát triển NLTT, tăng độ tin cậy cho các nhà đầu tư. Đồng thời xây dựng, ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trong quá trình thiết kế, đầu tư xây dựng và quản lý khai thác vận hành các công trình nguồn điện từ NLTT; các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia cho lưới điện đồng bộ với các nguồn điện sử dụng NLTT và các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với các công trình, thiết bị khác liên quan đến NLTT, áp dụng thống nhất trong toàn quốc.

    • Tiết kiệm năng lượng nuôi trồng thủy sản

      Tiêu tốn nhiều năng lượng

      Theo số liệu thống kê của Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC), trong giai đoạn 2015-2017, điện năng cung cấp cho nuôi trồng thủy sản tăng rất cao. Công suất phụ tải tăng bình quân 9,55%, từ 7.780 MW (năm 2015) lên 9.529 MW (năm 2017) với tốc độ tăng trưởng bình quân điện thương phẩm 10,8%. Trong khi đó, hiện vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn trong việc cung cấp điện cho phát triển nuôi trồng thủy sản.

      Nuôi tôm áp dụng tiết kiệm điện tại huyện Cần Giờ, TPHCM.

      Cụ thể, việc quy hoạch nuôi tôm, cá chưa hoàn thiện, chưa đi vào chiều sâu. Đồng thời chưa có các cơ chế phối hợp hoạt động chung giữa các ngành như hạ tầng cung cấp điện, quản lý sử dụng năng lượng hiệu quả và an toàn điện, quản lý môi trường. Hiện tại các hộ nuôi trồng thủy sản đang sử dụng chính nguồn điện thắp sáng để chạy động cơ kéo quạt nước cung cấp khí ôxy cho vật nuôi, còn rất nhiều hộ sử dụng các thiết bị như motor, cánh quạt, trục quay có mức tiêu thụ điện năng cao. Việc này dẫn đến quá tải lưới điện khu vực và ảnh hưởng rất lớn đến việc cung cấp điện.

      Đồng thời, do đặc thù lưới điện khu vực nông thôn trước đây là lưới điện 1 pha, tiết diện dây dẫn nhỏ, chỉ có khả năng cấp điện cho nhu cầu ánh sáng sinh hoạt, chưa thể đáp ứng nhu cầu sử dụng điện 3 pha để sản xuất, nuôi trồng thủy hải sản. Việc sử dụng kết hợp nuôi tôm với công suất lớn gây mất cân bằng phụ tải làm gia tăng tổn thất điện năng, ảnh hưởng đến điều kiện vận hành lưới điện.

      Ông Như Văn Cẩn, Tổng cục Thủy sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, phân tích nhu cầu sử dụng điện trong nuôi trồng thủy sản rất lớn, đặc biệt là nuôi tôm. Năng lượng để phục vụ bơm nước, quạt nước, sục khí, hút bùn, quan trắc môi trường và các hoạt động khác cần 50 - 200 triệu đồng tiền điện/ha/vụ. Không chỉ vậy, điện còn đóng vai trò rất quan trọng vì nếu thiếu điện để quạt nước, sục khí có thể làm tôm chết hàng loạt do không được cung cấp đủ lượng ôxy cần thiết, làm mất cả vụ tôm của nông dân.

      Trong khi đó, giá thành sản xuất năng lượng điện tái tạo không biến động theo sự thay đổi giá của nhiên liệu đầu vào như các dạng năng lượng truyền thống và chi phí đầu tư luôn giảm theo thời gian nhờ sự phát triển của công nghệ. Điều này sẽ giúp giảm chi phí sản xuất cho các đơn vị nuôi trồng thủy sản vì chi phí điện luôn là một trong những phần chi phí sản xuất lớn, chiếm khoảng 10%. 

      Sử dụng năng lượng tái tạo 

      Theo ông Nguyễn Phước Đức, Phó Tổng giám đốc EVNSPC, trong bối cảnh thiếu hụt nguồn cấp điện cho các khu vực nuôi tôm ở miền Nam và đồng bằng sông Cửu Long, việc xây dựng các dự án năng lượng tái tạo nói chung và điện mặt trời nói riêng với quy mô phù hợp, sẽ góp phần đáp ứng nhu cầu cấp điện sản xuất, giảm chi phí sản xuất, góp phần thúc đẩy và phát triển ngành nuôi tôm của khu vực. EVNSPC hiện đang khảo sát, nghiên cứu phương án tích hợp tấm pin năng lượng mặt trời với bộ động cơ của dàn quạt trong nuôi tôm.

      Để đảm bảo cấp điện nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm công nghiệp tại các tỉnh ven biển khu vực phía Nam, EVNSPC đã cân đối và thu xếp nguồn vốn, ưu tiên đầu tư tại một số tỉnh có mật độ nuôi tôm lớn nhằm chống quá tải, kết hợp cung cấp điện tại một số khu vực đã có quy hoạch nuôi tôm.

      Ngoài ra, EVNSPC cũng đưa ra nhiều giải pháp kỹ thuật để hỗ trợ các hộ nuôi tôm sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả, an toàn trong sản xuất. Tuy nhiên, do nhu cầu đầu tư, cải tạo và nâng cấp hệ thống lưới điện phục vụ nuôi trồng thủy sản rất lớn và đang tiếp tục gia tăng, nên dù đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng và có nhiều giải pháp, song vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu. Trong bối cảnh đó, việc phát triển các dự án năng lượng mặt trời và năng lượng gió phù hợp sẽ là những giải pháp khả thi, góp phần đáp ứng nhu cầu cấp điện sản xuất, thúc đẩy sự phát triển ngành nuôi trồng thủy sản. 

      Trong năm 2016, EVNSPC đã triển khai thí điểm tại 161 hộ dân ở tỉnh Sóc Trăng giải pháp tiết kiệm điện được lựa chọn là thay thế gối đỡ chữ U bằng gối đỡ con lăn; đồng thời vận động hộ nuôi tôm chỉnh đồng trục động cơ và dàn quạt tạo ôxy nuôi tôm để tiết kiệm điện. Và giải pháp trên đã giúp điện năng tiết kiệm được 15,2% so với khi chưa áp dụng giải pháp.

      Với chi phí (vật tư, nhân công lắp đặt) 658,42 triệu đồng, nhưng lợi ích về tiết kiệm chi phí tiền điện bình quân của 161 hộ hơn 951 triệu đồng/năm. Mô hình thứ hai là đồng trục hóa motor với dàn quạt và sử dụng con lăn trục quay, thay thế gối đỡ chữ U giúp điện năng tiết kiệm được 38,7% so với khi chưa áp dụng giải pháp, tương ứng với chi phí tiền điện tiết kiệm hàng năm (của 161 hộ) gần 2,5 tỷ đồng. 

      Ông Trần Viết Ngãi, Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam (VEA), nhìn nhận Việt Nam đang trên đà phát triển và những năm tới vẫn trong tình trạng thiếu điện cung ứng trầm trọng. Do vậy, việc phát triển năng lượng tái tạo để bù đắp cho việc thiếu hụt điện là yêu cầu cấp thiết khi nước ta có tiềm năng rất lớn về năng lượng gió, năng lượng mặt trời… nhưng việc khai thác còn hạn chế và hiệu quả thấp. Sử dụng năng lượng tái tạo sẽ là mô hình thiết thực, ý nghĩa trong việc tiết kiệm năng lượng, sử dụng năng lượng xanh một cách hiệu quả, mang lại lợi ích rõ rệt cho môi trường. Với nguồn tài nguyên vô tận, điện mặt trời nói riêng và năng lượng tái tạo nói chung còn góp phần đảm bảo an ninh năng lượng cho đất nước.

    • Việt Nam có nguồn năng lượng tái tạo khổng lồ

      Sự kiện có tên EIC Connect Energy Vietnam 2018 do Tổng lãnh sự quán Anh tại TP.HCM phối hợp với Hội đồng Công nghiệp Năng lượng (EIC), Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam tổ chức ngày 17/5.

      Ông Simon McDonald, Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao Anh cho biết, sự kiện EIC Connect Energy Vietnam 2018 được tổ chức nhằm mục đích kết nối các doanh nghiệp trong ngành năng lượng của hai nước. Đây là phái đoàn lớn nhất về năng lượng của Vương quốc Anh đến Việt Nam từ trước đến nay.

      “Trong 20 năm tới, ngành năng lượng là ngành có cơ hội rất lớn bởi nhu cầu về năng lượng của nhiều nước trên giới đang tăng vọt, nhất là những nước đang phát triển như Việt Nam”, ông Simon McDonald nói.

      Ông Azman Nasir, Giám đốc khu vực châu Á – Thái Bình Dương của EIC chia sẻ, lý do mà các doanh nghiệp năng lượng tại Anh lựa chọn Việt Nam là vì Việt Nam nằm trong nhóm các nước có kế hoạch đầu tư cho năng lượng nhiều nhất trong những năm tới. Việc này cũng mang lại nhiều cơ hội lớn cho những doanh nghiệp tại Anh chuyên cung cấp trang thiết bị, máy móc cho các dự án năng lượng.

      Theo ông Nguyễn Văn Thành, Cục phó Cục Điều tiết điện lực (Bộ Công Thương) thì Việt Nam từ một nước xuất khẩu năng lượng lại đang trở thành một nước nhập khẩu năng lượng do nhu cầu trong nhân dân tăng mạnh. Chính vì vậy, việc kết nối với các doanh nghiệp tại Vương quốc Anh để học hỏi kinh nghiệm và hợp tác đầu tư là rất cần thiết.

      “Việt Nam đang là 1 trong 10 nước có nhu cầu tăng trưởng điện lớn nhất thế giới và để đáp ứng được nhu cầu điện từ nay đến năm 2030 thì chúng ta sẽ vẫn phát triển các nguồn năng lượng truyền thống như than, khí, dầu, thủy điện song song với việc phát triển các nguồn năng lượng tái tạo như điện năng lượng mặt trởi, điện gió”, ông Thành nói.

      Cũng theo ông Thành, do nhu cầu tăng cao nên Chính phủ khuyến khích các dự án phát triển nguồn năng lượng tái tạo và thời gian qua đã có rất đông các doanh nghiệp gửi hồ sơ dự án lên Bộ Công thương. Lãnh đạo Bộ Công Thương đã đồng ý cho 33 dự án sản xuất điện năng lượng mặt trời và nhiều dự án điện gió được triển khai trong thời gian tới.

      Trước đó, ông Nguyễn Văn Vy, Phó chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam từng nhận định, nước ta là quốc gia có tiềm năng lớn về phát triển năng lượng tái tạo, nhưng đến nay, nguồn năng lượng này ở Việt Nam phát triển chưa tương xứng với tiềm năng.

      Hiện nay, với các công nghệ hiện đại, chỉ cần tốc độ gió 5m/s trở lên, tua bin đã có thể phát ra điện. Ước tính, điện gió trên đất liền của Việt Nam có thể tạo ra khoảng 40.000 – 50.000 MW, nếu tính thêm tiềm năng điện gió ngoài khơi, Việt Nam có thể phát triển khoảng trên 100.000 MW.

      Cùng với đó, bức xạ mặt trời tại Việt Nam cũng được coi là nguồn năng lượng vô tận. Mức độ bức xạ mặt trời tính bình quân có thể đạt khoảng 3-5 kWh/m2/ngày, số giờ nắng bình quân hàng năm khoảng 2.500 -3.000 giờ.

      “Đối với nguồn năng lượng sinh khối, Việt Nam là nước có nông, lâm, ngư nghiệp phát triển, phụ phẩm từ rừng, biển, nông nghiệp hàng năm rất to lớn. Ngoài ra, việc tận dụng các nguồn rác thải công nghiệp, sinh hoạt từ các thành phố đều có thể sản xuất ra điện”, ông Vy nói.

    • Nghiên cứu sử dụng năng lượng mặt trời để cấp điện trong nuôi tôm

      Nhiều chương trình tiết kiệm điện của ngành Điện đã giúp ngành nuôi trồng thủy sản phát huy hiệu quả - Ảnh: Đại Dương.

       

      Hội thảo quốc tế về "Tích hợp hệ thống nuôi trồng thủy sản và năng lượng tái tạo, động lực cho phát triển năng lượng tại tạo ở Việt Nam” do Hiệp hội năng lượng Việt Nam phối hợp với Bộ Công Thương, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) tổ chức ngày 11/5, tại TP. HCM.

      Trong đó, các đại biểu đã thảo luận về việc thực hiện một số dự án điện mặt trời phục vụ chế biến thủy sản cho các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long.

      Thống kê của EVNSPC, trong giai đoạn 2015 - 2017, công suất phụ tải cực đại cấp cho thành phần nông - lâm - thủy sản tăng bình quân khoảng 9,5%; tốc độ tăng trưởng điện thương phẩm bình quân khoảng 10,8%.

      Theo ông Nguyễn Phước Đức - Phó Tổng giám đốc EVNSPC, thời gian qua, Tổng công ty đã nỗ lực cấp điện đầy đủ phục vụ nhu cầu nuôi trồng thủy sản khu vực phía Nam, tuy nhiên việc cấp điện cho nuôi tôm vẫn gặp một số khó khăn như: Quy hoạch vùng nuôi tôm chưa hoàn thiện; việc cung cấp điện cho nuôi tôm theo mùa vụ gặp nhiều khó khăn do các hộ dân nuôi nhỏ lẻ, thời vụ thả tôm đồng loạt làm cho phụ tải tăng đột biến làm quá tải cục bộ; đa số các hộ nuôi tôm sử dụng chính nguồn điện thắp sáng để chạy động cơ kéo quạt nước cung cấp oxy cho tôm dẫn đến quá tải lưới điện khu vực,...

      Tổng công ty đã có văn bản giao cho các đơn vị trực thuộc nghiên cứu và đề xuất triển khai sử dụng nguồn năng lượng mặt trời để cấp điện cho nuôi tôm. Hiện tại, đang khảo sát nghiên cứu phương án tích hợp tấm pin năng lượng mặt trời với bộ động cơ của dàn quạt. 

      Trong tình trạng áp lực cấp điện cho các khu vực nuôi tôm ở miền Nam và Đồng bằng Sông Cửu Long là rất lớn, việc xây dựng các dự án năng lượng tái tạo nói chung và điện mặt trời nói riêng với quy mô phù hợp sẽ góp phần đáp ứng nhu cầu cấp điện sản xuất, thúc đẩy và phát triển ngành nuôi tôm của khu vực.

      Cùng với việc đầu tư hàng trăm tỷ đồng để nâng cấp lưới điện, thời gian qua, Tổng công ty đã triển khai đề án “Hỗ trợ tiết kiệm điện cho các hộ nuôi tôm tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và một số tỉnh Nam Bộ giai đoạn 2016-2018”. Trong đó, 2 giải pháp “Thay thế gối đỡ trục dàn quạt (tạo khí ô-xy) chữ U bằng con lăn trục quay” và “Đồng trục hóa mô tơ với trục dẫn dàn quạt, kết hợp sử dụng con lăn đỡ trục quay thay thế con lăn gối đỡ chữ U” đã mang lại giá trị tiết kiệm hàng tỷ đồng/năm cho các hộ nuôi tôm, qua thực hiện thí điểm tại tỉnh Sóc Trăng. 

      Trong giai đoạn 2018 – 2019, EVNSPC tiếp tục lập đề án triển khai thí điểm giải pháp mới "thay động cơ điện hiệu suất cao, kết hợp bộ điều tốc với thay con lăn và chỉnh đồng trục dàn quạt với trục động cơ" đối với các hộ nuôi tôm tại tỉnh Sóc Trăng, Cà Mau, Bạc Liêu. Đây chính là sự kết hợp giữa mô hình mới với 2 mô hình đã được chứng minh hiệu quả tại tỉnh Sóc Trăng.

    • TP.HCM: Khuyến khích người dân sử dụng năng lượng sạch

      Trung bình hàng năm TP.HCM tiêu thụ khoảng 22 tỷ kWh điện năng, chiếm khoảng 15% so với cả nước. Trong bối cảnh thực hiện định hướng phát triển thành phố thông minh cần phải bao gồm khả năng giải quyết các thách thức về môi trường, trong đó giải pháp đầu tư phát triển năng lượng tái tạo đóng vai trò quan trọng.

      Đánh giá của Sở Tài nguyên và Môi trường TP.HCM cho thấy, tổng công suất năng lượng tái tạo trên địa bàn tính đến thời điểm hiện nay là 35,4 MW, so với nhu cầu phụ tải lớn nhất toàn thành phố là 3.575 MW. Ngoài ra, Thành phố không có nhiều diện tích đất cũng như địa hình phù hợp để phát triển các công trình sản xuất điện quy mô lớn như thủy điện hay nhiệt điện, điện hạt nhân. Mô hình điện gió cũng không thích hợp với TP.HCM do cần nhiều diện tích và lắp đặt phức tạp. Vì thế phát triển năng lượng mặt trời và tiết kiệm năng lượng là hướng đi TP.HCM nên lựa chọn.

      Theo thống kê của Sở Công Thương TP.HCM, giai đoạn 2011 - 2017, Thành phố đã tiết kiệm được 3.100 triệu kWh điện, góp phần giảm trên 2.039 triệu tấn CO2. Tuy nhiên, đối với lĩnh vực năng lượng tái tạo thì Thành phố phát triển còn chậm, chủ yếu là máy nước nóng năng lượng mặt trời. Nguồn phát điện từ năng lượng mặt trời còn chưa đáng kể, do giá thành đầu tư cao, trong khi giá bán điện chưa được nhà nước hỗ trợ.

      Hiện trên địa bàn Thành phố có khoảng 17.340 bình nước nóng sử dụng năng lượng mặt trời, góp phần cắt giảm được công suất hệ thống lưới điện khoảng 31 MW. Đối với điện mặt trời, hiện công suất lắp đặt pin mặt trời trên địa bàn thành phố ước đạt 2 MWp (có 1.838,2 kWp đã nối lưới); trong đó phân bố ở các tòa nhà cơ quan và DN 1.607,2 kWp (chiểm 87,5%), hộ gia đình 231 kWp (12,5%).

      Từ tháng 4/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam. Quyết định này cũng đã thúc đẩy mạnh mẽ sự đầu tư vể các dự án điện mặt trời và đặc biệt là dự án điện mặt trời trên mái nhà. Sau khi Quyết định được ban hành, Sở Công Thương TP.HCM đã làm việc với Tổng công ty Điện lực TP.HCM nhằm hỗ trợ người dân, DN trong việc ký hợp đồng mua điện, điểm đầu nối, cấp đồng hồ đo đếm 2 chiều... Đến nay, trên địa bàn đã có 274 khách hàng lắp đặt điện mặt trời nối lưới với tổng công suất là 3,6 MWp,  trong đó 245/274 khách hàng đăng ký bán lại phần điện dư cho ngành Điện đã được kiểm tra thử nghiệm các yêu cầu kỹ thuật nối lưới và gắn điện kế 2 chiều.

      Nghiên cứu của của cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) cho thấy, năng lượng tái tạo đang chiếm 2/3 các nguồn năng lượng mới. Trong đó năng lượng mặt trời dẫn đầu với khoảng 50% trong tổng số năng lượng tái tạo. Dự báo trong 5 năm tới, nguồn năng này có thể rẻ hơn năng lượng hóa thạch. Theo các chuyên gia, những sự tiến bộ của công nghệ cũng như những chính sách mới đang mở ra cơ hội thuận lợi cho phát triển điện mặt trời, cả ở quy mô hộ gia đình.

    • Phú Yên: Doanh nghiệp hào hứng với điện mặt trời áp mái

      Hệ thống điện mặt trời áp mái tại trụ sở Công ty Điện lực Phú Yên tại TP Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên được đưa vào sử dụng từ tháng 1/2018

      Công ty Điện lực Phú Yên là một trong những doanh nghiệp đầu tiên của tỉnh lắp đặt hệ thống năng lượng mặt trời áp mái với kinh phí đầu tư khoảng 1,5 tỷ đồng. Theo ông Thái Minh Châu - Giám đốc Công ty Điện lực Phú Yên, hệ thống được đưa vào sử dụng từ đầu năm nay đã giúp cho đơn vị tiết kiệm được từ 15 – 20% sản lượng điện tiêu thụ hằng tháng so với trước đó.

      Công ty cũng có kế hoạch tiếp tục lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại các trụ sở điện lực cấp huyện trong năm 2018. Đồng thời, phối hợp và hỗ trợ tư vấn cho các doanh nghiệp có nhu cầu thực hiện các giải pháp tiết kiệm điện cũng như đầu tư hệ thống điện mặt trời áp mái – ông Châu cho biết thêm.

      Theo ông Lê Xuân Nguyễn – Giám đốc Trung tâm Tư vấn năng lượng và tiết kiệm điện (thuộc Sở Công Thương Phú Yên), ngoài mô hình mà Công ty Điện lực Phú Yên đã thực hiện, Sở Công Thương cũng đang triển khai thí điểm điện mặt trời áp mái tại một số doanh nghiệp khác. Với những hiệu quả bước đầu, có thể nhân rộng mô hình này trên địa bàn toàn tỉnh.

      Ông Ngô Đa Thọ - Giám đốc Công ty TNHH MTV Masan Brewery Phú Yên cho biết, tiết kiệm chi phí nói chung và tiết kiệm điện nói riêng là vấn đề cần thiết trong các doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp này cũng đang có kế hoạch làm việc với Sở Công Thương để thực hiện kiểm toán năng lượng, xem xét khả năng đầu tư hệ thống năng lượng điện mặt trời. 

      Từ phía Hội Doanh nghiệp tỉnh Phú Yên, ông Ngô Văn Định – Phó Chủ tịch Hội cho hay, Hội luôn khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào các nguồn năng lượng mới để tiết kiệm chi phí cho sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm và góp phần giảm biến đổi khí hậu. Trong đó, Quỹ hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ của tỉnh sẽ tài trợ và bảo lãnh cho các doanh nghiệp có nhu cầu lắp đặt hệ thống năng lượng điện mặt trời - Lãnh đạo Hội Doanh nghiệp tỉnh Phú Yên khẳng định. 

    • Phát triển điện mặt trời: Nhìn từ Nhật Bản

      Trước sự cố Fukushima, Nhật Bản chưa chú trọng phát triển năng lượng tái tạo. Tỉ lệ của năng lượng tái tạo (bao gồm cả thủy điện) chỉ tăng từ 3,5% vào năm 1990 lên 4,6% vào năm 2002. Đến năm 1999, Nhật Bản mới sử dụng năng lượng mặt trời để phát điện với công suất 209 MW. Giai đoạn này, Nhật Bản chú trọng phát triển điện hạt nhân, điện khí thiên nhiên và nhiệt điện than, giảm sử dụng dầu do giá dầu đắt đỏ.

      Tuy nhiên, sau sự cố Fukushima, Nhật Bản buộc phải thay đổi chiến lược phát triển điện hạt nhân, chuyển sang sử dụng năng lượng tái tạo. Để thu hút nguồn vốn đầu tư vào lĩnh vực này, đặc biệt là năng lượng mặt trời (NLMT), Chính phủ Nhật Bản cam kết giá mua điện ổn định trong 10 năm với giá 44 Yên/kWh (tương đương 44 cent/kWh), mức giá cao nhất thế giới tại thời điểm đó. Kết quả, công suất lắp đặt của NLMT tăng mạnh, từ 5.000 MW năm 2011 lên 25.000 MW năm 2014. Trong đó, hệ thống NLMT trên mái nhà phát triển rất nhanh (chiếm 82,7% tổng công suất điện mặt trời), còn các các dự án NLMT thương mại chỉ chiếm 17,3%. 

      Trong khi các dự án điện mặt trời thương mại gặp một số khó khăn đặc thù, chính sách về phát triển năng lượng tái tạo đã thật sự kích thích các nhà đầu tư bỏ vốn vào hệ thống NLMT trên mái nhà. Hệ thống này khắc phục được những hạn chế của các dự án NLMT lớn như, giảm tiền thuê đất, không cần thiết phải kí hợp đồng tiêu thụ điện với các công ty điện lực địa phương…

      Việc đẩy mạnh phát triển các hệ thống điện mặt trời lắp mái đã tạo điều kiện cung cấp điện cho từng hộ tiêu thụ. Mô hình này cũng từng bước làm thay đổi căn bản cấu trúc của lưới điện phân phối ở Nhật Bản theo hướng đảm bảo kết nối nguồn năng lượng nhỏ lẻ, mỗi hộ gia đình vừa là đơn vị tiêu thụ, vừa là đơn vị phát điện.

      Còn với các dự án NLMT công suất lớn, mặc dù được kì vọng rất nhiều, nhưng lại không mấy thành công, do sự thay đổi chính sách của Chính phủ trong việc hỗ trợ các nguồn năng lượng tái tạo; do khó khăn trong bồi thường giải phóng mặt bằng và chuyển đổi đất nông nghiệp thành đất công nghiệp. Ngoài ra, các dự án năng lượng mặt trời công suất lớn cũng khó ký hợp đồng cung cấp điện với 4 công ty điện lực của Nhật Bản, do nguồn năng lượng này có tính bất ổn cao, khi hòa vào lưới điện sẽ làm giảm tính ổn định của hệ thống.

      Dù còn gặp nhiều khó khăn, Nhật Bản cũng đã gặt hái được những thành công nhất định trong việc phát triển năng lượng tái tạo, đặc biệt là NLMT. Mục tiêu của Nhật Bản đến năm 2030 là, NLMT sẽ chiếm 12% tổng công suất nguồn điện. 
       

    • Phương pháp xác định cơ cấu nguồn năng lượng tái tạo phù hợp trong Quy hoạch phát triển điện lực Quốc gia

      Hội thảo nằm trong khuôn khổ của Dự án “Chương trình năng lượng phát thải thấp” sử dụng ODA không hoàn lại của Chính phủ Hoa Kỳ (Dự án V – LEEP), nghiên cứu về khả năng tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo (NLTT) vào hệ thống điện Việt Nam trong Quy hoạch phát triển điện lực Quốc gia - tổng sơ đồ VIII (Quy hoạch điện VIII).

      Các chuyên gia từ Viện Năng lượng (Bộ Công Thương), các chuyên gia quốc tế cùng các đối tác, tổ chức có liên quan dự Hội thảo đã có nhiều tham luận, chia sẻ với mục tiêu xây dựng hiệu quả Quy hoạch điện VIII xem xét đến việc tích hợp tỷ trọng phù hợp của nguồn năng lượng tái tạo vào trong cơ cấu nguồn, đồng thời đảm bảo tính kinh tế, ổn định, hiệu quả của hệ thống điện Quốc gia. 

      Việt Nam đang trải qua thời kỳ tăng trưởng mạnh mẽ về kinh tế - xã hội, dẫn đến nhu cầu năng lượng rất lớn trong thời gian tới. Trong bối cảnh các nguồn năng lượng hóa thạch nội địa đang dần cạn kiệt, các nguồn thủy điện đã được khai thác hầu hết, việc phát triển NLTT ở Việt Nam là xu thế tất yếu nhằm đa dạng hóa nguồn cung năng lượng, đảm bảo an ninh năng lượng, giảm sự phụ thuộc vào than nhập khẩu và bảo vệ môi trường.

      Bên cạnh tiềm năng về NLTT tương đối dồi dào của Việt Nam, việc tăng nhanh số lượng các dự án đầu tư vào lĩnh vực này trong thời gian qua còn chủ yếu dựa trên các chính sách khuyến khích phát triển NLTT của Chính phủ; những tiến bộ về khoa học công nghệ dẫn đến chi phí đầu tư cho NLTT đã giảm đi đáng kể so với một vài thập kỷ trước.

      Tuy vậy, ngoài những ưu điểm đối với môi trường và phát triển bền vững nhờ giảm phát thải khí CO2, việc phát triển NLTT cũng đối mặt với những thách thức về khả năng hấp thụ và truyền tải công suất phát từ nguồn năng lượng tái tạo khi kết nối lưới điện chưa đủ mạnh, những vấn đề về ổn định hệ thống cũng như yêu cầu về tối ưu chi phí phát và vốn đầu tư nguồn và lưới điện truyền tải. 

    • Chuyển giao bí quyết công nghệ cho nhà đầu tư điện mặt trời

      Ông Paul English

      PV: Thủ tướng Chính phủ đã tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư bằng  cách xác định giá mua điện mặt trời là 9,35 UScent /kWh. Theo ông, liệu sẽ có một “làn sóng” đầu tư vào lĩnh vực điện mặt trời tại Việt Nam?  

      Ông Paul English: Việt Nam là một trong những quốc gia có lượng bức xạ lớn nhất trong bản đồ bức xạ mặt trời thế giới. Việt Nam cũng có kết cấu hạ tầng mạng lưới điện phát triển. Tuy nhiên, giá mua điện thấp, chưa tạo thuận lợi cho nhà đầu tư chính là một rào cản phát triển nguồn năng lượng tái tạo này ở Việt Nam.

      Việc Chính phủ Việt Nam ban hành giá mua điện mặt trời đã chính thức tháo gỡ điểm nghẽn cho thị trường mua bán điện ở Việt Nam. Quyết định 11/2017/QĐ-TTg rất cần thiết, góp phần thúc đẩy phát triển điện năng lượng mặt trời, đáp ứng nhu cầu năng lượng đang tăng nhanh tại Việt Nam. 

      Với việc ứng dụng công nghệ và thay đổi chiến lược, thỏa mãn yêu cầu ngày càng cao của khách hàng về sản lượng, sự ổn định nguồn điện cũng như nguồn năng lượng sạch, đảm bảo bền vững môi trường, nhà đầu tư và nhà cung cấp thiết bị năng lượng mặt trời đã sẵn sàng nắm bắt cơ hội bùng nổ thị trường năng lượng mặt trời mà tôi tin rằng, chưa có dấu hiệu giảm nhiệt trong thời gian tới.

      PV: Theo Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, các nhà máy điện mặt trời sẽ phải hoàn thành xây dựng và nối lưới trước tháng 6/2019 mới được hưởng mức giá 9,35 UScent/kWh. Vậy, theo ông, thiết bị và công nghệ có ảnh hưởng như thế nào đến tính khả thi của các dự án điện măt trời?

      Ông Paul English: Công nghệ sử dụng trong các dự án điện mặt trời nối lưới đã có những bước nhảy vọt những năm gần đây. Đó là, nâng cao hiệu suất vật liệu và tế bào quang điện của các tấm pin năng lượng mặt trời, tăng hiệu suất, hiệu năng và định mức điện áp của bộ nghịch lưu, tối ưu hóa thành phần cân bằng năng lượng và kết nối lưới ổn định hơn. 

      Những cải tiến này có ảnh hưởng lớn đến vốn đầu tư và chi phí quản lý vận hành trong suốt vòng đời dự án. Chi phí này đã giảm 85% trong giai đoạn 2009 - 2016 nhờ những tiến bộ công nghệ.

      PV: Công nghệ của GE đã hỗ trợ quá trình đánh giá và phê duyệt các dự án điện mặt trời thuận lợi như thế nào, thưa ông?

      Ông Paul English: GE là đơn vị đầu tiên đưa ra công nghệ 1,5 kV dựa trên kinh nghiệm cung cấp các bộ nghịch lưu với tổng công suất đặt hơn 4 MW trên toàn cầu. Công nghệ này giúp nhà máy điện mặt trời có thiết kế đơn giản hơn, hoạt động hiệu quả hơn và giảm bớt sự đầu tư cần thiết vào kết cấu hạ tầng. So với công nghệ 1 kV, bộ nghịch lưu của GE có thể giảm 3% chi phí cho hệ thống và tiết kiệm 15% chi phí vận hành, nhờ đó dự án điện mặt trời có sức cạnh tranh cao và sinh lời nhiều hơn.

      GE đã đầu tư nhiều dự án năng lượng tái tạo trên toàn cầu với công suất đặt 10 GW. Bộ phận Dịch vụ tài chính năng lượng của GE cho phép công ty đóng vai trò của một nhà đầu tư khi tham gia nắm quyền sở hữu dự án như cổ đông nhỏ. 

      Mô hình kinh doanh kép này không chỉ đảm bảo khách hàng nắm quyền kiểm soát dự án mà còn tiếp cận năng lực tài chính của GE để tăng khả năng vay vốn ngân hàng cho dự án. Điều này đồng nghĩa, dự án năng lượng mặt trời sẽ được triển khai nhiều hơn, tạo cơ hội cho các đối tác và nhà đầu tư tiếp cận nguồn kiến thức kỹ thuật của GE trong suốt các giai đoạn triển khai dự án. 

      Đây chính là lợi thế cho các đối tác của GE, vì chúng tôi xác định, chiến lược phát triển là dẫn đầu trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và xu hướng IoT.

      PV: Sở hữu danh mục sản phẩm với đa dạng giải pháp và thiết bị năng lượng mặt trời ở nhiều quốc gia trên thế giới, GE có những cam kết gì góp phần thúc đẩy việc phát triển thị trường điện mặt trời Việt Nam, thưa ông?

      Ông Paul English: Xét trên nhiều khía cạnh, chúng tôi nhận thấy đây là thời điểm chín muồi để củng cố vị thế của GE tại Việt Nam. Với xu hướng phát triển hiện nay, ngành Năng lượng mặt trời hứa hẹn một triển vọng tươi sáng, các nhà đầu tư sẽ hưởng lợi khi GE tham gia tích cực vào các dự án lắp đặt, ứng dụng các giải pháp phần cứng và phần mềm trong lĩnh vực Điện mặt trời.

      GE cũng đang tích cực thiết lập quan hệ đối tác với các kỹ sư, chuyên gia và nhà thầu xây dựng trong nước, đồng thời sẽ chuyển giao bí quyết công nghệ và năng lực tài chính cho khu vực. 

      Sáng kiến chuyển giao công nghệ của GE là gói giải pháp năng lượng mặt trời gồm nhiều công nghệ quan trọng như, các tấm pin mặt trời, bộ nghịch lưu 1,5 kV, trạm biến áp, hệ thống lưu trữ pin và các phần mềm kỹ thuật số tiên tiến... Gói năng lượng này được xác lập nhằm nâng hiệu suất của dự án năng lượng mặt trời không chỉ về mặt chi tiết kỹ thuật phần cứng mà còn được số hóa với khả năng giám sát toàn bộ hệ thống.

      Một điểm khác biệt quan trọng của gói năng lượng này là GE sẽ tích hợp tất cả công nghệ chủ chốt được đề cập ở phần trên vào một hệ thống đã được tối ưu hóa. Nhờ đó, khách hàng có thể vận hành hệ thống ít phức tạp, ít rủi ro hơn, cũng như tăng độ tin cậy và tính sẵn sàng của hệ thống. 

      PV: Xin cảm ơn ông! 

    • Đánh giá tiềm năng điện mặt trời nối lưới ở Việt Nam

      Hội thảo là một hoạt động trong khuôn khổ Dự án Năng lượng Tái tạo và Tiết kiệm Năng lượng (4E) do Tổ chức Hợp tác Phát triển GIZ và Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo, Bộ Công Thương hợp tác triển khai dưới sự ủy quyền của Bộ Hợp tác Kinh  tế và Phát triển Liên bang Đức (BMZ).

      Theo kết quả nghiên cứu sơ bộ cho thấy, tổng tiềm năng kinh tế của các dự án điện mặt trời trên mặt đất tại Việt Nam đạt ít nhất 07 Gigawatt (GW) vào năm 2020. Tiềm năng này vượt xa mục tiêu quốc gia là 0,8 GW vào năm 2020. Tuy nhiên trong xu thế chi phí đầu tư và tài chính cho các dự án điện mặt trời đang ngày càng giảm, tiềm năng kinh tế có thể đạt mức vài trăm Gigawatt trong giai đoạn 2021 - 2030 khi thị trường bắt đầu phát triển, và vượt xa mục tiêu đã đề ra là 12 Gigawatt vào năm 2030.

      Công tác đánh giá do GIZ tài trợ được thực thi bởi Viện Năng lượng Việt Nam với vai trò là đơn vị tư vấn trong nước và Viện Becquerel là đơn tư vấn quốc tế, đã một lần nữa khẳng định Việt Nam là quốc gia có tiềm năng dồi dào để phát triển điện mặt trời, đặc biệt ở khu vực miền Trung và Nam. Trong bối cảnh thị trường hiện nay, hầu hết các dự án đều đang được triển khai ở tỉnh Bình Thuận và Ninh Thuận. Tuy nhiên, sau năm 2020, sẽ có nhiều dự án điện mặt trời ở khu vực miền Trung và miền Nam, bao gồm các tỉnh như Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước, Long An, Bà Rịa – Vũng Tàu và khu vực giáp ranh giữa tỉnh Đồng Nai và Bình Thuận.

      Phát biểu tại Hội thảo, bà Sonia Lioret, Trưởng dự án 4E của GIZ cho biết: Chúng tôi hi vọng rằng báo cáo đánh giá quốc gia này sẽ là một nguồn tham khảo bổ ích cho những nhà hoạch định chính sách và các đối tác khác trong lĩnh vực năng lượng tái tạo. Bản báo cáo cuối cùng cũng sẽ tổng hợp các ý kiến từ các đại biểu tham gia tại hội thảo ngày hôm nay. Nó đem đến cho các sở ban ngành tỉnh và các nhà đầu tư một bức tranh toàn cảnh về tiềm năng điện mặt trời và các địa phương đang phát triển điện mặt trời. Trong bối cảnh thị trường hiện nay, nguồn tài chính cho các dự án điện mặt trời có thể còn nhiều khó khăn, tuy nhiên, khi thị trường phát triển hơn nữa và chi phí giá thành giảm, tiềm năng phát triển điện mặt trời sẽ tăng lên nhanh chóng.

      "Hoạt động đánh giá cũng là một sáng kiến quan trọng bởi nó giúp cho Việt Nam phát triển năng lượng tái tạo, và đạt được các mục tiêu trong Quy hoạch Phát triển Điện lực Quốc gia. Kết quả từ quá trình đánh giá cũng có thể được sử dụng để phát triển cơ chế đấu thầu các dự án điện mặt trời ở Việt Nam trong tương lai” - Bà Sonia Lioret nhấn mạnh.

      Trong quá trình đánh giá, các chuyên gia đã đi theo cả hai hướng tiếp cận từ trên xuống và từ dưới lên. Kết quả sơ bộ được tính toán bằng phần mềm Hệ thống Thông tin Địa lý (Geographical Information System – GIS), dựa trên các tiêu chí khác nhau như bức xạ mặt trời, sử dụng đất, hệ thống cơ sở hạ tầng đường xá và mạng lưới điện. Chuyên gia cũng tính toán tiềm năng kinh tế thông qua việc trả lời cho câu hỏi: Với biểu giá FIT như hiện nay, những khu vực nào có thể phát triển điện mặt trời?

      Thêm vào đó, nhóm nghiên cứu cũng xác định được những dự án điện mặt trời đang được dự kiến triển khai ở các tỉnh. Báo cáo đánh giá cũng đã xác định được các vùng phát triển điện mặt trời và lập danh sách các dự án điện mặt trời cho đến năm 2020.  

      Kể từ tháng 4 năm 2017 với Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, các dự án điện mặt trời được phép bán điện với một giá cố định là 9,35 cent Mỹ/kWh lên lưới điện quốc gia. Ngày 12/09/2017, Bộ Công thương cũng đã ban hành Thông tư 16/2017/TT-BCT trong đó đưa ra những hướng dẫn cần thiết để triển khai Quyết định này. 

    • Năng lượng sạch trên quần đảo Trường Sa

      Trước đây, trong điều kiện ở xa đất liền các đảo chủ yếu sử dụng máy nổ chạy dầu để phát điện phục vụ sinh hoạt, thắp sáng và làm việc của bộ đội và nhân dân trên đảo. Việc sử dụng nguồn năng lượng dầu chạy máy phát điện khá tốn kém, lại phát ra tiếng nổ ồn, gây ô nhiễm môi trường, nên việc duy trì nguồn điện ổn định là rất khó khăn, thường chỉ dùng vài giờ vào buổi tối và trong trường hợp thật cần thiết.

      Nhằm cải thiện tình hình này, năm 2009, các đảo đã được đầu tư lắp đặt hệ thống điện năng lượng sạch, tận dụng nguồn năng lượng gió và bức xạ mặt trời với nền nhiệt cao tại các đảo để chuyển hóa thành năng lượng điện phục vụ sinh hoạt và huấn luyện sẵn sàng chiến đấu.

      Trung tá Trần Minh Đức, Bí thư đảng bộ, Chính trị viên đảo Trường Sa Đông cho biết: Hiện nay, toàn đảo Trường Sa Đông có 10 quạt gió cùng hệ thống pin năng lượng mặt trời được bố trí lắp đặt trên các mái nhà, các vị trí theo yêu cầu của cơ quan chuyên môn. Trong điều kiện thời tiết ở đảo là vào mùa hè trời nắng nhưng ít gió, vào mùa mưa lại ít nắng, thừa gió, có hai hệ thống tua-bin gió và pin năng lượng mặt trời đã bổ trợ cho nhau, đảm bảo duy trì nguồn điện sử dụng thường xuyên trên đảo.

      Trong thời gian qua, hệ thống điện năng lượng này đã phát huy hiệu quả. Cán bộ, chiến sỹ trên đảo đề cao tinh thần tự học để sử dụng, bảo quản, bảo dưỡng và thực hành tiết kiệm điện, góp phần tăng cường tuổi thọ cho hệ thống quạt gió, pin năng lượng cũng như hệ thống ắc quy để phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày của bộ đội.

      Công nhân khắc phục bảo trì hệ thống điện năng lượng sạch trên đảo Đá Lát

      Có điện năng lượng sạch, các sinh hoạt trên đảo đã thuận lợi và chính quy hơn so với trước. Nếu trước đây, việc bảo quản thực phẩm trên đảo gặp nhiều khó khăn do nguồn điện không ổn định, thì từ khi có hệ thống điện năng lượng sạch, các đảo đã sử dụng tủ cấp đông để bảo quản, góp phần nâng cao chất lượng đời sống cho cán bộ và chiến sỹ, cũng như phục vụ công tác huấn luyện có sử dụng thiết bị điện và phục vụ việc chiếu sáng vào ban đêm, đáp ứng được yêu cầu thiết thực với điều kiện tác chiến ở biển đảo.

      Do trong quá trình sử dụng gần 10 năm, với điều kiện khí hậu khắc nghiệt, điều kiện bảo dưỡng, bảo trì gặp nhiều khó khăn, nhất là do ảnh hưởng của cơn bão số 15 và 16 trong năm 2017, một số công trình điện trên các đảo đã bị xuống cấp, hư hỏng cần phải bảo trì, thay thế, nâng cấp. Nhằm sớm khắc phục và duy trì nguồn điện ổn định trên các đảo, Tổng Công ty Điện lực Việt Nam (EVN) đã cử đội ngũ kỹ sư giám sát, tổ chức kiểm tra, tiến hành bảo dưỡng, thay thế các hệ thống điện tại các đảo.

      Tại đảo Đá Lát, chúng tôi gặp kỹ sư trẻ Đoàn Ngọc Lợi, Tổ trưởng Tổ Giám sát thi công lắp đặt, khôi phục hệ thống năng lượng sạch, hiện đang công tác tại Phòng Kinh doanh thuộc Công ty Điện lực Ninh Thuận, anh vui vẻ cho biết: Điện lực Ninh Thuận được Tổng công ty Điện lực miền Nam ủy quyền làm nhiệm vụ khôi phục hệ thống điện của các đảo. Để hoàn thành việc khôi phục này trước Tết Nguyên đán Mậu Tuất, chúng tôi đã chia làm 2 tổ đi 2 tuyến. Tổ công tác của chúng tôi gồm hai anh em thuộc Công ty Điện lực Ninh Thuận và 7 người thuộc đơn vị thi công. Trong thời gian khoảng 1 tháng, chúng tôi quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ tại 11 đảo và điểm đảo bao gồm: Đảo Đá Lát, đảo Đá Đông A, B và C, đảo Đá Tây A, B và C, đảo Thuyền Chài A, B và C và đảo Trường Sa. Do điều kiện thời tiết không thuận lợi, lại xuất phát muộn nên đến ngày 18-1, chúng tôi mới tiếp cận được đảo đầu tiên. Với quyết tâm hoàn thành sớm nhất có thể, khi đặt chân lên đảo anh em kỹ sư đã làm việc cho đến tận 22 giờ. Hiện chúng tôi đã thay một số tấm pin bị bão làm hư hỏng, thay thế 40 bình ắc quy đã hết tuổi thọ, cùng một số đèn chiếu sáng và quạt gió trên đảo Đá Lát. Sắp tới chúng tôi sẽ lần lượt tới các đảo còn lại để thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch được giao. Nếu thời tiết không thuận lợi, việc chưa hoàn thành, chúng tôi sẽ làm cả trong những ngày Tết để kịp thời phục vụ quân dân trên đảo.

      Các công trình hệ thống năng lượng điện sạch tại các đảo không chỉ cung cấp nguồn điện sinh hoạt, cải thiện căn bản đời sống chiến sỹ, nhân dân trên đảo mà còn là nhiệm vụ chính trị, góp phần phát triển kinh tế-xã hội và giữ vững chủ quyền quốc gia. Trong điều kiện môi trường biển khắc nghiệt, xa đất liền, thiết bị điện dễ hư hỏng, với việc bàn giao hệ thống điện trên các đảo cho EVN quản lý, bảo trì, bảo dưỡng thường xuyên sẽ đảm bảo nguồn điện cung ứng ổn định, lâu dài, qua đó càng khẳng định chủ quyền vững chắc biển đảo của Tổ quốc.

    • Đồng phát năng lượng tại nhà máy mía đường: Rào cản nào?

      2,8 tỉ kWh vào năm 2030    

      Theo ông Phạm Quốc Doanh, Chủ tịch Hiệp hội mía đường Việt Nam (VSSA), hiện nay cả nước có 41 nhà máy đường, với quy mô tiêu thụ 155.000 tấn mía/ngày. Bã mía có thể sử dụng để làm nguyên liệu sản xuất năng lượng sinh khối, phục vụ nhu cầu sử dụng điện của chính nhà máy và hòa lưới quốc gia. Trong niên vụ 2016-2017, đã có 8/41 nhà máy đường đã đưa lên nối lưới, với tổng công suất nối lưới là 99,8 MW, sản lượng điện năng bán nối lưới đạt trên 186,3 triệu kWh.

      Hiện ngành mía đường Việt Nam đang xây dựng Đề án tái cơ cấu theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, thực hiện cơ cấu lại và đa dạng hóa sản phẩm từ cây mía trong ngành mía đường. Nếu có giải pháp đồng bộ, thực hiện tái cơ cấu hiệu quả thì đến năm 2030, cả nước sẽ có 40 triệu tấn mía; điện năng sản xuất từ bã mía có thể đạt 4,7 triệu MWh, tương ứng công suất phát điện 1.600 MW, lượng điện thương phẩm lên lưới có thể đạt trên 2,8 tỉ kWh. 

      Ông Phạm Quốc Doanh chia sẻ: Cơ cấu nguồn điện ở Việt Nam có tỷ trọng thủy điện lớn, nhưng vào mùa khô, công suất phát điện của các nhà máy thủy điện xuống thấp. Tuy nhiên, đây lại là thời điểm sản xuất điện của các nhà máy mía đường. Do vậy nếu có thể phát triển các dự án năng lượng từ bã mía thì nguồn năng lượng sinh khối sẽ đóng góp tích cực vào đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.

      Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức (GIZ) cũng đánh giá tiềm năng phát triển của các dự án đồng phát năng lượng từ ngành mía đường Việt Nam là rất lớn. Bà Sonia Lioret - Trưởng Dự án Năng lượng tái tạo và hiệu quả năng lượng - GIZ cho biết: Để cạnh tranh và phát triển trong bối cảnh các rào cản về thuế quan trong khu vực ASEAN đang được giảm trừ, một số nhà máy đường tự chủ động năng lượng bằng cách phát điện từ bã mía, nhằm tiết kiệm được chi phí mua điện bên ngoài và tận dụng được phụ phẩm do chính các nhà máy sinh ra. Do vậy, đầu tư vào các dự án nhiệt điện đồng phát sử dụng bã mía là đầu tư nhiều mục đích: Năng lượng, khí hậu, nông nghiệp và tăng khả năng cạnh tranh của Việt Nam. 

      Hiện nay, 41 nhà máy đường tiêu thụ khoảng 155.000 tấn mía/ngày

      Những “nút thắt”

      Mục tiêu Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo quốc gia đến năm 2030 chỉ có thể đạt được khi có sự tham gia đầu tư từ khu vực tài chính tư nhân. Tuy nhiên, mức giá mua điện sinh khối nối lưới trong nhà máy đường đang ở mức chỉ 1.220 đồng/kWh (tương đương 5,8 US cent/kWh), đây là mức giá thấp nhất trong tất cả các nguồn điện năng lượng sinh khối nói riêng và năng lượng tái tạo nói chung.

      Chủ tịch Hiệp hội mía đường Việt Nam cho biết, mỗi tấn bã mía hiện được đối tác nước ngoài thu mua với giá hơn 500.000 đồng. Nếu tính toán chi tiết thì việc bán bã mía còn đem lại lợi nhuận cao hơn là phát điện với giá bán hiện hành. Do vậy, rất khó thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào dự án đồng phát điện tại nhà máy mía đường.

      Bên cạnh đó, suất đầu tư cho các dự án đồng phát điện tại nhà máy đường giao động vào khoảng 600.000 USD/MW cho tới 1,2 triệu USD/MW, tùy thuộc vào công nghệ thiết bị trung bình của Trung Quốc hay công nghệ tiên tiến của Châu Âu, Úc,… Suất đầu tư cao trong khi giá bán thấp, thời gian thu hồi vốn kéo dài khiến các nhà đầu tư chùn bước. Để giải quyết “nút thắt” này, hiện Hiệp hội mía đường Việt Nam đang kiến nghị Bộ Công Thương nâng cao mức giá mua điện sinh khối nối lưới trong nhà máy đường.

      Việc đồng phát điện tại các nhà máy mía đường còn gặp khó khăn về vấn đề thời vụ của nguồn nguyên liệu, khi thời gian thu hoạch mía chỉ kéo dài khoảng 3 tháng. Ông Vũ Hiệp – Phó giám đốc trung tâm Năng lượng tái tạo - Viện Năng lượng, Bộ Công Thương tư vấn, các nhà máy cần linh hoạt lựa chọn công nghệ và nhiên liệu sản xuất điện để có thể vận hành quanh năm. Công nghệ hoàn hảo cho nhà máy mía đường là công nghệ đồng phát có thông số lò hơi từ 500 độ C, tua-bin trích hơi hoặc đối áp, tua-bin ngưng hơi. Đồng thời, các nhà đầu tư có thể sử dụng nhiên liệu sinh học thay thế quanh năm (như gỗ vụn, trấu, rơm rạ..), làm tăng phát điện và tăng doanh thu, tạo sự hiệu quả ổn định, lâu dài của dự án. 

      Khả năng phát điện của mía (Nguồn: Hiệp hội mía đường Việt Nam)

      Điều kiện

      Tiềm năng phát điện của 1 tấn cây mía

      Tiềm năng phát điện của 1 ha mía

      Nhà máy không bán điện

      40 kWh

      2.520 kWh

      Nhà máy bán điện nối lưới, công nghệ trung bình

      83 kWh

      5.229 kWh

      Nhà máy bán điện nối lưới, công nghệ tiên tiến

      118 kWh

      7.486 kWh

      Việt Nam đặt mục tiêu đưa tỷ lệ điện năng sản xuất từ nguồn sinh khối trong tổng sản lượng điện sản xuất từ khoảng 1,0% năm 2015 lên khoảng 3,0% vào năm 2020; khoảng 6,3% vào năm 2030 và khoảng 8,1% vào năm 2050.

      (Theo Chiến lược phát năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050)

    • Phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam: Tiềm năng lớn chưa được khai thác

      Thế mạnh lớn

      Ông Hoàng Quốc Vượng – Thứ trưởng Bộ Công Thương cho biết, Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, số giờ nắng bình quân trong năm từ 2.500 - 3.000 giờ với nhiệt độ bình quân năm trên 21 độ C. Ngoài ra, Việt Nam có tiềm năng lớn về các dạng năng lượng tái tạo (NLTT) khác như, gió, sinh khối... Đây là những nguồn năng lượng sạch, quý giá, cần được khai thác một cách hợp lý. 

      Trên thế giới, NLTT có 3 dạng chính là năng lượng gió, năng lượng mặt trời và  năng lượng sinh khối. Việt Nam là quốc gia nhiệt đới gió mùa, có bờ biển dài trên 3.260 km, gió biển quanh năm. Chính vì vậy, Việt Nam có thể tận dụng thế mạnh này để phát triển các nguồn NLTT.

      Ông Nguyễn Văn Vy – Phó Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam cho biết, với công nghệ hiện đại, chỉ cần tốc độ gió 5m/s trở lên, tua bin đã có thể phát ra điện. Ước tính, điện gió trên đất liền của Việt Nam có thể tạo ra khoảng 40-50 nghìn MW, nếu tính thêm tiềm năng điện gió ngoài khơi, Việt Nam có thể phát triển khoảng trên 100 nghìn MW. 

      Cùng với đó, bức xạ mặt trời tại Việt Nam cũng được coi là nguồn năng lượng vô tận. Mức độ bức xạ mặt trời tính bình quân có thể đạt khoảng 3-5 kWh/m2/ngày, số giờ nắng bình quân hàng năm khoảng 2.500 -3.000 giờ. Việt Nam có thể lắp đặt các tấm pin năng lượng mặt trời ở nhiều vùng khác nhau như, trên bờ biển, trên hồ nước, đồng bằng, rừng núi, trên mái nhà… Nếu lấy trung bình cứ khoảng 1 ha thu được 1 MW điện mặt trời, Việt Nam có thể sản xuất ra hàng chục ngàn MW công suất từ bức xạ năng lượng mặt trời.

      “Đối với nguồn năng lượng sinh khối, Việt Nam là nước có nông, lâm, ngư nghiệp phát triển, phụ phẩm từ rừng, biển, nông nghiệp hàng năm rất to lớn. Ngoài ra, việc tận dụng các nguồn rác thải công nghiệp, sinh hoạt từ các thành phố… đều có thể sản xuất ra điện. Nguồn năng lượng sinh khối của Việt Nam năm 2015 đạt khoảng 58 triệu TOE, dự kiến năm 2030 sẽ đạt khoảng 70 triệu TOE và năm 2050 sẽ đạt khoảng 88 triệu TOE”, ông Vy cho biết.

      Việt Nam có rất nhiều tiềm năng phát triển năng lượng tái tạo, nhất là điện năng lượng mặt trời 

      Cần có chính sách hỗ trợ hiệu quả

      Năm 2015, Chiến lược phát triển NLTT của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Chính phủ phê duyệt. Đây có thể coi là nền tảng cho sự phát triển NLTT tại Việt Nam, khuyến khích, huy động mọi nguồn lực xã hội để phát triển NLTT với giá hợp lý, tăng dần tỷ lệ NLTT trong tổng sản lượng và tiêu dùng năng lượng quốc gia. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai đầu tư các dự án NLTT còn gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc. 

      Đại diện ban Quản lý Đầu tư (EVN) cho biết, ngoài những khó khăn về tìm nguồn vốn, giải phóng mặt bằng... những dự án NLTT vẫn còn nhiều vướng mắc khác như, Quy hoạch NLTT mới chỉ đề cập đến quy mô công suất theo vùng, theo khu vực, chưa xác định địa được địa điểm cụ thể, gây khó khăn trong việc quy hoạch và phát triển đồng bộ lưới điện. Công suất phát của các dự án NLTT không ổn định, thay đổi theo cường độ gió, bức xạ mặt trời..., với quy mô công suất lớn cần phải có các nguồn điện dự phòng thay thế, kèm theo đó là các giải pháp đảm bảo vận hành an toàn, ổn định hệ thống điện. Ngoài ra, hệ thống tiêu chuẩn chuyên ngành/ tiêu chuẩn thiết kế, vận hành... đối với lĩnh vực NLTT còn thiếu và chưa đồng bộ.

      Để tạo điều kiện phát triển NLTT, Nhà nước cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện và ban hành cơ chế, chính sách đặc thù (vốn, thuế, đất đai...) thu hút các nguồn lực đầu tư phát triển các nguồn điện từ NLTT. Đồng thời, lập quy hoạch phát triển nguồn điện NLTT cấp tỉnh, cấp quốc gia, gắn liền với việc ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia, các tiêu chuẩn chuyên ngành liên quan đến công tác thiết kế, vận hành… các nguồn điện NLTT; tiêu chuẩn đấu nối lưới điện của các nguồn NLTT; các tiêu chuẩn kỹ thuật các thiết bị được phép tham gia vào phát điện và truyền tải điện từ nguồn NLTT...

      Bên cạnh đó là xây dựng và ban hành các cơ chế, chính sách đồng bộ về hệ thống truyền tải, phân phối điện cũng như các quy định khác, đảm bảo vận hành ổn định,  hiệu quả hệ thống điện có sự tham gia của sản lượng điện từ NLTT.

      Ông Nguyễn Văn Vy – Phó Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam cho rằng, Nhà nước cần xây dựng chính sách ổn định, lâu dài cho phát triển NLTT, tăng độ tin cậy cho các nhà đầu tư. Đồng thời xây dựng, ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trong quá trình thiết kế, đầu tư xây dựng và quản lý khai thác vận hành các công trình nguồn điện từ NLTT; các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia cho lưới điện đồng bộ với các nguồn điện sử dụng NLTT và các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với các công trình, thiết bị khác liên quan đến NLTT, áp dụng thống nhất trong toàn quốc. 

    • Đan Mạch hỗ trợ Việt Nam phát triển điện gió

      Hội thảo thu hút sự tham gia của đông đảo các chuyên gia

      Phát biểu tại Hội thảo, ông Clive Turton - Chủ tịch Vestas khu vực châu Á - Thái Bình Dương cho hay, Việt Nam có bờ biển dài, có diện tích đất lớn, nguồn gió dồi dào và là quốc gia có tiềm năng điện gió lớn nhất khu vực ASEAN. Sản lượng điện gió có thể lên tới 30 GW nếu được đầu tư đúng mức. Hiện Việt Nam cũng đang có nhiều nỗ lực trong việc phát triển năng lượng gió.

      Tuy tiềm năng dồi dào, nhưng theo đánh giá của nhiều chuyên gia, năng lượng gió tại Việt Nam chưa được đầu tư và khai thác một cách tương xứng. Cụ thể, đến thời điểm này, Việt Nam mới chỉ có 6 dự án điện gió đi vào vận hành và phát điện, với tổng công suất khoảng gần 200 MW. Nguyên nhân, do khả năng hạn chế của chủ đầu tư trong việc phát triển dự án đầu tư khả thi để có thể tiếp cận nguồn vốn vay thương mại và quốc tế.

      Ngoài ra, theo ông Mai Văn Huế - Chủ tịch Công ty CP Tân Hoàn Cầu, giá mua điện thấp là một trong những khó khăn lớn của nhà đầu tư. Trong bối cảnh kinh tế khó khăn, Chính phủ không thể mua điện gió với giá cao như các nước Thái Lan, Hàn Quốc (khoảng 25 cent/kWh). Giá điện gió ở Việt Nam hiện nay chỉ là 7,8 cent/kWh. Do đó, các nhà đầu tư quan ngại về hiệu quả kinh tế và khả năng thu hồi vốn khi đầu tư vào những dự án năng lượng tái tạo này.

      Một trong những thách thức nữa của việc phát triển năng lượng tái tạo, trong đó có điện gió là việc đảm bảo độ tin cậy khi hòa vào lưới điện quốc gia. Về vấn đề này, đây là câu hỏi mà nhiều nhà đầu tư cũng như các chuyên gia hoạt động trong lĩnh vực này đã và đang giải quyết. “Tuy nhiên, với chúng tôi, đây không phải là vấn đề. Điển hình, Đan Mạch tính đến ngày hôm qua đã có 87% năng lượng gió. Việc sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật nhằm giữ sự ổn định khi hòa năng lượng gió vào lưới điện, Vestas đã có kinh nghiệm rất nhiều năm và sẵn sàng chia sẻ với Việt Nam”, ông Clive Turton cho hay.

      Ông Đỗ Đức Quân, Phó Cục trưởng Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo (Bộ Công Thương) cho biết, năng lượng tái tạo sẽ là nguồn năng lượng chiếm lĩnh trong thế kỷ 21. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng này. Để thúc đẩy đầu tư, phát triển các nguồn năng lượng tái tạo, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các chính sách và cơ chế khuyến khích, ưu tiên như: Giảm giá FIT hợp đồng mua bán điện mẫu cho phát triển năng lượng điện sinh khối, điện sản xuất từ rác thải rắn, điện mặt trời và điện gió. Riêng giá FIT hỗ trợ phát triển điện gió cũng đang được Thủ tướng Chính phủ xem xét điều chỉnh cho phù hợp.

      Đồng thời hàng loạt các quy hoạch phát triển điện lực tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo và quy hoạch phát triển điện gió ở địa phương cũng đã được UBND các tỉnh xây dựng và Bộ Công Thương phê duyệt ban hành.

      Cũng theo ông Quân, trong lộ trình phát triển nguồn năng lượng tái tạo, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục hoàn chỉnh khung chính sách pháp lý, đề xuất ban hành các cơ chế phù hợp, khuyến khích phát triển nguồn năng lượng tái tạo trong thời kỳ mới; tăng cường tái cơ cấu quản lý và nâng cao năng lực thực hiện của các cấp; nghiên cứu công nghệ lưới điện thông minh, kỹ thuật lưu trữ năng lượng và khả năng dự báo, nhằm tối ưu hóa khả năng tiếp nhận nguồn điện sử dụng năng lượng tái tạo, đảm bảo phát triển ổn định, an toàn và bền vững.

       “Là quốc gia có công nghệ và kinh nghiệm hàng đầu trên thế giới về phát triển điện gió, tôi hi vọng Đan Mạch sẽ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam chuyển giao công nghệ, nâng cao khả năng chuyên môn, cung cấp nguồn tài chính thông qua hợp tác doanh nghiệp với doanh nghiệp và hợp tác nghiên cứu phát triển”, ông Quân chia sẻ.

      Bà Charlotte Laursen - Đại sứ Đan Mạch tại Việt Nam cho hay, thời gian qua, Việt Nam và Đan Mạch đã hợp tác trong lĩnh vực năng lượng. Đan Mạch sẽ tiếp tục hỗ trợ để Việt Nam có thể đạt mục tiêu tương lai năng lượng xanh hơn, củng cố quan hệ Việt Nam - Đan Mạch trong ngành năng lượng.

      Tại Hội thảo, các đại biểu cũng đã thảo luận về các chiến lược giảm thiểu rủi ro, gia tăng lợi nhuận; giải pháp tài chính cho việc kinh doanh điện gió…

    • TP.HCM kêu gọi đầu tư xử lý chất thải rắn bằng công nghệ đốt phát điện

      Bí thư Thành ủy TP.HCM Nguyễn Thiện Nhân thị sát máy phát điện từ  rác thải tại bãi rác Gò Cát

      TP.HCM hiện có hơn 8.000 tấn/ngày rác thải sinh hoạt, chưa kể rác thải công nghiệp và y tế. Với tốc độ phát triển kinh tế TP và tốc độ tăng cơ học về dân số, lượng rác thải cần dự báo cẩn thận kể cả rác thải công nghiệp, rác thải y tế.

      Theo ông Nguyễn Toàn Thắng – Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường TP.HCM, Thành phố đặt ra mục tiêu xử lý bằng công nghệ chôn lấp hợp vệ sinh tối đa là 50% vào năm 2020, đến năm 2025 tối đa là 20%, triển khai các giải pháp đồng bộ trong duy tu, bảo dưỡng bãi chôn lấp chất thải sau khi ngưng tiếp nhận, khuyến khích xã hội hóa việc tái chế và sản xuất điện năng từ các bãi chất thải đã được chôn lấp trong các năm qua và ưu tiên các giải pháp tái sử dụng bãi chôn lấp đã đóng bãi phục vụ lợi ích cộng đồng.

      Dự báo khối lượng chất thải rắn sinh hoạt tăng 5%/năm đến 2020 là hơn 10.000 tấn/ngày, đến 2025 là gần 13.000 tấn/ngày; chất thải rắn công nghiệp tăng 6%/năm, đến 2020 là gần 1.900 tấn/ngày và đến 2025 là gần 2.500 tấn/ngày; chất thải nguy hại tăng 8%/năm, đến 2020 là gần 550 tấn/ngày và đến 2025 là hơn 800 tấn/ngày. Chất thải rắn y tế tăng 10%/năm, đến 2020 là 30 tấn/ngày và đến năm 2025 là hơn 50 tấn/ngày.

      Dựa vào việc đầu tư nâng cấp, cải tạo, chuyển đổi sang công nghệ đốt rác- phát điện của các nhà máy hiện hữu và các dự án đầu tư mới trong thời gian tới, nguồn năng lượng tái tạo (điện năng) thu được từ công nghệ xử lý chất thải rắn của thành phố dự kiến đạt được trên 200 MW đến năm 2030.

      Thứ trưởng Bộ Kế hoạch Đầu tư - Phạm Huy Đông, hoan nghênh cách làm sáng tạo Thành phố, tránh tình trạng ai cũng nói hay, lấy xong giấy phép rồi làm gì làm, tiền mất mà môi trường vẫn ô nhiễm. Trong hội nghị có các công nghệ như đốt sinh khối, khí hóa, mỗi công nghệ đều có mặt hay và hạn chế nhất định.

      Ông Đông đề nghị trong tiêu chí cần làm rõ các hiệu suất xử lý từ rác thành điện: “Theo quan điểm là sau khi đấu thầu, nhà đầu tư nếu tự tin công nghệ của mình thì hãy chạy thử từ 3-6 tháng với công suất 1.000-2.000 tấn cho đến khi các cơ quan quản lý nhà nước đo kiểm đúng theo cam kết trong hợp đồng đề xuất thì mới ký hợp đồng dài hạn, nếu không đáp ứng yêu cầu thì để cơ hội cho công nghệ khác. Đây là cách làm minh bạch, tránh tình trạng chạy được giấy, ký hợp đồng 20-30 năm xong rồi đứng đó không có cơ hội cho các công nghệ tốt vào”.

      Hiện nay, trên thế giới có đầy đủ công nghệ có thể giải quyết vấn đề rác. Ông Nguyễn Thiện Nhân, Ủy viên Bộ Chính trị - Bí thư Thành ủy TP.HCM khẳng định: TP.HCM và các tỉnh thành khác của Việt Nam hoàn toàn có thể sử dụng công nghệ tốt nhất thế giới. Xu hướng hiện nay, rất nhiều lĩnh vực nhà nước không cần nhà nước đầu tư, mà chỉ trả phí dịch vụ thôi.

      Dẫn chứng về điều này, Bí thư Thành ủy Nguyễn Thiện Nhân cho hay: “Chúng ta hình dung nếu có khoảng 100 tỷ ngân sách để đầu tư, nhưng biến thành trả phí dịch vụ, mỗi dự án họ có 20 năm, như vậy, nhà nước chỉ trả 5% giá trị đầu tư hàng năm. 100 tỷ đồng đó, thay vì đầu tư, trả thành dịch vụ, thì sẽ tương đương 500 tỷ đồng đầu tư để giải quyết việc đó. Vấn đề này thuộc về doanh nghiệp. Quản lý nhà nước chúng ta phải chuyển dần thành nhà nước đầu tư sang nhà nước trả dịch vụ, còn xã hội đầu tư. Như vậy tốc độ huy động vốn có thể 5-10 lần cao hơn trước đó”.

      Đến thời điểm hiện nay, TP.HCM đã tiếp nhận nội dung đề xuất đầu tư xử lý rác phát điện của 40 nhà đầu tư. Các doanh nghiệp đã giới thiệu nhiều giải pháp thu hồi năng lượng từ rác thải để phát điện và được áp dụng tại nhiều nước trên thế giới như đốt phát điện, khí hóa phát điện, khí hóa bằng dòng plasma để phát điện.

      Chủ tịch UBND TP Nguyễn Thành Phong cho rằng: “Sau hội nghị, UBND TP sẽ nhanh chóng chỉ đạo quyết liệt, chuẩn bị đầy đủ các thủ tục kêu gọi dự án đầu tư, thông báo và công bố các quy trình, tiêu chuẩn xét chọn dự án, các chính sách ưu đãi, chương trình kích cầu, hỗ trợ các nhà đầu tư… TP sẽ giao cho các sở ngành chức năng chú trọng và nhiệt tình hướng dẫn, hỗ trợ các nhà đầu tư đăng ký thực hiện các thủ tục liên quan đến dự án đầu tư đã được đề xuất”

      Đối với xử lý rác thải sinh hoạt hiện nay, Chủ tịch TP.HCM cũng đề nghị các nhà máy đang hoạt động khẩn trương đẩy nhanh tiến độ cải tạo, nâng cấp đổi mới công nghệ, cung cấp cho thành phố những nhà máy xử lý rác hiện đại, đạt chuẩn.

    • Việt Nam cần sự hỗ trợ của quốc tế để phát triển năng lượng tái tạo

      Tại Hội thảo, các chuyên gia đến từ Italia và một số quốc gia khác đã chia sẻ kinh nghiệm trong việc đấu nối, phát triển năng lượng tái tạo trên thế giới.

      Ông Ngô Sơn Hải - Phó Tổng giám đốc EVN chia sẻ về những thách thức của hệ thống điện khi đưa các nguồn NLTT vào vận hành

      Ông Phạm Trọng Thực cho biết, với Quyết định 2668-QĐ/TTg ngày 25/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ, Việt Nam đã có chính sách rõ ràng về phát triển năng lượng tái tạo (NLTT). Theo đó, Việt Nam xác định các dạng NLTT có tiềm năng phát triển gồm: Thủy điện nhỏ, điện mặt trời, điện gió, năng lượng sinh khối và điện từ rác thải.

      Cũng theo ông Thực, Việt Nam vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn để phát triển NLTT hiệu quả. “Do vậy, Việt Nam rất cần sự hỗ trợ, giúp đỡ về nguồn lực, kỹ thuật, kinh nghiệm của quốc tế, đặc biệt là các tổ chức, doanh nghiệp đến từ châu Âu nói chung, Italia nói riêng”, ông Thực cho hay.

      Tham dự Hội thảo này, ông Ngô Sơn Hải - Phó Tổng giám đốc EVN cho biết: Hiện số lượng các dự án NLTT đăng ký tại Việt Nam rất lớn. Để đảm bảo cho hệ thống điện hoạt động an toàn, ổn định khi các nguồn NLTT vào vận hành là một thách thức không nhỏ đối với EVN, bởi NLTT vốn không ổn định, nhất là điện mặt trời.

      “Tập đoàn Điện lực Việt Nam cũng đang làm việc với tư vấn nước ngoài để nghiên cứu ảnh hưởng của việc đấu nối NLTT vào trong hệ thống điện Việt Nam. Ngoài ra, EVN cũng đang được Đại sứ quán Italia hỗ trợ, tư vấn nghiên cứu sự vận hành của lưới điện, tăng cường năng lực cho Trung tâm Điều độ”, ông Hải cho hay. 

    • Đầu tư điện mặt trời không còn là cuộc chơi của các đại gia

      Sôi động đầu tư điện mặt trời

      Theo số liệu mới nhất của Chương trình Năng lượng của Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ tại Việt Nam (USAID), tính đến hết tháng 7/2017 đã có hàng trăm dự án điện mặt trời được đăng ký đầu tư vào Việt Nam với tổng công suất nguồn lên tới 17.000 MW.

      Trong số này, có nhiều dự án của các nhà đầu tư ngoại như dự án điện mặt trời công suất hơn 2.000 MW của Tập đoàn Thiên Tân đầu tư tại tỉnh Ninh Thuận và Quảng Ngãi hay dự án nhà máy công suất 30 MW tại Bình Thuận của Công ty TNHH DooSung Vina (Hàn Quốc).

      Trong khi đó, các tập đoàn có tiềm lực của Việt Nam cũng không hề kém cạnh với những dự án điện mặt trời đầy tham vọng như dự án 20 nhà máy điện mặt trời tại Việt Nam với tổng mức đầu tư khoảng 1 tỷ USD của Tập đoàn Thành Thành Công, hay Tập đoàn Xuân Cầu đầu tư khoảng 2.000 MW ở Tây Ninh, Tập đoàn TH True-Milk và Công ty Xuân Thiện đầu tư các dự án điện mặt trời tại tỉnh Đắk Lắk với công suất đặt khoảng 3.000 MW.

      Điều này cho thấy, điện mặt trời đang thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư trong và ngoài nước bởi đây được xác định là nguồn năng lượng chính để phát triển năng lượng tái tạo. Các nguồn năng lượng tái tạo, trong đó có điện mặt trời đã rất phát triển trên thế giới nhưng tại Việt Nam, lĩnh vực này còn khá mới mẻ.

      Theo bản đồ tiềm năng điện mặt trời do Ngân hàng Thế giới (WB) cung cấp thông tin cho các nhà hoạch định chính sách và các nhà đầu tư, tài nguyên điện mặt trời của Việt Nam khá dồi dào, với nguồn bức xạ nhiệt khoảng 2.056 kW/m2/năm và kéo dài từ các tỉnh miền Trung đến khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long. Điều này cho thấy tiềm năng phát triển của lĩnh vực điện mặt trời là rất lớn.

      Để khuyến khích đầu tư vào năng lượng tái tạo, điện mặt trời, Chính phủ đã đưa ra nhiều cơ chế chính sách tạo điều kiện cho các nhà đầu tư, doanh nghiệp khi tham gia vào lĩnh vực này, điển hình là Quyết định 11/2017/QĐ-TTg về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam có hiệu lực từ tháng 9 vừa qua.

      Giải pháp và công nghệ đã sẵn sàng

      Mặc dù tại Việt Nam hiện đã có hàng trăm dự án điện mặt trời nhưng có thể nói, lĩnh vực này vẫn còn nhiều cơ hội. Theo dự báo của Bộ Công Thương, tốc độ tăng trưởng nhu cầu về điện tại Việt Nam trong giai đoạn 2016 - 2020 là 9,8%/năm và là 8,6% trong giai đoạn 2021 - 2025.

      Do đó, trong 2 ngày 21 và 22/11 vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với một số đối tác quốc tế đã tổ chức hội thảo “Giải pháp công nghệ và tài chính cho phát triển năng lượng mặt trời tại Việt Nam” nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp, các nhà đầu tư dự án điện mặt trời tại Việt Nam tiếp cận với những công nghệ mới một cách dễ dàng, đem đến hiệu suất cao. Hội thảo cũng đã giới thiệu với các nhà đầu tư một số tập đoàn nước ngoài thuộc top 10 thế giới về công nghệ điện mặt trời và sẽ chọn thí điểm khoảng 10 dự án để đầu tư.

      Trao đổi với Báo Đầu tư bên lề sự kiện, ông Phạm Đức Nghiệm, Phó Cục trưởng Cục Thị trường và Doanh nghiệp Khoa học và công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cho biết, Việt Nam hiện có trên 400 nhà máy thủy điện nhưng nhiều nhà máy không đủ lượng nước để phát. Do chỉ có thể phát điện vào mùa mưa và phát cầm chừng vào mùa khô, dẫn tới kéo dài thời gian thu hồi vốn.

      Do đó, việc kết hợp phát triển các dự án điện mặt trời với các tấm pin năng lượng mặt trời đặt trên mặt nước hồ thủy điện đang trở thành giải pháp giải quyết vấn đề này. Cách làm này đang ngày càng được ưa chuộng tại các quốc gia như Nhật Bản, Hoa Kỳ, Australia… bởi chi phí đầu tư thấp nhưng đem lại hiệu quả cao.

      Bên cạnh việc giải quyết bài toán quốc gia về năng lượng, vấn đề môi trường cũng là nội dung mà Hội thảo này quan tâm. “Điện mặt trời thế hệ cũ rất ảnh hưởng tới môi trường vì tấm năng lượng và ắc quy tráng bằng nitrat bạc là chất cực độc và thủy ngân. Công nghệ mà chúng tôi đang làm là công nghệ mới silicon và nano cacbon, được tráng thành phim không gây ô nhiễm môi trường và có thể tái chế dễ dàng”, ông Nghiệm lý giải.

      Bên cạnh đó, công nghệ mới này cũng có giá thành đầu tư thấp hơn công nghệ cũ bởi áp dụng công nghệ mới, tiết kiệm diện tích xây dựng. “Công nghệ cũ cần 1,8 ha cho mỗi MW, nhưng công nghệ mới chỉ cần 1 ha, bởi tế bào quang điện tử trên 1m2 nhiều hơn, giúp tăng khả năng hấp thụ, đồng thời giảm diện tích xây dựng”, ông Nghiệm nói.

      Các chuyên gia tại Hội thảo cho rằng, bên cạnh những lợi thế về giá thành thì việc lựa chọn các công nghệ mới, bảo vệ môi trường còn là trách nhiệm xã hội của nhà đầu tư.

    • Điện mặt trời có thực sự “sạch”?

      Theo thống kê của Viện Năng lượng (Bộ Công Thương), tính đến tháng 7/2017, đã có hàng trăm dự án điện mặt trời được đăng ký đầu tư tại các tỉnh Đắk Lắk, Tây Ninh, Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hòa, với tổng công suất lên tới 17.000 MW. Mặc dù điện mặt trời được coi là nguồn năng lượng sạch, cần khuyến khích phát triển, bởi trong quá trình vận hành gần như không tác động đến môi trường, nhưng các chuyên gia về năng lượng cũng khuyến cáo, thực tế ở các nước trên thế giới cho thấy, nguồn năng lượng này cũng có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường rất cao.

      Cụ thể, quá trình sản xuất pin NLMT còn tạo ra khí NF3 (Nitơ Trifluoride). Mặc dù đã bị triệt tiêu phần lớn trong quá trình sử dụng, nhưng một lượng nhỏ NF3 vẫn lọt vào khí quyển. Khi NF3 kết hợp với CO2 sẽ ảnh hưởng xấu đến môi trường.

      Bên cạnh đó, việc xử lý các tấm pin năng lượng mặt trời sau khi hết tuổi thọ cũng là một vấn đề nan giải. Nếu không được xử lý kịp thời, chất thải từ các tấm pin này sẽ tác động nghiêm trọng đến môi trường sống, bởi một tấm pin NLMT chứa rất nhiều kim loại như chì, đồng, nhôm, silicon… Đáng nói, việc tái chế pin năng lượng mặt trời cũng vô cùng khó khăn, tốn kém. 

      Còn PGS. TS. Phạm Hoàng Lương - Phó hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa Hà Nội chia sẻ, việc lựa chọn công nghệ nói chung, công nghệ sản xuất năng lượng mặt trời nói riêng phụ thuộc rất nhiều vào hiệu quả kinh tế, kỹ thuật của công nghệ đó và quan trọng là phải “đánh giá chu trình vòng đời của công nghệ”. Có như vậy mới đánh giá hết được những tác động môi trường mà công nghệ đó mang lại.

      Cũng theo TS Lương “NLMT là nguồn năng lượng sạch so với các nguồn năng lượng truyền thống khác, tuy nhiên, cần phải đánh giá được những tác động môi trường, đặc biệt là việc thu hồi các chất thải sau khi những tấm pin này hết hạn sử dụng. Việc này phải đặc biệt quan tâm và phải lượng hóa được những tác động môi trường để trên cơ sở đó đưa được những cơ chế chính sách, có những giải pháp phù hợp ngay từ đầu.” 

      Tin tưởng vào xu hướng phát triển của công nghệ điện mặt trời, ông Trần Viết Ngãi – Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam cho rằng, tuổi thọ của các tấm pin NLMT là khá dài (từ 15-20 năm), theo đó việc phát triển công nghệ trong tương lai sẽ cho những khả năng xử lý hiệu quả, thậm chí có thể tái sử dụng những tấm pin mặt trời khi hết hạn. Trước mắt, chúng ta cần phải tính tới việc bảo trì, bảo dưỡng các sản phẩm này để nâng cao tuổi thọ những tấm pin NLMT trời hiện hữu.

      Được biết, để hạn chế tác động đến môi trường trong quá trình sản xuất pin mặt trời, tại Châu Âu, một số công ty đã chế tạo được dây chuyền công nghệ cho phép thu hồi hơn 90% số lượng vật liệu độc hại trong pin NLMT. Tuy giá cả của công nghệ này còn khá cao, nhưng cũng giúp các nhà đầu tư có thêm sự lựa chọn hợp lý, giúp tránh được nguy cơ gây ô nhiễm môi trường từ điện mặt trời. 

    • Giải pháp công nghệ năng lượng mặt trời cho tăng trưởng xanh

      Theo ông Nguyễn Mạnh Hiến - Chủ tịch Hội đồng khoa học Hiệp hội Năng lượng sạch Việt Nam, nước ta có tiềm năng lớn về năng lượng mặt trời (NLMT). Mật độ NLMT trung bình khoảng 4,6 kWh/m2/ngày, số ngày nắng trong năm trung bình khoảng 2.000 giờ. Từ khu vực Tây Nguyên trở vào Nam bộ, mật độ NLMT càng tăng dần. Cường độ bức xạ mặt trời khu vực này trung bình đạt 4,9 - 5,7 kWh/m2/ngày. Đây là nguồn tài nguyên thiên nhiên sạch dồi dào để chuyển hóa thành điện năng.

      Theo Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 được Chính phủ ban hành ngày 25/11/2015, tỷ lệ điện năng từ NLMT sẽ chiếm lần lượt: 0,5% vào năm 2020, khoảng 6% năm 2030 và khoảng 20% vào năm 2050 trong tổng sản lượng điện sản xuất. 

      Chính phủ cũng đang khuyến khích phát triển NLMT với Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg vừa ban hành hồi tháng 4/2017, công bố giá mua điện mặt trời cố định ở mức 9,35 US cents/kWh, bước đầu tạo sức hấp dẫn với các nhà đầu tư.

      Hội thảo do ABB Việt Nam, Solar Electric Việt Nam (SEV) phối hợp tổ chức tại Hà Nội ngày 12/10

      “Dù có tiềm năng lớn và được hậu thuẫn từ chính sách của Chính phủ, việc phát triển điện mặt trời ở Việt Nam vẫn còn 1 số rào cản như: Kỹ thuật đấu nối vào lưới điện quốc gia còn phức tạp, vốn đầu tư ban đầu lớn, dự án NLMT tập trung trên mặt đất đòi hỏi diện tích rộng lớn” - ông Nguyễn Mạnh Hiến cho biết.

      Do đó, tại Hội thảo, các chuyên gia trong nước và quốc tế đã đề xuất nhiều giải pháp để thúc đẩy phát triển điện mặt trời như: Phát triển đồng thời các dự án NLMT nối lưới trên mặt đất và dự án lắp đặt trên mái nhà; đề xuất thành lập quỹ hỗ trợ phát triển năng lượng tái tạo nhằm hỗ trợ, trợ giá hơn nữa cho các nguồn năng lượng sạch; lựa chọn công nghệ sản xuất điện mặt trời hiệu quả cao;…

      Các chuyên gia cũng khuyến nghị, các dự án NLMT nguồn tập trung sẽ phát huy hiệu quả cao nhất nếu được lắp đặt trên mặt hồ, mặt nước; nên lựa chọn công nghệ, thiết bị phù hợp với điều kiện đặc thù của Việt Nam như thời tiết nhiều mưa, bão. 

      Tại Hội thảo, đại diện ABB Việt Nam cũng giới thiệu một số giải pháp công nghệ kết nối và tích hợp năng lượng mặt trời vào lưới điện, hệ thống dự trữ năng lượng, các giải pháp điều khiển và tự động hóa tại nhà máy điện mặt trời. Bên cạnh đó, đại diện Đại sứ quán ÚC, UNDP Việt Nam, Tổ chức Hợp tác phát triển Đức cũng chia sẻ kinh nghiệm quốc tế trong lĩnh vực phát triển năng lượng tái tạo. 

    • Chính thức vận hành hệ thống điện mặt trời tại tòa nhà EVN

      Các tấm pin quang năng lắp trên mái khối đế tòa nhà có tổng diện tích khoảng 130 m2

      Dự án điện mặt trời tại tòa nhà EVN (số 11, Cửa Bắc, quận Ba Đình, Hà Nội) có tổng mức đầu tư khoảng 500 triệu đồng. 

      Ông Đào Minh Hiển, Phó Giám đốc Trung tâm Tư vấn Nhiệt điện và Điện hạt nhân của PECC 2 cho biết: “Sau khi hoàn thành lắp đặt vào ngày 16/9, PECC 2 đã tiến hành chạy thử nghiệm hệ thống năng lượng mặt trời này và đã sản xuất được 475 kWh. Chúng tôi tin rằng với công nghệ pin đa tinh thể có hiệu suất tối thiểu 16%, hệ thống sẽ vận hành hiệu quả, góp phần giảm hóa đơn tiền điện và là hình mẫu để nhân rộng mô hình điện mặt trời trên mái nhà (rooftop) tại Việt Nam”.

      Đại diện PECC 2 hướng dẫn đơn vị tiếp nhận vận hành hệ thống điện mặt trời

      Các tấm pin được đấu nối vào hệ thống điện của tòa nhà thông qua thiết bị inverter và được giám sát thông qua hệ thống SSOC. Hệ thống này cho phép vận hành, giám sát từ xa nên việc quản lý vận hành rất đơn giản, thuận tiện. Ngoài ra, tất cả các trang thiết bị cần thiết để vận hành đã được PECC 2 thiết kế, xây dựng hoàn toàn tự động. Dự kiến, sản lượng điện đạt trên 15.000 kWh/năm và tiết kiệm được hơn 30 triệu đồng/ năm.

      Ông Lê Văn Tùng – Phó Chánh Văn phòng EVN, đại diện đơn vị tiếp nhận, quản lý vận hành hệ thống điện mặt trời cho biết với quy mô công suất 19,84 kWp, Dự án này thiết thực góp phần phục vụ năng lượng sạch cho tòa nhà EVN. Văn phòng EVN sẽ vận hành, bảo dưỡng hệ thống theo đúng hướng dẫn từ PECC 2 để hệ thống sản xuất điện hiệu quả nhất.

    • 5 trạm đo năng lượng mặt trời sẽ được lắp đặt trên toàn quốc

      5 trạm đo năng lượng mặt trời sẽ thu thập dữ liệu chất lượng cao về bức xạ mặt trời và nâng cao tính chính xác của việc ước tính nguồn năng lượng mặt trời. Các dữ liệu này sẽ được công bố và cung cấp trực tuyến miễn phí.

      WB và EVN thực hiện lắp đặt 5 trạm đo năng lượng mặt trời trên toàn quốc

      Chiến dịch đo năng lượng mặt trời là bước tiếp nối sau khi Ngân hàng Thế giới công bố các bản đồ năng lượng mới cập nhật cho Việt Nam, cho thấy tiềm năng trung bình của tài nguyên năng lượng mặt trời ở độ phân giải 1 km. Dữ liệu và bản đồ có thể được truy cập thông qua trang bản đồ năng lượng mặt trời toàn cầu (Global Solar Atlas).

      Sau hai năm đo lường, bản đồ năng lượng mặt trời của Việt Nam sẽ được kiểm chứng đầy đủ với chất lượng tốt đủ đáp ứng cho việc lập kế hoạch và thăm dò. WB và EVN kỳ vọng, nguồn dữ liệu miễn phí này ​​sẽ khuyến khích và hỗ trợ các nhà đầu tư quan tâm đến việc xây dựng nhà máy điện mặt trời tại Việt Nam.

      Ông Ousmane Dione, Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam nhận định: “Chi phí sản xuất điện mặt trời đang giảm xuống trên khắp thế giới. Việt Nam đang có một bước tiến quan trọng trong việc thúc đẩy một môi trường thuận lợi cho việc xây dựng nhanh và sản xuất điện sạch".

      Đồng thời, Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam cũng khẳng định, WB sẽ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về điện năng của đất nước với các giải pháp tái tạo bền vững như phát triển thủy điện, tiết kiệm năng lượng hơn trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp và tăng tính hiệu quả của lưới điện trong truyền tải và phân phối.

      Việc đo đạc và lập bản đồ năng lượng mặt trời là một phần trong dự án do Chương trình Hỗ trợ Quản lý năng lượng ESMAP do WB hỗ trợ. Dự án cũng đang tiến hành đánh giá và lập bản đồ tiềm năng sinh khối, thủy điện nhỏ và năng lượng gió.

    • Dự án điện mặt trời nổi tại hồ Đa Mi: Thêm nguồn năng lượng sạch

      Hiệu quả thiết thực

      Đầu năm 2017, UBND tỉnh Bình Thuận đã chấp thuận chủ trương cho CTCP Thủy điện Đa Nhim - Hàm Thuận - Đa Mi (DHD) khảo sát, nghiên cứu và đầu tư Dự án Nhà máy Điện mặt trời nổi tại hồ Đa Mi, nằm tại 2 xã, La Ngâu, huyện Tánh Linh và Đa Mi, La Dạ, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Với công suất 47,5 MWp, sản lượng điện gần 70 triệu kWph/năm, dự kiến Dự án sẽ được hoàn thành và đưa vào vận hành năm 2019.

      Ông Lê Văn Quang – Tổng giám đốc DHD cho biết, việc triển khai Dự án điện mặt trời là hiện thực hóa chủ trương của Tổng công ty Phát điện 1 (EVNGENCO 1) nói riêng và EVN nói chung trong việc đẩy mạnh phát triển nguồn năng lượng sạch trên cả nước. Đây cũng là dự án năng lượng tái tạo đầu tiên EVNGENCO 1 giao DHD triển khai. Vì vậy, sau khi UBND tỉnh Bình Thuận phê duyệt chủ trương đầu tư, Công ty đã khẩn trương thực hiện các bước tiếp theo.

      Điều đáng nói, khác với các dự án điện mặt trời lắp mái hoặc trên mặt đất, đối với các dự án trên hồ thường có hiệu suất cao hơn do chênh lệch giữa bức xạ mặt trời và mặt nước khá lớn. Hồ Thủy điện Đa Mi còn có thêm thuận lợi do Công ty DHD đã có hợp đồng thuê đất, nên gần như không mất thời gian giải phóng mặt bằng. Mực nước dao động của hồ Đa Mi cũng rất thấp, chỉ khoảng 2 m, nên việc gia cố giá đỡ để lắp đặt các tấm pin cũng đơn giản hơn.

      Đánh giá hiệu quả của Dự án này, ông Lưu Đức Vinh – Phó Chủ tịch UBND huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận khẳng định, trong quá trình triển khai, hoàn thành và đưa vào sử dụng, Dự án điện mặt trời nổi tại hồ Đa Mi  không ảnh hưởng đến môi trường, không phát thải khí nhà kính, không phát sinh diện tích đất vì các tấm pin được đặt nổi trên mặt hồ. Đồng thời, Dự án sẽ bổ sung nguồn điện cho vùng hạ du, trong đó có huyện Tánh Linh. Từ đó, đời sống nhân dân được nâng cao, các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ được mở rộng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương, giải quyết việc làm cho người lao động và góp phần thu ngân sách cho địa phương.

      Cần sớm bổ sung vào Quy hoạch

      Rõ ràng, Dự án Nhà máy điện mặt trời nổi tại hồ Đa Mi không chỉ bổ sung nguồn năng lượng sạch cho đất nước mà còn góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Vì vậy, theo ông Lưu Đức Vinh, huyện Tánh Linh đặc biệt quan tâm và ưu tiên cho Dự án này. Theo đó, khi DHD xây dựng Đề án “Quy hoạch phát triển điện mặt trời tỉnh Bình Thuận giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”, trên địa bàn huyện Tánh Linh được quy hoạch Dự án với diện tích 53,2 ha; UBND huyện Tánh Linh đã nhanh chóng chấp thuận và thống nhất bổ sung vào Quy hoạch, để Sở Công Thương Bình Thuận thực hiện các bước tiếp theo.

      Đồng thời, phục vụ cho việc hoàn chỉnh bổ sung Dự án, UBND huyện Tánh Linh đã chỉ đạo phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Kinh tế và Hạ tầng, phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Hạt Kiểm lâm, Ban Quản lý rừng phòng hộ La Ngà và UBND xã La Ngâu phối hợp với DHD, khảo sát, đo đạc thực địa. Từ đó, bổ sung vào Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất năm 2017 của huyện Tánh Linh.

      Ông Lê Văn Quang cũng khẳng định, trong suốt quá trình khảo sát, đo đạc để triển khai Dự án, DHD đã nhận được sự hỗ trợ tích cực của UBND tỉnh Bình Thuận nói chung và huyện Tánh Linh nói riêng. Vì vậy, DHD đang gấp rút triển khai các thủ tục, trước mắt phục vụ cho việc phát hành hồ sơ mời thầu, ưu tiên thu xếp vốn cho Dự án, nhanh chóng lắp đặt thiết bị với mục tiêu hoàn thành trước tháng 6/2019.

      Cũng theo UBND tỉnh Bình Thuận, đây là dự án nguồn điện độc lập chưa có tên trong Danh mục nguồn điện thuộc Quy hoạch Phát điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020 có xét đến năm 2030. Do vậy, UBND tỉnh Bình Thuận đề nghị Bộ Công Thương, sớm thẩm định và phê duyệt điều chỉnh bổ sung theo đúng quy định hiện hành, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi triển khai Dự án.  

    • Đắk Lắk muốn bổ sung 3 dự án điện mặt trời vào quy hoạch phát triển điện lực Quốc gia

      Các dự án được đề xuất bao gồm Cụm nhà máy điện mặt trời Xuân Thiện công suất 2.000 MW, tổng vốn đầu tư dự kiến 2,2 tỷ USD; Cụm nhà máy năng lượng sạch Rừng Xanh công suất 1.117 MW, vốn đầu tư 1,2 tỷ USD và Nhà máy điện mặt trời Long Thành công suất 250 MW, tổng mức đầu tư 320 triệu USD.

      Theo kế hoạch phát triển năng lượng sạch của tỉnh Đắk Lắk, đến năm 2020, sẽ đầu tư xây dựng 4 -7 dự án nhà máy điện mặt trời tổng công suất 800 – 1.000 MW; đến năm 2030, nâng công suất các nhà máy điện mặt trời đã có và xây dựng thêm các nhà máy khác, tổng công suất 3.500 – 4.000 MW.

      Các dự án dự kiến đầu tư xây dựng nằm trong Quy hoạch phát triển điện lực tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2016 - 2025 có xét đến 2035 và Quy hoạch phát triển điện mặt trời trên địa bàn tỉnh đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030.

      Hiện đã có 18 nhà đầu tư trong nước và Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Thái Lan đăng ký, nghiên cứu, khảo sát, lập đề xuất dự án với tổng công suất khoảng 15.000 MW.

    • Điện mặt trời “sạch” khi biết lựa chọn công nghệ

      Diễn đàn Công nghệ và Năng lượng Việt Nam 2017

      “Tính đến hết tháng 7/2017, đã có hàng trăm dự án điện mặt trời được đăng ký đầu tư với tổng công suất nguồn lên tới hơn 17.000 MW. Tính khả thi của các dự án được đánh giá là khá cao khi công nghệ sản xuất điện mặt trời ngày càng hiện đại, có khả năng hiện thực hóa các tiềm năng kỹ thuật thành tiềm năng kinh tế, thương mại”.

      Thông tin được đưa ra tại Diễn đàn Công nghệ và Năng lượng Việt Nam 2017 do Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) tổ chức tại Hà Nội ngày 8/9.

      Nhiều đại biểu cho rằng, từ thực tế nhiều nước đã phát triển điện mặt trời cho thấy, nếu không có các giải pháp khoa học và toàn diện ngay từ đầu, điện mặt trời sẽ không còn sạch, nguy cơ ô nhiễm môi trường cao và khó giải quyết hơn cả các nguồn năng lượng truyền thống.

      Mặc dù đưa ra nhận định, trong tất cả các nguồn năng lượng sản xuất điện hiện nay, điện mặt trời là nguồn năng lượng "sạch" nhất, cho khả năng ứng dụng và hiệu quả phát điện lớn nhất trong các nguồn năng lượng mới và tái tạo, song GS.TSKH. Trần Đình Long, Phó Chủ tịch Hội Điện lực Việt Nam vẫn khẳng định, dù là nguồn điện nào thì cũng có 2 mặt, đi cùng với những lợi thế là những tồn tại, và phải được xử lý để hạn chế tới mức thấp nhất có thể.

      Đặc biệt, cảnh báo của các chuyên gia năng lượng quốc tế về việc Trung Quốc có thể sẽ phải đối mặt với thảm hoạ môi trường, nhất là khi số tấm pin mặt trời khổng lồ hết hạn sử dụng trong khoảng 2 thập niên tới – đây sẽ là bài học quý cho Việt Nam - nước đi sau đang muốn phát triển điện mặt trời theo quy mô công nghiệp, với quy mô công suất phát điện hơn 12.000 MW vào năm 2030.

      Theo GS.TSKH. Trần Đình Long, việc sử dụng bình ắc quy tích trữ điện khi sử dụng những tấm pin mặt trời quy mô hộ gia đình cũng có khả năng gây ô nhiễm, ngộ độc chì và không an toàn bởi dung dịch a xít...vì vậy, cần nghiên cứu, tính toán cả cách xử lý hết sức kỹ lưỡng, khoa học và bài bản ngay từ đầu.

      “Có thể sau khoảng 15-20 năm sử dụng, những tấm pin mặt trời thải ra – nó cũng gần giống như các thiết bị điện tử nói chung. Nếu xử lý không tốt thì sẽ gây những vấn đề về môi trường, nhưng còn trong quá trình vận hành thì các tác động ấy hầu như là rất ít. Các loại vật liệu thải, trong đó đặc biệt là các linh kiện, phần tử từ các thiết bị điện tử thải ra đều phải được xử lý rất cẩn thận”, GS.TSKH. Trần Đình Long cảnh báo.

      Tin tưởng vào công nghệ điện mặt trời, ông Trần Viết Ngãi – Chủ tịch Hiệp hội năng lượng Việt Nam cho rằng, thời gian sử dụng các tấm pin năng lượng mặ trời là khá dài, việc phát triển công nghệ trong tương lai cho khả năng xử lý hiệu quả, thậm chí có thể tái sử dụng những tấm pin mặt trời khi hết hạn. Do đó trước mắt, phải tính tới việc bảo trì, bảo dưỡng các sản phẩm này để nâng cao tuổi thọ những tấm pin năng lượng mặt trời hiện hữu.

      “Tuổi thọ của pin mặt trời khá dài nhưng việc duy trì bảo dưỡng phải được tiến hành thường xuyên. Những tấm pin quang điện bây giờ thế giới sản xuất có tuổi thọ phải được 25-30 năm, khi thay mới những pin cũ sẽ được tái tạo sản xuất ra những tấm pin mới. Có thể yên tâm về công nghệ pin mặt trời ngày nay”, ông Ngãi tin tưởng.

      Mặc dù vậy, dưới góc nhìn của một nhà nghiên cứu khó học, PGS. TS. Phạm Hoàng Lương, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Phó Chủ nhiệm Chương trình nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ năng lượng cấp nhà nước giai đoạn 2016-2020 (gọi tắt là chương trình KC-05) cho rằng, việc lựa chọn công nghệ nói chung, công nghệ sản xuất năng lượng mặt trời nói riêng phụ thuộc rất nhiều vào hiệu quả kinh tế, kỹ thuật của công nghệ lựa chọn. Quan trọng nhất là phải “đánh giá chu trình vòng đời của công nghệ”, có như vậy mới đánh giá hết được những tác động môi trường mà công nghệ đó mang lại.

      “Việc sử dụng năng lượng mặt trời rất hiệu quả so với các nguồn năng lượng truyền thống khác. Việc sản xuất những tấm pin mặt trời cũng phải đánh giá được những tác động môi trường, đặc biệt là việc thu hồi các chất thải sau khi sử dụng. Đặc biệt, phải quan tâm và lượng hóa được những tác động môi trường, trên cơ sở đó có được những cơ chế chính sách, giải pháp tương đối phù hợp”, PGS. TS. Phạm Hoàng Lương cho biết.

      Cũng theo PGS. TS. Phạm Hoàng Lương, trên thực tế, nếu chỉ nhìn vào những tấm pin mặt trời sẽ không thấy có phát thải khí CO2. Nhưng để sản xuất ra được những tấm pin ấy, phải cần nhiều nguồn nguyên vật liệu. Trong quá trình sản xuất nguyên vật liệu đó sẽ tác động đến môi trường.

      PGS. TS. Phạm Hoàng Lương cũng nhấn mạnh việc nghiên cứu xử lý khi thu hồi các tấm pin năng lượng mặt trời hết thời gian sử dụng. Do đó, Chính phủ cũng như các Bộ, ban ngành nên đặc biệt quan tâm nghiên cứu kinh nghiệm từ các công trình nghiên cứu trên thế giới về vấn đề này.

    • Nghiên cứu đánh giá tiềm năng điện mặt trời tại Hà Nội

      Theo đó, UBND TP giao Sở Công Thương nghiên cứu, đánh giá tiềm năng năng lượng mặt trời trên địa bàn thành phố, làm cơ sở đề xuất lập Quy hoạch phát triển điện mặt trời TP Hà Nội giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (nếu có tiềm năng). 

      Sở Xây dựng chủ trì, phối hợp Sở Công Thương và các đơn vị liên quan đề xuất, xác định diện tích, phạm vi các khu vực tòa nhà phát triển các dự án điện mặt trời; chủ trì thẩm định theo thẩm quyền dự án và thiết kế, dự toán xây dựng công trình có lắp đặt điện mặt trời trên mái các tòa nhà. 

      Tổng công ty Điện lực TP Hà Nội và chủ đầu tư dự án điện mặt trời, các tổ chức, cá nhân có liên quan đảm bảo thực hiện đúng quy định về việc đầu tư xây dựng các dự án điện mặt trời, đấu nối dự án điện mặt trời vào hệ thống điện,... theo Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg ngày 11/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản hướng dẫn của Bộ Công Thương.

      Chi tiết Văn bản số 4327/UBND-KT của UBND TP Hà Nội có file đính kèm.

    • Bổ sung 2 dự án điện mặt trời vào Quy hoạch phát triển điện lực tỉnh Khánh Hòa

      Đây là cơ sở quan trọng đảm bảo điều kiện triển khai đầu tư và đấu nối 2 dự án vào hệ thống điện quốc gia theo quy định tại Thông tư 43/TT-BCT ngày 31/12/2013 của Bộ Công Thương.

      Dự án Nhà máy Điện mặt trời Điện lực miền Trung đặt tại xã Cam An Bắc, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hoà. Diện tích sử dụng đất 70 ha. Nhà máy đấu nối vào hệ thống điện quốc gia từ TBA 110/22 kV, chiều dài tuyến đường dây khoảng 12 km, dự kiến đưa vào hoạt động năm 2018.

      Hiện nay, Ban QLDA Điện nông thôn miền Trung đang khẩn trương hoàn thành khảo sát, đo vẽ, thoả thuận tuyến đường dây 110 kV, hoàn thành lựa chọn tư vấn lập Hồ sơ báo cáo nghiên cứu khả thi cho Dự án, dự kiến hoàn thành trong tháng 9/2017.

      Bên cạnh đó, Tổng công ty Điện lực miền Trung cũng đã làm việc với Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) và các nhóm chuyên gia kỹ thuật, xã hội của ADB để lập đề cương chi tiết cho việc triển khai giai đoạn chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và dự thảo hồ sơ mời thầu EPC theo tiêu chuẩn của ADB.

      Dự án Nhà máy Điện mặt trời Tuấn Ân có công suất 10 MW, đặt tại thôn Thịnh Sơn, xã Cam Thịnh Tây, TP Cam Ranh. Dự án đấu nối vào hệ thống điện quốc gia ở cấp điện áp 22 kV với chiều dài tuyến đường dây khoảng 5,4 km. Hiện, Dự án đang triển khai lắp đặt thiết bị và dự kiến vận hành vào cuối năm nay.

    • Phát triển nguồn điện mặt trời quy mô nhỏ tiềm ẩn nhiều nguy cơ

      Theo Quy hoạch điện VII điều chỉnh, đến năm 2020, sản xuất điện từ năng lượng tái tạo sẽ chiếm 9,9% tổng công suất nguồn điện, tăng 4,3% so với Quy hoạch điện VII. Riêng đối với lĩnh vực điện năng lượng mặt trời, đến năm 2030, phải đạt 12.000 MW. Nhiều chuyên gia cho rằng, đây là mục tiêu nhưng cũng là thách thức rất lớn cho ngành điện.

      Cơ hội đang bị bỏ lỡ

      Tại Hội thảo “Phát triển điện mặt trời tại Việt Nam – Xu hướng gần đây và các vấn đề mới nổi”, các chuyên gia cho rằng, hiện nay hầu hết các dự án điện mặt trời chỉ ở quy mô nhỏ, các nhà đầu tư chưa chú trọng vào các dự án điện mặt trời do các chính sách liên quan đến phát triển nguồn năng lượng này chưa ổn định. Cùng với đó, việc xây dựng cơ chế giá điện hợp lý sẽ để thúc đẩy các nhà đầu tư vào lĩnh vực này mạnh mẽ hơn.

      Theo bà Hoàng Thu Hường, Phó vụ trưởng Vụ Công nghiệp, Ủy ban Kinh tế Trung ương, việc ban hành cơ chế giá điện mặt trời (tại Quyết định số 11 của Chính phủ vào tháng 6 và có hiệu lực từ tháng 9/2017) cho thấy, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến nguồn năng lượng này.

      “Năng lượng tái tạo chưa thể là nguồn năng lượng thay thế, nhưng việc đặt những tấm pin năng lượng mặt trời trên các tòa nhà cho hiệu quả cao và đây cũng là nguồn năng lượng quan trọng, thiết thực và phù hợp với sự phát triển của nguồn năng lượng trong thời gian tới”, bà Hường nói.

      Mặc dù đánh giá điện mặt trời ở Việt Nam được ưu đãi cao hơn nhiều so với các nước nhưng vẫn chưa được nhiều nhà đầu tư quan tâm đầu tư các dự án điện mặt trời có công suất cao, ngoài Tập đoàn Điện lực Việt Nam. Ông Rainer Brohm, Công ty tư vấn Năng lượng tái tạo RB (Đức) nhận định: “Nếu bỏ lỡ cơ hội phát triển điện mặt trời thực sự là điều đáng tiếc đối với các nhà đầu tư trong nước, vì tiềm năng phát triển nguồn điện năng lượng mặt trời ở Việt Nam là rất lớn”.

      Xóa bỏ mối lo ngại về khả năng tác động đến môi trường của các tấm pin điện mặt trời nếu đầu tư các dự án lớn ở Việt Nam, ông Rainer Brohm cũng cho rằng, các tấm pin năng lượng mặt trời không có những nguy cơ gây hại đến môi trường giống như các nguồn nhiệt điện than.

      “Pin mặt trời hoàn toàn không có tác động nào từ các tế bào quang điện đến môi trường cũng như sức khỏe. Không có khí phát thải nào ảnh hưởng đến môi trường khi sản xuất và sử dụng các tấm tế bào quang điện mặt trời”, ông Rainer Brohm cho biết.

      Trong Bản đồ tiềm năng điện mặt trời được nghiên cứu bởi sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới (WB) cung cấp thông tin, tài nguyên điện mặt trời của Việt Nam khá dồi dào, với nguồn bức xạ nhiệt vào khoảng 2056 kWh/m2/năm, kéo dài suốt từ dải đất miền Trung đến khu vực ĐBSCL.

      Tuy nhiên, ông Koos Neefjes, chuyên gia về biến đổi khí hậu (Thuộc Công ty TNHH Ý thức khí hậu) cho rằng, Chính phủ Việt Nam nên tranh thủ tìm kiếm các cơ hội đầu tư thật nhanh, nên có sự đầu tư vào Trung tâm năng lượng mặt trời.

      “Có thể do việc sử dụng các nguồn điện giá rẻ như thủy điện ở Việt Nam còn nhiều nên cũng là một trong những thách thức khi chuyển đổi sang năng lượng mặt trời - nguồn điện cần phải đầu tư rất lớn. Về mặt thị trường, điện mặt trời cũng là một thách thức lớn nên Việt Nam cần phải tìm những con đường khác để tạo ra được thị trường năng lượng tái tạo với những hướng đi mới”, ông Koos Neefjes đề xuất.

      Cơ chế chính sách cần mang tính dài hạn

      Theo Quy hoạch điện VII (điều chỉnh), việc mong muốn có được 12.000 MW điện vào năm 2030 rất có thể đạt được, không còn nằm ở tiềm năng. Tuy nhiên, muốn đạt được điều đó, theo ông Đỗ Đức Tưởng, đại diện Chương trình Năng lượng của Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ tại Việt Nam (USAID), Việt Nam cần xây dựng các cơ chế ưu đãi mang tính lâu dài hơn để doanh nghiệp yên tâm đầu tư.

      “Việc xây dựng cơ chế giá cho điện mặt trời vẫn còn đang trong tầm ngắn hạn, chỉ trong khoảng 3 năm. Nhiều nhà đầu tư vẫn chưa rõ sau năm 2019, giá điện của Việt Nam sẽ như thế nào, có giảm đi hay không? Chính vì thế, các nhà đầu tư vẫn mong muốn Chính phủ đưa ra chính sách, cơ chế giá điện mang tính dài hạn hơn nữa, rút ngắn các thủ tục đăng ký cấp phép… để góp phần phát triển nhanh ngành năng lượng tái tạo ở Việt Nam”, ông Tưởng nói.

      Nhiều chuyên gia cũng khẳng định, hiện nay ở nhiều nước trên thế giới, giá điện mặt trời chỉ còn khoảng 3cent/kWh, bằng 1/3 giá điện mặt trời mà Việt Nam đang ưu đãi, là cơ hội để Việt Nam phát triển nguồn điện này, góp phần giảm xây dựng các nhà máy nhiệt điện đốt than.

      Tuy nhiên, các chuyên gia cũng cảnh báo, khi đầu tư nhanh các nhà máy điện mặt trời công suất lớn đòi hỏi Việt Nam phải nghiên cứu đáp ứng nhanh việc nối lưới để đảm bảo an toàn cho hệ thống điện.

      Việc phát triển các nguồn điện mặt trời quy mô nhỏ cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ không còn là “điện sạch”, nếu việc tích trữ điện bằng pin, ắc quy không được kiểm soát rất dễ ảnh hưởng tới môi trường, như việc nhiễm độc chì hay axit từ các nguồn thải pin, ắc quy hỏng sau một thời gian sử dụng.

    • Nghệ An: 67 tỷ đồng đầu tư cấp điện nông thôn từ nguồn năng lượng tái tạo

      Dự án được đầu tư xây dựng tại 20 thôn bản thuộc 11 xã của các huyện: Kỳ Sơn, Quế Phong, Con Cuông, Quỳ Hợp (các huyện miền núi cao của tỉnh Nghệ An).

      Tại các địa phương được lựa chọn, dự án đã xây dựng 5 trạm điện năng lượng mặt trời dung lượng 5 kVA; 700 bộ phát điện năng lượng mặt trời dung lượng 3-500 VA; 265 bộ thủy điện nhỏ gia đình, dung lượng 3-600 VA. Ngoài ra, đầu tư thiết bị điện gồm dây dẫn và các phụ kiện, mạng điện trong nhà cho 970 hộ dân.

      Trước đó, ngày 28/12/2012, Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số 8217/QĐ-BCT phê duyệt “Quy hoạch phát triển năng lượng tái tạo vùng đồng bằng, trung du Bắc bộ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”; Quyết định số 2081/QĐ-TTg ngày 8/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình cấp điện nông thôn, miền núi và hải đảo giai đoạn 2013-2020.

      Thực hiện chương trình này, Sở Công Thương được UBND tỉnh Nghệ An giao nhiệm vụ lập báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư Dự án “Cấp điện nông thôn từ nguồn năng lượng tái tạo” để cấp điện cho các thôn, bản chưa có điện. Từ đó thu hút mọi nguồn lực đầu tư phát triển lưới điện để cung cấp điện với chất lượng bảo đảm tại khu vực nông thôn, miền núi, hải đảo nhằm tạo điều kiện cho người dân khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được sử dụng điện để sản xuất và phục vụ đời sống.  

      Theo Trung tâm tiết kiệm năng lượng tỉnh Nghệ An, Nghệ An có tiềm năng dồi dào và khá đa dạng về năng lượng tái tạo nhưng cho đến nay việc đầu tư vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh sẵn có.

      Nguyên nhân chủ yếu là tính kinh tế của nguồn năng lượng tái tạo chưa thực sự hấp dẫn, cùng với đó là các rào cản liên quan tới các chính sách và tổ chức hỗ trợ cho phát triển năng lượng tái tạo; thiếu thông tin và cơ sở dữ liệu phục vụ công tác quy hoạch và hoạch định chính sách; công nghệ và dịch vụ phụ trợ cho năng lượng tái tạo chưa phát triển; khó tiếp cận nguồn vốn... đã hạn chế việc triển khai các dự án năng lượng tái tạo.

      Dự án ưu tiên cấp điện cho các xã chưa có điện, những địa phương có tỷ lệ số hộ dân nông thôn sử dụng điện lưới quốc gia thấp hơn mức bình quân chung toàn tỉnh, những địa bàn trọng yếu về an ninh, quốc phòng.

    • EVN lắp đặt hệ thống điện mặt trời tại trụ sở Tập đoàn

      Dự án có tổng mức đầu tư khoảng 500 triệu đồng, dự kiến triển khai trong 45 ngày, từ ngày 15/8/2017. Vị trí lắp đặt tại mái khối đế (sân tầng 5) của tòa nhà với diện tích khoảng 450 m2, sử dụng công nghệ pin đa tinh thể (hiệu suất tối thiểu 16%). Các tấm pin được đấu nối vào hệ thống điện của tòa nhà thông qua thiết bị inverter và được giám sát thông qua hệ thống SCADA.

      Ông Nguyễn Hải Phú - Phó Tổng giám đốc phụ trách nhiệt điện và điện mặt trời của PECC2 cho biết, trong quá trình triển khai, PECC2 yêu cầu đơn vị thi công, lắp đặt phải đảm bảo yếu tố vận hành an toàn của tòa nhà, đồng thời tạo cảnh quan kiến trúc phù hợp với kiến trúc chung của tòa nhà và đáp ứng mục đích tuyên truyền, quảng bá về việc sử dụng năng lượng sạch.

      Sau khi đưa vào vận hành, hệ thống pin năng lượng mặt trời này sẽ góp phần bổ sung thêm nguồn cung cấp điện cho tòa nhà EVN. Đồng thời, khẳng định chủ trương chung của Tập đoàn Điện lực Việt Nam trong việc tăng cường đầu tư phát triển điện mặt trời trên cả nước.

    • Phát triển nguồn năng lượng thân thiện môi trường

      Giám đốc Công ty TNHH MTV Môi trường đô thị TP Hồ Chí Minh Huỳnh Minh Nhựt cho biết, bãi rác Gò Cát đã đóng cửa từ năm 2007 với tổng lượng rác đã chôn lấp khoảng 5,3 triệu tấn. Nhà máy điện rác Gò Cát được Chính phủ Hà Lan hỗ trợ xây dựng từ năm 2001, đến năm 2005 thì hòa lưới điện quốc gia. Theo đó, nhà máy thực hiện thu khí mê-tan từ bãi rác Gò Cát (đã đóng cửa) để phát điện. Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã đầu tư hệ thống hạ tầng lưới điện để hỗ trợ nhà máy điện rác này hòa vào lưới điện quốc gia. Giá bán điện của nhà máy điện rác Gò Cát hiện là 7,28 cent/kWh.

      Phát huy kết quả đạt được, đầu năm 2017, Công ty TNHH MTV Môi trường đô thị thành phố đã phối hợp Công ty TNHH Thủy Lực - Máy đề xuất với UBND thành phố thực hiện Đề án thực nghiệm “Xây dựng nhà máy điện - rác Gò Cát”, chuyển hóa chất thải rắn công nghiệp thành năng lượng xanh (điện rác) tại Khu xử lý chất thải rắn Gò Cát với quy mô công nghiệp, nhằm hòa lưới điện quốc gia (trung thế) 3.50 0V hoặc 6.600 V. Khác với dự án điện rác đang có tại bãi rác Gò Cát là sử dụng hoàn toàn công nghệ của Hà Lan, đề án thực nghiệm nhà máy điện rác của hai đơn vị này sử dụng hoàn toàn công nghệ của Việt Nam. Ngay sau khi được UBND thành phố phê duyệt, từ tháng 2-2017, chủ đầu tư đã bắt đầu triển khai thực hiện đề án. Tính đến thời điểm cuối tháng 6/2017, nhà máy đã xử lý 500 tấn rác thải công nghiệp, đã phát và hòa vào lưới điện quốc gia 7 MW.

      Bản chất của công nghệ điện rác là chuyển hóa các vật chất từ dạng rắn sang dạng khí bằng phương pháp nhiệt hóa trong điều kiện thiếu ô-xi. Dây chuyền thiết bị theo công nghệ điện rác gồm nhiều phần tích hợp thành một dây chuyền hoàn thiện bao gồm ba công đoạn. Đầu tiên là công đoạn xử lý tiền chế, rác công nghiệp (hỗn hợp rác) khi tập kết về sẽ được đưa vào hệ thống máy cắt đồng đều kích thước và loại bỏ kim loại có lẫn trong rác. Rác sau cắt được đưa vào hệ thống máy ép định hình thành viên nhiên liệu RDF. Công đoạn khí hóa là quá trình chuyển hóa nhiên liệu từ dạng rắn sang dạng khí, sản phẩm của công đoạn này là khí tổng hợp (syngas) và than các-bon (than sạch). Nguồn năng lượng xanh này được sử dụng làm nhiên liệu cho động cơ đốt trong phát điện ở công đoạn cuối cùng là phát điện và hòa lưới điện quốc gia.

      Đây là dây chuyền tự động, khép kín, quá trình khí hóa trong điều kiện thiếu ô-xi cho nên không phát thải thứ cấp, không ảnh hưởng đến môi trường. Công nghệ điện rác giúp thành phố có thêm giải pháp trong xử lý chất thải, tiến đến giảm dần xử lý rác bằng công nghệ chôn lấp như hiện nay, mang lại lợi nhuận kinh tế và lợi ích môi trường. Với công nghệ điện rác có thể xử lý chất thải rắn mà không cần phân loại trước, đây là yếu tố phù hợp đặc thù rác thải của Việt Nam và là điểm khác biệt so với một số công nghệ khác hiện nay. Đối với công nghệ này, chất thải vô cơ là tác nhân để chuyển hóa chất thải rắn, tức là sử dụng nhiệt hóa, chứ không đốt, để bẻ gãy các mạch hi-đrô-các-bon, chuyển hóa chất thải rắn từ thể rắn sang thể khí và tạo ra khí đốt tổng hợp syngas, phần còn lại là than các-bon…

      Từ thực tế hoạt động của dự án này, lãnh đạo UBND thành phố Hồ Chí Minh đã chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp các sở, ngành liên quan thành lập hội đồng khoa học thành phố đánh giá hiệu quả công nghệ điện rác đang thực nghiệm. Mặt khác, cho phép chủ đầu tư lập đề án xử lý điện rác từ rác thải sinh hoạt với công suất chuyển hoá 1.000 tấn rác sinh hoạt/ngày thành 20MW điện. Theo đó, công đoạn tiền xử lý, tách mô mềm, tạo viên nén từ rác thải sinh hoạt được thực hiện tại Phước Hiệp, huyện Củ Chi, sau đó chuyển về nhà máy điện rác tại Gò Cát để sản xuất, tạo thành dòng điện xanh. Các đơn vị đầu tư phải nghiên cứu kỹ công tác quản lý quá trình vận hành, xử lý rác thải sinh hoạt quy mô khoảng 1.000 tấn/ngày, không để phát sinh ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến chất lượng sống của người dân thành phố…

    • 33 tỉnh thành có tiềm năng phát triển thủy điện vừa và nhỏ

      Theo Hiệp hội Năng lượng Việt Nam, tình hình phát triển các loại nguồn điện của Việt Nam đều đang gặp những thách thức như: Các dự án điện khí chưa đảm bảo tiến độ và tính đồng bộ, nhiệt điện than không khuyến khích phát triển, dự án điện hạt nhân tại Ninh Thuận đã dừng xây dựng. Do đó, để đáp ứng nhu cầu điện của đất nước thì việc xem xét nghiên cứu tận dụng nguồn thủy điện, nhưng phải đảm bảo được vấn đề bảo vệ môi trường và đẩy mạnh phát triển năng lượng tái tạo là hoàn toàn hợp lý.

      Nhiều chuyên gia trong nước và quốc tế đã tham dự Hội nghị và chia sẻ những kinh nghiệm trong phát triển thủy điện nhỏ và năng lượng tái tạo 

      Phát triển thủy điện vừa và nhỏ có những ưu điểm nổi trội như: 33 tỉnh trên toàn quốc có tiềm năng phát triển; các công trình đầu mối thường có hồ chứa nên có khả năng tận dụng tổng hợp cao; các nhà máy thủy điện có chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật tốt, suất đầu tư hợp lý; góp phần tích cực trong phân bổ lực lượng sản xuất, tạo cơ sở hạ tầng để phát triển kinh tế - xã hội – văn hóa các vùng, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa.

      Bên cạnh đó, các nguồn năng lượng tái tạo như: Gió, mặt trời, sinh khối… cần được đẩy mạnh hơn nữa nhằm đạt được mục tiêu năm 2020 có 11,7 tỷ kWh và năm 2030 là 88,4 tỷ kWh.

      Tại Hội nghị, các đại biểu cơ bản thống nhất cần phải đẩy mạnh phát triển các dạng năng lượng này, trong đó phát triển thủy điện vừa và nhỏ phải đảm bảo được 5 nguyên tắc: An toàn tuyệt đối (hồ, đập, tính mạng của nhân dân); Di dân tái định cư đồng bộ; Không tác động xấu đến môi trường; Hiệu quả phát điện, hiệu quả tổng hợp (chống lũ, cung cấp nước); Thực hiện đúng quy định của pháp luật (quy hoạch lập và xét duyệt dự án, thi công giám sát, vận hành).

      Về nguồn năng lượng tái tạo trên cơ sở định hướng phát triển các nguồn điện gió, mặt trời, sinh khối… được xác định trong Chiến lược và Quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, cần nghiên cứu chuẩn xác tiềm năng các loại nguồn điện này, áp dụng các giải pháp tối ưu để phát triển nhanh và chắc chắn, tạo điều kiện giảm thiểu nguồn điện sử dụng nhiên liệu hóa thạch.

      Ông Trần Viết Ngãi – Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam cho biết, sau Hội nghị này, Hiệp hội, Tổng cục Năng lượng, EVN sẽ cùng các chuyên gia, nhà khoa học… nghiên cứu, tổng hợp các ý kiến tham luận để đề xuất với Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ và các bộ, ngành liên quan tháo gỡ các khó khăn, tạo điều kiện để phát triển bền vững ngành năng lượng Việt Nam nói chung, cũng như thủy điện vừa và nhỏ, năng lượng tái tạo nói riêng.

    • Bao giờ cân bằng giá mua và giá bán?

      Bù lỗ 2 cent/kWh điện mặt trời

      Theo ông Phương Hoàng Kim - Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Năng lượng, Bộ Công Thương, giá bán lẻ điện bình quân hiện nay là 1.622,01 đồng/kWh, tương đương khoảng 7,3 cent/kWh. Như vậy, khi mua điện mặt trời giá 9,35 cent/kWh, EVN lỗ khoảng 2 cent/kWh.

      Ông Hoàng Quốc Vượng - Thứ trưởng Bộ Công Thương cho biết, Chính phủ đã ban hành cơ chế phát triển các nguồn điện năng lượng tái tạo (NLTT). Với các cơ chế này, chắc chắn tỷ trọng nguồn điện NLTT sẽ tăng lên trong thời gian tới. Riêng đối với điện mặt trời, trước mắt mức giá này sẽ hỗ trợ giải tỏa công suất của các nhà máy điện mặt trời hiện có hoặc đang xây dựng, chuẩn bị đưa vào vận hành.

      Tuy nhiên, cũng cần phải nhìn nhận một cách khách quan về những khó khăn khi phát triển nguồn điện NLTT. Vì bản chất của điện gió, điện mặt trời là không ổn định, phụ thuộc vào thiên nhiên, khí hậu, thời tiết; trong khi đó, hệ thống điện quốc gia đòi hỏi phải có tính ổn định cao. Khi phát triển năng lượng tái tạo, yêu cầu về tính ổn định của hệ thống phải được đặt ra. Đó là các ràng buộc về kỹ thuật, công nghệ... Vì vậy, để đảm bảo tính ổn định của hệ thống điện, bên cạnh việc đầu tư phát triển NLTT, phải đầu tư các nguồn năng lượng điện khác, sẵn sàng thay thế khi cần thiết. 

      “Mặc dù hiện nay KHCN đã phát triển mạnh, chi phí đầu tư vào NLTT (điện mặt trời, điện gió) đã giảm rất nhanh, nhưng vẫn còn cao. Theo tính toán của EVN đến năm 2030, nguồn vốn phải bù lỗ cho NLTT là rất lớn, không phải quốc gia nào cũng có thể đáp ứng được. Với những khó khăn đó, phải có lộ trình phát triển phù hợp đối với NLTT. Mục tiêu là, trong thời gian ngắn có thể nâng cao hơn nữa tỷ trọng điện NLTT, nhưng giá điện NLTT phải phù hợp để khách hàng có thể chấp nhận được” - ông Hoàng Quốc Vượng nhấn mạnh.

      Giải bài toán cân bằng thu - chi?

      Theo GS.Viện sĩ. TSKH Trần Đình Long - Phó Chủ tịch Hội Điện lực Việt Nam, mặc dù giá điện mặt trời cao hơn giá bán bình quân khoảng 2 cent/kWh, song vẫn chưa đủ hỗ trợ, kích thích đầu tư phát triển năng lượng mặt trời. Hiện nay, trong hệ thống điện Việt Nam, nguồn thủy điện vẫn chiếm tỷ trọng cao, trong khi các nguồn NLTT chưa nhiều, việc huy động các nguồn điện giá thành thấp (từ các nhà máy thủy điện) có thể bù lỗ cho nguồn điện NLTT giá thành cao. “Khi không có nguồn điện gió và mặt trời, hệ thống cần phải huy động bù từ nguồn thủy điện. Tuy nhiên, tỷ trọng của NLTT đang ngày càng gia tăng, trong khi thủy điện không đủ khả năng bù đắp mãi, không chỉ về giá mà còn phải đảm bảo dự trữ nguồn nước. Đây cũng là nội dung cần phải nghiên cứu, tính toán hết sức cẩn trọng…”.

      Tại “Diễn đàn Năng lượng Việt Nam – hiện tại và tương lai” tổ chức đầu tháng 5 vừa qua, đại diện Cục Điều tiết Điện lực (Bộ Công Thương) cũng đã chỉ ra 5 yếu tố ảnh hưởng đến giá điện trong nước khi phát triển NLTT. Trong đó, phải kể đến vốn đầu tư phát triển hạ tầng (nguồn - lưới điện). Đây là thành phần chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu giá điện. 

      Hiện nay, thủy điện chiếm gần 40% tổng điện năng sản xuất hàng năm, nhưng hầu như tiềm năng này đã được khai thác hết. Trong 10 năm tới, tỷ trọng các nguồn nhiệt điện than, khí sẽ tăng lên. Việt Nam đã bắt đầu phải nhập khẩu than và đang tính đến việc phải nhập khẩu khí đốt. Do đó, giá điện từ các nguồn này cũng khá cao, khó có khả năng hỗ trợ, bù đắp cho phần chênh lệch của giá điện NLTT như gió, mặt trời. 

      Cùng với các yếu tố khác như thuế, phí bảo vệ môi trường, nhiều khoản chi phí trả cho các nguồn NLTT thì cơ chế cạnh tranh về giá trong thị trường điện cũng sẽ tác động không nhỏ tới giá điện nói chung, giá NLTT nói riêng. Thị trường điện cho phép các doanh nghiệp phát điện được cạnh tranh với nhau. Khi nguồn điện khan hiếm, giá thị trường sẽ cao. Và ngược lại, khi nguồn điện dư thừa, giá thị trường sẽ giảm. Điều này sẽ ảnh hưởng đến giá bán điện theo cả hai hướng tăng và giảm. 

      Phát triển NLTT trong tương lai gần có thể làm cho giá điện tăng nhanh hơn, nhưng với mức tăng không nhiều. Tuy nhiên, về lâu dài, phát triển NLTT sẽ thu được lợi ích không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, giảm nhập khẩu năng lượng… 

      Theo ý kiến nhiều chuyên gia kinh tế, chỉ khi giá điện được thực hiện theo cơ chế thị trường thì mới thu hút các nhà đầu tư vào lĩnh vực điện năng cũng như phát triển NLTT. Nguồn vốn đầu tư tư nhân rất quan trọng, có tính quyết định đến sự thành công của Chiến lược phát triển NLTT trong thời gian tới. Cùng với các cơ chế khuyến khích về giá cho các nguồn NLTT, việc thực hiện cơ chế thị trường còn tạo sự minh bạch tài chính, mời gọi đầu tư của tư nhân cũng như hỗ trợ vốn từ các ngân hàng. 

      Ông Lê Vĩnh Sơn – Tổng giám đốc Tập đoàn Sơn Hà cho rằng, với các cơ chế khuyến khích về giá điện mặt trời cộng với các cơ chế ưu đãi về đất đai và KHCN, việc đầu tư vào các dự án điện mặt trời sẽ tăng nhanh, suất đầu tư giảm, chắc chắn giá điện mặt trời sẽ giảm nhanh trong thời gian tới. Tuy nhiên, cơ chế giá điện đang bị thắt đầu ra, nguồn vốn cho đầu tư kết cấu hạ tầng nguồn và lưới điện, đảm bảo huy động các nguồn NLTT ngày càng tăng; trong khi thủy điện - nguồn điện giá rẻ đang giảm dần, cũng như phụ thuộc ngày càng nhiều vào thiên nhiên. Việc nhập khẩu các nguồn năng lượng hóa thạch như than, khí… đáp ứng nhu cầu tăng trưởng phụ tải điện tăng cao làm cho khoảng cách giữa giá mua và giá bán ngày càng xa hơn, khả năng cân bằng giữa giá mua và giá bán trên hệ thống điện quốc gia vẫn là một “bài toán” khó! 

      Một số kiến nghị của Cục Điều tiết Điện lực (Bộ Công Thương) nhằm giảm áp lực đối với giá điện khi phát triển NLTT: 

      - Có cơ chế điều chỉnh giá điện phù hợp, kiểm soát được giá điện bán lẻ, nhưng vẫn đảm bảo giá điện phản ánh đầy đủ các chi phí; 
      - Khuyến khích nhà đầu tư xây dựng các nguồn điện độc lập, tham gia cạnh tranh hiệu quả trong thị trường điện;
      - Phát triển lưới điện thông minh và các chương trình điều chỉnh phụ tải;
      - Xây dựng cơ chế thị trường điện cạnh tranh và khuyến khích các nguồn NLTT phân tán, hoạt động theo cơ chế bù trừ năng lượng. Các nguồn năng lượng này nằm gần phụ tải, vừa giảm bớt chi phí đầu tư cho kết cấu hạ tầng, đồng thời, có cơ chế bù trừ sẽ giúp cho giá điện giảm bớt phần chênh lệch do phải hỗ trợ các nguồn NLTT nối lưới...


       

    • Dự án Điện gió Hướng Phùng 1 của EVNGENCO2 được chấp thuận chủ trương đầu tư

      Dự án có tổng vốn đầu tư 1.265 tỷ đồng, có quy mô 30 MW, với 15 tổ máy (công suất 2 MW/tổ), diện tích đất sử dụng dự kiến là 31 ha.

      Theo tiến độ dự kiến, tháng 12/2018 sẽ khởi công và thi công các công trình cơ sở hạ tầng; từ tháng 8/2019 đến tháng 8/2020 sẽ triển khai thi công các gói thầu EPC.

      Quyết định chấp thuận đầu tư của UBND tỉnh Quảng Trị cũng ghi rõ, đây là dự án có ngành nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư, thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Nghị định 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 của Chính phủ, được áp dụng một số ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp; thuế nhập khẩu; miễn, giảm tiền thuê đất, tiền sử dụng đất, thuế sử dụng đất.

      Chi tiết Quyết định có file đính kèm.

    • Hoa Kỳ sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam phát triển năng lượng sạch

      Tham dự buổi tiếp còn có đại diện lãnh đạo các bộ: Công Thương, Kế hoạch và Đầu tư, Ngoại giao, Tài chính và Văn phòng Chính phủ, Tập đoàn Điện lực Việt Nam. Về phía Đoàn công tác Hoa Kỳ có ông Ted Osius, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, cùng đại diện một số doanh nghiệp và trường đại học của Hoa Kỳ.

      Trưởng ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Văn Bình hoan nghênh chuyến thăm Việt Nam của nguyên Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry; đánh giá cao những phát triển tích cực trong quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trong lĩnh vực thương mại, đầu tư và nhiều lĩnh vực khác đem lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước, góp phần tích cực thúc đẩy toàn diện quan hệ hợp tác của hai nước. 

      Trao đổi với ông Nguyễn Văn Bình, nguyên Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry khẳng định, Hoa Kỳ sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam hơn nữa trong đối phó với biến đổi khí hậu, đặc biệt trong việc phát triển năng lượng sạch, hạ tầng cơ sở bền vững, quản lý nguồn nước thông minh và tài nguyên trong hệ sinh thái. 

      Ông John Kerry cho rằng, kinh tế Việt Nam đang tăng trưởng nhanh nên cần xây dựng thêm nhà máy điện bằng năng lượng sạch. Về chi phí, năng lượng tái tạo đang giảm từ 9 - 12% mỗi năm và sẽ còn rẻ hơn nữa, ví dụ như chi phí điện mặt trời của Hoa Kỳ giảm từ 4.500 USD/kWh năm 2009 xuống còn 1.420 USD/kWh năm 2016. 

      Ông John Kerry đưa ra so sánh: Xây nhà máy điện than sẽ mất 4 - 6 năm, nhưng chỉ mất một năm cho điện mặt trời và điện gió. Vì vậy, Việt Nam cần chuyển sang những nguồn năng lượng mới như năng lượng tái tạo. Trưởng ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Văn Bình nhấn mạnh, Việt Nam luôn chú trọng đến an ninh năng lượng, coi đây là mục tiêu hàng đầu trong chính sách, chiến lược phát triển ngành năng lượng của Việt Nam. 

      Việt Nam luôn mong muốn sử dụng có hiệu quả nguồn năng lượng sơ cấp trong nước, kết hợp với nhập khẩu điện, nhập khẩu nhiên liệu hợp lý nhằm đa dạng hóa các nguồn năng lượng sơ cấp cho sản xuất điện, ưu tiên phát triển nguồn điện sử dụng năng lượng tái tạo, tạo đột phá trong việc đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, góp phần bảo tồn tài nguyên năng lượng, giảm thiểu tác động tiêu cực tới môi trường trong sản xuất điện. 

      Ông Nguyễn Văn Bình cho rằng, Việt Nam sẽ tiếp tục hướng tới mục tiêu nền kinh tế các-bon thấp, tập trung vào phát triển các ngành năng lượng tái tạo như gió, mặt trời, thay đổi mô hình sản xuất và tiêu dùng hiện tại theo hướng bền vững. Việt Nam sẽ tiếp tục chú trọng những giải pháp này trong tương lai để góp phần đảm bảo an ninh năng lượng. 

      Việt Nam sẽ huy động mọi nguồn lực trong nước và quốc tế cho phát triển điện lực để bảo đảm cung cấp đủ điện với chất lượng ngày càng cao, giá điện hợp lý cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; sử dụng đa dạng, hiệu quả các nguồn năng lượng sơ cấp cho sản xuất điện; đẩy mạnh phát triển và sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo cho sản xuất điện, từng bước nâng cao tỷ trọng nguồn điện sản xuất từ nguồn năng lượng tái tạo, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng, giảm nhẹ biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. 

      Kết thúc buổi hội đàm, Trưởng ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Văn Bình cảm ơn ý tưởng thiết thực của ông John Kerry. Việt Nam đánh giá cao và nhất trí với đề xuất của ông John Kerry trong việc cùng nhau nghiên cứu và phát triển ngành năng lượng tái tạo của Việt Nam.

    • Khởi động Quy hoạch Năng lượng Sinh khối tại tỉnh An Giang

      Hội thảo nằm trong khuôn khổ Chương trình Sẵn sàng Tài chính Khí hậu (CF Ready) do GIZ hợp tác với Tổng cục Năng lượng (Bộ Công Thương) triển khai, dưới sự ủy quyền của Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển Liên bang Đức, Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ và Bộ Môi trường của Cộng hòa Séc.

      Tại Hội thảo, các đại diện đến từ Viện Năng lượng đã trình bày các thành tựu chính và bước tiếp theo để tăng cường sử dụng năng lượng sinh khối tại Việt Nam. Công ty tư vấn quốc tế đến từ Đức - IfaS cũng chia sẻ những đánh giá về ảnh hưởng của các dự án sinh khối đến môi trường, xã hội và nền kinh tế.

      Các chuyên gia đều nhất trí rằng, nếu được sử dụng hiệu quả, các nguồn sinh khối sẽ giúp tỉnh An Giang giảm sự phụ thuộc vào những nguồn năng lượng truyền thống, giảm lượng khí thải carbon và ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, quá trình sản xuất năng lượng sinh khối cũng đem lại thu nhập cho các doanh nghiệp, nông trại và hộ gia đình tham gia trong chuỗi cung ứng nguồn sinh khối...

      Bà Sonia Lioret, Quản lý dự án Năng lượng tái tạo và Hiệu quả năng lượng của GIZ đánh giá cao tiềm năng phát triển năng lượng sinh khối ở địa phương này. "Hội thảo này là một trong những bước đầu tiên của chúng tôi để giúp tỉnh An Giang xây dựng Quy hoạch Phát triển Năng lượng sinh khối, nhằm sử dụng được tối đa nguồn phụ phẩm sinh khối cho sản xuất năng lượng và thúc đẩy đầu tư của khu vực tư nhân”.

      Trước đó, GIZ cũng phối hợp với Sở Công Thương tỉnh Gia Lai tổ chức một hội thảo về quy hoạch năng lượng sinh khối ở Gia Lai. 

      Theo Quy hoạch điện VII điều chỉnh, Chính phủ Việt Nam đặt mục tiêu tỷ trọng điện năng sản xuất từ sinh khối tăng từ 0,16% trong tổng sản lượng điện năm 2016 lên 1% vào năm 2020 và 2,1% vào năm 2030.

    • Cục Điều tiết Điện lực tổ chức tham vấn về chính sách bù trừ điện năng cho điện mặt trời lắp mái

      Ông Đinh Thế Phúc - Phó Cục trưởng Cục Điều tiết Điện lực phát biểu tại Hội thảo

      Khai mạc Hội thảo, ông Đinh Thế Phúc - Phó Cục trưởng Cục Điều tiết Điện lực (Bộ Công Thương) cho biết, triển khai Quyết định số 11/QĐ-TTg ngày 11/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời, Cục Điều tiết Điện lực đang phối hợp với Tổng cục Năng lượng khẩn trương xây dựng, hoàn thiện các quy định; trong đó có tiêu chuẩn kỹ thuật, dự thảo hợp đồng về điện mặt trời lắp mái…

      “Được sự tài trợ của Cơ quan Sáng kiến năng lượng châu Âu về Đối thoại và Hợp tác (EUEI PDF), Cục Điều tiết Điện lực đã và đang phối hợp với các tư vấn thực hiện Dự án Hỗ trợ kỹ thuật quy định công tơ hai chiều phát triển năng lượng mặt trời lắp mái; nghiên cứu đề xuất những quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật phù hợp với lưới điện tại Việt Nam…”, ông Phúc cho hay.

      Tại Hội thảo, đại diện EUEI PDF đã trình bày các vấn đề liên quan đến cơ chế bù trừ điện năng cho điện mặt trời như: Các thách thức về chính sách; cơ chế chi trả; quy định luật pháp và kỹ thuật; kinh nghiệm từ các quốc gia trên thế giới như Trung Quốc, Đức, Hoa Kỳ…

      Ông Alejandro Montalban - Trưởng Bộ phận Hợp tác và Phát triển, Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam cho biết: “Việt Nam đề ra một mục tiêu khá tham vọng về khai thác tiềm năng năng lượng mặt trời. Chính phủ Việt Nam cũng đã thể hiện rõ quyết tâm đạt được mục tiêu này. EUEI PDF sẽ hỗ trợ và chia sẻ những kinh nghiệm từ quốc tế để góp sức vào quá trình này”. 

    • Nhiều dự án điện mặt trời đầu tư vào Bình Thuận

      Điều kiện thiên nhiên nắng nhiều là yếu tố quan trọng giúp Bình Thuận dẫn đầu trong nhóm các địa phương phát triển toàn diện ngành công nghiệp điện. Cụ thể, nhờ ít mưa, số giờ nắng trong năm luôn ở mức lý tưởng và phần lớn diện tích có cường độ bức xạ nhiệt trung bình khoảng 5 kWh/m2, mà Bình Thuận có nhiều lợi thế để phát triển năng lượng mặt trời. Tiềm năng điện mặt trời của Bình Thuận đang được rất nhiều nhà đầu tư quan tâm và mong muốn triển khai dự án. 

      Ông Nguyễn Ngọc Hai, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận cho biết: Đối với quy hoạch phát triển điện mặt trời, quan điểm của tỉnh là tạo điều kiện thuận lợi để huy động vốn từ các thành phần kinh tế nhằm khai thác lợi thế về tài nguyên năng lượng lẫn đất đai một cách tối ưu. Quy hoạch này cũng gắn với chiến lược phát triển năng lượng chung và hài hòa với phát triển của các ngành kinh tế khác, đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội thiết thực cho địa phương… Cơ cấu thu hút đầu tư của tỉnh chuyển đổi rõ nét theo hướng khuyến khích phát triển năng lượng sạch song hành với các ngành kinh tế mũi nhọn, nhằm từng bước thực hiện mục tiêu trở thành trung tâm năng lượng của cả nước vào năm 2020 với tổng công suất đạt trên 12.000 MW. 

      Tính đến nay, đã có 5 dự án điện mặt trời được cấp quyết định chủ trương đầu tư hoặc giấy chứng nhận đầu tư tại huyện Tuy Phong, Bắc Bình và thành phố Phan Thiết với tổng vốn đầu tư trên 14.800 tỷ đồng. Trong đó có dự án lớn như: Nhà máy sản xuất điện mặt trời, công suất 200 MW tại xã Thiện Nghiệp, thành phố Phan Thiết, diện tích 309 ha; Nhà máy sản xuất điện mặt trời, công suất 150 MW tại huyện Bắc Bình và thành phố Phan Thiết, diện tích 211 ha...

      Bên cạnh đó, đến nay UBND tỉnh cũng có văn bản chấp thuận chủ trương khảo sát, nghiên cứu đầu tư gần 30 dự án điện mặt trời xin đăng ký triển khai trên địa bàn Bình Thuận. Trong đó có 2 dự án đã lập bổ sung quy hoạch phát triển điện lực tỉnh và được Bộ Công Thương phê duyệt là: Nhà máy Điện mặt trời Eco Seido (công suất 40 MW) và Nhà máy Điện mặt trời Đa Mi (công suất 47 MW). 

      Hiện trên toàn địa bàn Bình Thuận có hơn 40 vị trí quy hoạch đưa vào danh mục thu hút dự án điện mặt trời với nhu cầu sử dụng đất khoảng 7.730 ha. Trong đó tập trung nhiều nhất là ở khu vực Bắc Bình, Tuy Phong, Hàm Tân… Theo quy hoạch, đến năm 2030 tỉnh Bình Thuận có thể thu hút đầu tư phát triển các dự án nhà máy năng lượng mặt trời tổng công suất trên 4.000 MW. Đây là một trong những điều kiện thuận lợi để Bình Thuận trở thành Trung tâm năng lượng sạch trong tương lai.

    • Bình Định đón thêm một dự án năng lượng triệu USD

      Dự án Nhà máy điện mặt trời và điện gió Fujiwara Bình Định là dự án 100% vốn nước ngoài do Công ty CP Fujiwara, Nhật Bản đầu tư tại khu vực sườn núi phía Tây núi Phương Mai, thuộc Khu kinh tế Nhơn Hội với diện tích 60 ha, công suất 100 MW, thời gian hoạt động là 50 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.

      Theo tiến độ đăng ký, Dự án sẽ được triển khai đầu tư từ quý II/2017 và hoàn thành đi vào sản xuất và kinh doanh giai đoạn 1 (sản xuất điện mặt trời với quy mô công suất 64 MW) trong quý I/2019, hoàn thành đi vào sản xuất và kinh doanh giai đoạn 2 (đầu tư bổ sung nhà máy sản xuất điện gió với quy mô công suất 36 MW) trong quý I/2020.

      Sản phẩm của Dự án là sản xuất điện từ năng lượng mặt trời và năng lượng gió. Đây là lĩnh vực được Chính phủ Việt Nam đặc biệt khuyến khích đầu tư. Khi đi vào hoạt động, Dự án sẽ tạo cơ hội việc làm ổn định lâu dài cho hơn 100 lao động, góp phần ổn định an sinh xã hội, đóng góp vào ngân sách địa phương…Bên cạnh đó, Dự án sẽ góp phần xây dựng cảnh quan, tạo động lực thu hút khách du lịch đến với Bình Định.

      Tính đến nay, trên địa bàn tỉnh đã có nhiều lượt nhà đầu tư trong và ngoài nước đến tỉnh, quan tâm đến lĩnh vực năng lượng điện mặt trời, điện gió, trong số đó có 18 nhà đầu tư đăng ký dự án và có 6 dự án được tỉnh Bình Định chấp thuận chủ trương, khảo sát để lập dự án đầu tư.

      Đây là dự án có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) thứ 2 của Nhật Bản đầu tư vào Khu kinh tế Nhơn Hội và là dự án thứ 12 của Nhật Bản vào tỉnh Bình Định, nâng tổng vốn FDI từ Nhật Bản lên gần 100 triệu USD. Trước đó là dự án được cấp phép vào KKT Nhơn Hội là Nhà máy sản xuất đồ gỗ nội thất của Công ty CP Marubeni Lumber Nhật Bản.

      Với việc dự án được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và chuẩn bị triển khai, Bình Định kỳ vọng thời gian tới sẽ đón nhận một "làn sóng" đầu tư mạnh mẽ từ Nhật Bản đến với Khu kinh tế Nhơn Hội.

    • Điện mặt trời: Nguồn năng lượng sạch cho gia đình, doanh nghiệp

      Từng bước “đi” vào cuộc sống

      Nếu trước đây, năng lượng mặt trời được xem là nguồn năng lượng xa xỉ do suất đầu tư cao, thì hiện nay, với sự phát triển mạnh của KHCN, suất đầu tư giảm, điện mặt trời đã bắt đầu đi vào cuộc sống, được nhiều gia đình, doanh nghiệp sử dụng, mang lại hiệu quả. Gia đình anh Lê Minh Dương (quận Đống Đa, Hà Nội) lắp 12 tấm pin năng lượng mặt trời trên mái nhà, tổng công suất 3,6 kWp, hàng tháng tiết kiệm được từ 1,2 - 1,4 triệu đồng tiền điện. Anh Dương chia sẻ: “Với suất đầu tư ban đầu khoảng 16 triệu đồng/kWp, 5 năm sau, gia đình tôi sẽ hoàn vốn. Từ năm thứ 6 trở đi, gia đình sẽ thu lãi gần 20 triệu đồng/năm. Đặc biệt, pin NLMT có tuổi thọ rất cao, từ 20-25 năm”.

      Tại Công ty Điện lực Bà Rịa - Vũng Tàu, kể từ khi đưa vào sử dụng hệ thống ĐMT lắp mái công suất 140 kWp ở Tòa nhà văn phòng, trung bình mỗi tháng, Công ty tiết kiệm được hơn 21 triệu đồng tiền điện. Ngoài ra, ĐMT lắp trên mái cũng đã được triển khai và áp dụng nhiều nơi trên toàn quốc, mang lại hiệu quả thiết thực như: Tòa nhà Liên hợp quốc tại Việt Nam, Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Nhà làm việc của Bộ Công Thương,…

      Hệ thống ĐMT lắp mái của Trung tâm Sữa chữa điện nóng Yên Nghĩa (Công ty Lưới điện cao thế TP. Hà Nội)

      Theo Giáo sư, Viện sĩ Trần Đình Long - Phó Chủ tịch Hội Điện lực Việt Nam, ưu điểm của ĐMT lắp mái là không chiếm dụng đất mà sử dụng diện tích các mái nhà sẵn có. Điện phát ra có thể sử dụng trực tiếp cho nhu cầu gia đình hoặc hòa vào điện lưới. 

      Do đó, các hộ gia đình, doanh nghiệp nếu có mặt bằng và điều kiện thuận lợi tiếp nhận ánh sáng mặt trời, nên lắp đặt ĐMT, tận dụng nguồn năng lượng tái tạo. Đặc biệt, với các tòa nhà văn phòng, khu chung cư, việc lắp đặt  ĐMT trên mái có dư sức cấp điện cho hệ thống thang máy, điều hòa, nước nóng... mang lại hiệu quả kinh tế rất cao.

      Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi lắp đặt, các hộ gia đình cần lưu ý đến vấn đề an toàn và cần có chuyên gia tư vấn, hỗ trợ để nguồn NLMT phát huy hiệu quả cao nhất.

      Cần có cơ chế khuyến khích phát triển

      Giáo sư, Viện sĩ Trần Đình Long cho rằng, một trong những rào cản đối với việc phát triển ĐMT là suất đầu tư cao so với các nguồn năng lượng khác. Do vậy, nếu có một cơ chế hỗ trợ, khuyến khích phát triển như hỗ trợ về giá bán, hệ thống ĐMT lắp mái nối lưới sẽ có cơ hội phát triển mạnh.

      “ĐMT tại Việt Nam thường có công suất phát cao nhất từ 9 giờ sáng cho đến 15 giờ chiều. Vì vậy, nếu quy định bán điện vào giờ cao điểm được tính theo giá cao hơn, sử dụng điện vào giờ cao điểm phải trả giá cao thì các nguồn ĐMT sẽ có lợi nhiều hơn và thời gian thu hồi vốn cũng sẽ nhanh hơn”, Giáo sư, Viện sĩ Trần Đình Long cho hay.

      Tháng 4 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án ĐMT tại Việt Nam, với nhiều ưu đãi về thuế, giá bán ĐMT. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng, ngoài các cơ chế, chính sách của Nhà nước, mỗi địa phương cũng cần xây dựng các cơ chế hỗ trợ riêng để thúc đẩy thị trường ĐMT. 

      Ông Huỳnh Kim Tước - Giám đốc Trung tâm Tiết kiệm năng lượng TP.HCM: Để phát triển ĐMT, ngoài cơ chế giá, việc xây dựng các chính sách khác như: Hành lang pháp lý cho phát triển năng lượng tái tạo trong đó có ĐMT; chính sách tài chính và hỗ trợ vốn với lãi suất hợp lý… cũng góp phần quan trọng hỗ trợ và thúc đẩy ĐMT phát triển, trong đó có ĐMT lắp mái.  
    • Hiệu quả từ hệ thống năng lượng mặt trời của Công ty Lưới điện Cao thế TP Hà Nội

      Kỹ sư Dương Anh Tùng - người lắp đặt, theo dõi hoạt động của hệ thống pin năng lượng mặt trời (NLMT) của Trung tâm Sửa chữa điện nóng Yên Nghĩa cho biết, nhằm tiết kiệm năng lượng, ứng dụng hiệu quả nguồn năng lượng sạch, giữa tháng 11/2016, Tổng công ty Điện lực TP. Hà Nội (EVNHANOI) cho phép Công ty Lưới điện cao Thế TP Hà Nội lắp đặt hệ thống pin NLMT trên mái nhà của Trung tâm, với tổng công suất 24,3 kWp. 

      Hệ thống tấm pin NLMT lắp mái trên tòa nhà của Trung tâm Sữa chữa điện nóng Yên Nghĩa

      Các tấm pin NLMT trên mái của Trung tâm Sữa chữa điện nóng Yên Nghĩa được thiết kế gồm 2 hệ thống: Hệ thống điện mặt trời hòa lưới (công suất: 20,28 kWp) và hệ thống điện mặt trời dự phòng (công suất: 3,12 kWp).

      Với hệ thống điện mặt trời hòa lưới, nếu điện năng tạo ra bằng nhu cầu tiêu thụ của toà nhà, toà nhà sẽ nhận điện hoàn toàn từ nguồn NLMT này. Khi công suất từ nguồn điện mặt trời nhỏ hơn nhu cầu tiêu thụ, tòa nhà sẽ nhận thêm nguồn từ điện lưới.

      Nếu công suất điện mặt trời lớn hơn công suất tiêu thụ, phần điện năng dư thừa sẽ được phát lên lưới điện quốc gia. Trong trường hợp mất điện lưới thì hệ thống điện mặt trời hòa lưới sẽ tự động được cách ly để đảo bảo an toàn cho lưới điện. 

      Với hệ thống điện mặt trời dự phòng, khi điện mặt trời phát ra nhiều hơn nhu cầu sử dụng, phần điện dư thừa sẽ được nạp vào ắc quy. Cũng theo kỹ sư Dương Anh Tùng, vào mùa hè, bức xạ mặt trời lớn thì sản lượng điện thu được từ hệ thống sẽ nhiều hơn. 

      Việc lắp đặt hệ thống pin NLMT của Trung tâm Sửa chữa điện nóng Yên Nghĩa không chỉ góp phần tăng cường khả năng ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến, các nguồn năng lượng xanh và sạch, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, nâng cao độ tin cậy, tính chủ động về nguồn điện phục vụ sản xuất kinh doanh mà còn phù hợp với định hướng xây dựng lưới điện thông minh (Smart Grid).

      Việt Nam được đánh giá có tiềm năng rất lớn về điện mặt trời. Trong đó, việc ứng dụng hệ thống pin năng lượng mặt trời lắp mái để sản xuất điện sẽ góp phần giúp các gia đình, doanh nghiệp giảm đáng kể chi phí tiền điện và giảm áp lực cung ứng điện cho ngành Điện, đặc biệt là vào mùa nắng nóng.

    • Đức hỗ trợ Việt Nam phát triển điện mặt trời

      Hội thảo nằm trong Chương trình hỗ trợ năng lượng; trong khuôn khổ Dự án hỗ trợ kỹ thuật của Chính phủ CHLB Đức “Năng lượng tái tạo và Hiệu quả năng lượng” (gọi tắt là Dự án 4E), được thực hiện bởi GIZ và Tổng cục Năng lượng, Bộ Công Thương, dưới sự ủy nhiệm của Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển Liên bang Đức (BMZ).

      Dự án 4E hỗ trợ Chính phủ Việt Nam hiện thực hóa tiềm năng năng lượng tái tạo, từ đó góp phần hoàn thành các chỉ tiêu trong Quy hoạch điện VII điều chỉnh, chiến lược Phát triển xanh và giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu của Việt Nam.

      Ông Ingmar Stelter - Giám đốc Chương trình hỗ trợ năng lượng MOIT-GIZ cho biết, Việt Nam đang đẩy nhanh CNH – HĐH đất nước, nhu cầu sử dụng điện ngày càng nhiều, gây áp lực rất lớn cho ngành Điện. Trong khi nguồn thủy điện gần như khai thác hết, Dự án Điện hạt nhân Ninh Thuận đã tạm dừng, thì phát triển năng lượng tái tạo là một xu hướng tất yếu.

      Hội thảo "Xây dựng phát triển điện mặt trời tại Việt Nam: Hiện trạng và kinh nghiệm quốc tế” được tổ chức nhằm cung cấp những thông tin cơ bản về tiềm năng, mục tiêu quốc gia và khung pháp lý phát triển điện mặt trời tại Việt Nam; các cơ hội và thách thức đối với nhà đầu tư; kinh nghiệm thế giới về hiện trạng phát triển điện mặt trời, các nhân tố thành công, chi phí, các vấn đề đấu nối và quy hoạch dự án điện mặt trời,...

      Hội thảo còn là diễn đàn đối thoại tạo cơ hội cho đại diện của các Bộ, ngành Trung ương và các sở, ban, ngành địa phương của 32 tỉnh, thành có tiềm năng phát triển điện mặt trời, các nhà đầu tư trong nước và quốc tế đóng góp ý kiến vào bản dự thảo Thông tư về đầu tư điện mặt trời và Hợp đồng mua bán cho các dự án điện mặt trời.

      Ngoài ra, Hội thảo còn tổ chức một phiên thảo luận bàn tròn với sự tham gia của đại diện các Sở Công Thương, nhà đầu tư và ngân hàng thương mại.

      Việt Nam có tiềm năng rất lớn về các nguồn năng lượng tái tạo, trong đó tiềm năng năng lượng mặt trời cho khu dân cư và thương mại ước tính đạt tối thiểu 2 – 5 GW trong thập kỷ tới. Công suất của hệ thống mặt trời lắp trên mặt đất có tiềm năng vào khoảng 22 GW đối với khu vực miền Nam.

      Trong Quy hoạch điện VII điều chỉnh, Chính phủ Việt Nam đặt ra mục tiêu tăng công suất điện mặt trời từ khoảng 6 - 7 MW vào cuối năm 2015 lên 850 MW vào năm 2020, 4.000 MW vào năm 2025 và 12.000 MW vào năm 2030.

      Mới đây, Thủ tướng chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg (ngày 11/4/2017) về cơ chế hỗ trợ cho dự án điện mặt trời. Việc ban hành giá mua điện mặt trời thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư tiềm năng và các cơ quan nhà nước tham gia vào phát triển năng lượng mặt trời tại Việt Nam.

    • Kinh nghiệm sử dụng điện mặt trời ở Bà Rịa - Vũng Tàu

      Ông Trần Thanh Hải, Phó Giám đốc PC Bà Rịa - Vũng Tàu cho biết, bình quân, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có khoảng 2.000 - 2.600 giờ nắng/năm, với cường độ bức xạ trung bình khá cao, khoảng 5,47 kWh/m2/ngày, đặc biệt là từ tháng 1 đến tháng 5 hàng năm. Phát huy lợi thế này, từ tháng 7/2016, PC Bà Rịa - Vũng Tàu đã lắp đặt và đưa vào sử dụng hệ thống điện mặt trời (ĐMT) nối lưới tại văn phòng Công ty.

      Cũng theo ông Hải, nguồn điện mặt trời sử dụng vào mục đích dân sinh chủ yếu có công suất nhỏ. Để phát huy hiệu quả, PC Bà Rịa - Vũng Tàu đã tiến hành hòa lưới trực tiếp từ nguồn điện mặt trời (không tích trữ), phù hợp với nhu cầu sử dụng ngày càng nhiều điện vào giờ hành chính, chủ yếu phục vụ nhu cầu thắp sáng, hệ thống máy lạnh, máy tính... 

      Đặc biệt, việc sử dụng hệ thống điện mặt trời hòa lưới trực tiếp không cần bộ tích điện, suất đầu tư cũng như chi phí bảo dưỡng thấp, độ bền cao, bảo hành lâu dài và dễ dàng nâng cấp mở rộng hệ thống. Ngoài ra, khi hòa lưới trực tiếp còn có thể loại bỏ được các vật liệu gây ô nhiễm môi trường như chì, lithium...

      Hệ thống điện mặt trời của PC Bà Rịa - Vũng Tàu được thiết kế và lắp đặt trên nóc tòa nhà văn phòng, với tổng diện tích mái là 1.164m2, công suất 140 kWp. Hệ thống hoạt động theo nguyên lý, các tấm pin NLMT sẽ nhận bức xạ mặt trời và chuyển hóa thành nguồn điện một chiều (DC). Thông qua bộ biến đổi điện DC/AC, nguồn điện DC được chuyển đổi thành nguồn điện xoay chiều 220 V/ 50 Hz (AC) cùng pha, cùng tần số, kết nối với lưới điện (điểm hòa lưới). Từ điểm hòa lưới, dòng điện AC đi đến các bảng tủ điện để cung cấp cho các phụ tải sử dụng hoặc phát lên lưới điện. 

      Ông Trần Thanh Hải cho biết, do hệ thống điện mặt trời hòa lưới trực tiếp là hệ thống mở (công suất phát của hệ thống không phụ thuộc vào công suất tải sử dụng), nên khi công suất điện mặt trời phát bằng công suất tiêu thụ, văn phòng sẽ nhận điện hoàn toàn từ nguồn điện mặt trời. Khi công suất từ nguồn điện mặt trời nhỏ hơn công suất tiêu thụ (do thiếu nắng, vào ban đêm...), Văn phòng sẽ nhận thêm nguồn từ điện lưới. Còn khi công suất điện mặt trời lớn hơn công suất tiêu thụ, nguồn điện mặt trời sẽ hòa vào lưới điện quốc gia cung cấp cho khách hàng.

      Toàn cảnh hệ thống tấm pin NLMT lắp trên mái của tòa nhà Văn phòng PC Bà Rịa - Vũng Tàu

      Tiết kiệm chi phí, bảo vệ môi trường

      Tuy mới đi vào hoạt động, nhưng đến nay, hệ thống điện mặt trời hòa lưới trực tiếp của PC Bà Rịa - Vũng Tàu đã mang lại hiệu quả thiết thực, tiết kiệm đáng kể tiền điện hàng tháng của Công ty.

      Cụ thể, từ tháng 7 đến cuối tháng 12/2016, hệ thống điện mặt trời đã phát ra tổng sản lượng 99.150 kWh; trong đó, cung cấp cho văn phòng Công ty là 45.198 kWh, chiếm 60% tổng sản lượng điện nhận của văn phòng PC Bà Rịa – Vũng Tàu trong 6 tháng; góp phần tiết kiệm được 128 triệu đồng tiền điện, tương đương khoảng 21 triệu đồng/tháng. Đồng thời, hệ thống điện mặt trời cũng đã phát lên lưới điện tổng sản lượng 53.952 kWh để cung cấp cho khách hàng.

      Không chỉ tiết kiệm tiền điện, hệ thống điện mặt trời nối lưới của PC Bà Rịa - Vũng Tàu còn góp phần giảm tải cho hệ thống điện, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia và phù hợp với xu thế phát triển năng lượng tái tạo của thế giới. 

      Tuy có nhiều ưu điểm, nhưng hệ thống điện mặt trời lại phụ thuộc nhiều vào thời tiết và không sử dụng được vào ban đêm. Bên cạnh đó, hệ thống này không tích trữ và cũng không điều tiết được sản lượng phát. “Ngoài ra, còn một hạn chế nữa là trong trường hợp mất điện lưới, hệ thống hòa lưới (Inverter) cũng buộc phải ngừng hoạt động, đảm bảo an toàn cho lưới điện”, ông Hải cho biết thêm.

      Dù vậy, hệ thống điện mặt trời của PC Bà Rịa – Vũng Tàu đã và đang phát huy hiệu quả, thực hiện tốt mục tiêu tạo môi trường làm việc hiện đại, thân thiện với nguồn năng lượng xanh, sạch, đẹp, tiết kiệm và hiệu quả. Đặc biệt, đây cũng là giải pháp cụ thể nhất, góp phần vào việc nâng cao nhận thức của cộng đồng xã hội về sử dụng năng lượng xanh, sạch, an toàn và tiết kiệm. 

    • Điện mặt trời quy mô hộ gia đình: Cơ chế nào để phát triển?

      Ông Huỳnh Kim Tước

      PV: Ông đánh giá thế nào về tiềm năng phát triển điện mặt trời quy mô hộ gia đình ở Việt Nam?

      Ông Huỳnh Kim Tước: Việt Nam nói chung, TP. HCM nói riêng có tiềm năng rất lớn phát triển điện mặt trời, nhất là theo quy mô hộ gia đình. Cường độ bức xạ trung bình ở TP. HCM khoảng 5 kWh/m2/ngày và số ngày nắng trung bình khoảng 300 ngày/năm. Thành phố có khoảng hơn 2 triệu hộ gia đình, nếu trung bình mỗi hộ lắp đặt hệ thống điện mặt trời công suất 3 kWp, thì tổng công suất điện mặt trời sẽ khoảng 6 GWp. 

      Đây là con số khá lớn, nhưng vẫn chỉ là tiềm năng lý thuyết, bởi việc ứng dụng điện mặt trời quy mô hộ gia đình vẫn còn khá hạn chế. Theo thống kê của Trung tâm TKNL TP. HCM, trên địa bàn Thành phố mới chỉ có khoảng 60 hộ gia đình lắp đặt điện mặt trời, với tổng công suất hơn 230 kWp.

      PV: Có tiềm năng lớn, nhưng việc đầu tư, ứng dụng điện mặt trời quy mô hộ gia đình hiện vẫn còn hạn chế. Vậy nguyên nhân vì đâu, thưa ông?

      Ông Huỳnh Kim Tước: Theo đánh giá của chúng tôi, có khá nhiều rào cản, thách thức cho sự phát triển điện mặt trời nói chung và quy mô hộ gia đình nói riêng ở Việt Nam. 

      Thứ nhất là rào cản về chính sách. Mặc dù Chính phủ cũng đã có những chủ trương, định hướng phát triển điện mặt trời; có cơ chế hỗ trợ giá, nhưng Việt Nam vẫn còn thiếu các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển nguồn năng lượng này; các chính sách về năng lượng tái tạo (NLTT) cũng chưa đầy đủ, chưa có Luật về NLTT…

      Thứ hai là rào cản về thể chế. Công tác quản lý nhà nước còn nhiều hạn chế và chưa mang lại hiệu quả thiết thực, do điện mặt trời là một lĩnh vực mới, đang phát triển ở nước ta.

      Thứ ba là rào cản về kỹ thuật - công nghệ. Việt Nam mới chỉ nội địa hóa được 1 phần công nghệ điện mặt trời. Ngoài ra, chúng ta cũng đang thiếu trầm trọng chương trình nghiên cứu và đào tạo chuyên ngành, thiếu các tiêu chuẩn, quy chuẩn về khai thác và sử dụng điện mặt trời. 

      Thứ tư là rào cản về kinh tế, tài chính. Suất đầu tư dự án điện mặt trời còn khá cao, trong khi giá điện lại rất thấp, nên chưa thu hút được người dân cũng như doanh nghiệp đầu tư lắp đặt hệ thống điện mặt trời trên các mái nhà, công xưởng...

      Thứ năm là rào cản về thông tin/ truyền thông. Các dự án/mô hình, chương trình thí điểm về lắp đặt điện mặt trời thành công chưa được tuyên truyền, quảng bá rộng rãi, xây dựng niềm tin cho hộ gia đình và cộng đồng.

      Cuối cùng là rào cản về sự tham gia tích cực của cộng đồng. Hộ gia đình là thành phần sử dụng năng lượng chính, nếu không có sự tham gia, chung tay thực hiện thì chính sách, mục tiêu phát triển điện mặt trời sẽ khó trở thành hiện thực.

      PV: Được biết, từ năm 2015, TP. HCM đã triển khai hỗ trợ 2.000 đồng/kWh cho các hộ gia đình, doanh nghiệp khi đầu tư hệ thống điện mặt trời. Chương trình này có mang lại hiệu quả không, thưa ông? 

      Ông Huỳnh Kim Tước: Trong 2 năm (2015 - 2016) triển khai Chương trình thí điểm xây dựng cơ chế hỗ trợ đầu tư điện mặt trời trên địa bàn TP. HCM, chúng tôi nhận thấy, đây là một cơ chế tích cực để thúc đẩy điện mặt trời phát triển, nâng tổng công suất lắp đặt điện mặt trời của Thành phố tính đến cuối năm 2016, đạt trên 1,5 MWp. 

      Chương trình cũng đã góp phần tích cực vào việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về những lợi ích thiết thực mà điện mặt trời mang lại. 

      Hiện nay, TP. HCM cũng đang triển khai một số chương trình đánh giá, quy hoạch tiềm năng, xây dựng thí điểm cơ chế hỗ trợ các đối tượng có nhu cầu sử dụng điện mặt trời trên địa bàn, hỗ trợ đầu tư như: Chương trình phát triển mái nhà Điện mặt trời trên địa bàn TP.HCM do WB tài trợ; Chương trình phát triển Điện mặt trời tại miền Nam Việt Nam, do Quỹ Thịnh vượng Vương quốc Anh tài trợ, Công ty Dragon Capital Group và Trung tâm Tiết kiệm Năng lượng TP. HCM phối hợp thực hiện…

      PV: Theo ông, có nên nhân rộng chính sách hỗ trợ phát triển điện mặt trời quy mô hộ gia đình ở thành phố HCM ra phạm vi toàn quốc?

      Ông Huỳnh Kim Tước: Việc nhân rộng ra phạm vi cả nước còn phụ thuộc vào điều kiện của từng địa phương. 

      Giải pháp tốt nhất là mỗi địa phương nên xây dựng các cơ chế hỗ trợ riêng, lồng ghép, phối hợp với các cơ chế, chính sách chung của Việt Nam, thúc đẩy thị trường điện mặt trời ở mỗi tỉnh, thành phố phát triển. Qua đó, góp phần vào mục tiêu phát triển điện mặt trời đến năm 2020 đạt công suất 1 GWp, năm 2030 đạt 24 GWp thực hiện đúng Chiến lược phát triển NLTT của Việt Nam.

      PV: Vậy, theo ông, Nhà nước cần có những giải pháp nào để phát triển điện mặt trời quy mô hộ gia đình?

      Ông Huỳnh Kim Tước: Theo tôi, bên cạnh cơ chế hỗ trợ, giá mua, bán, Nhà nước cần phải xây dựng chính sách ưu đãi, thúc đẩy hộ gia đình tích cực tham gia lắp đặt điện mặt trời quy mô gia đình.

      Đồng thời, Nhà nước cùng các cơ quan chức năng ở địa phương cần chú trọng đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về ứng dụng năng lượng tái tạo nói chung và điện mặt trời nói riêng, nâng cao nhận thức cộng đồng, giúp người dân hiểu được những lợi ích thiết thực của điện mặt trời…

      PV: Xin cảm ơn ông! 

    • Điện mặt trời: Đầu đã xuôi…

      Ông Đặng Đình Thống

      PV: Ông có thể cho biết rõ hơn về cơ chế phát triển điện mặt trời tại Việt Nam?

      Ông Đặng Đình Thống: Trước đây, Chính phủ đã phê duyệt chiến lược phát triển sạch, chiến lược bảo vệ môi trường và phát triển các nguồn năng lượng nói chung… Trong đó, đã có một số điều, mục đề cập đến năng lượng tái tạo (NLTT) nói chung và điện mặt trời nói riêng.

      Gần đây, Chính phủ cũng đã ban hành 2 văn bản quan trọng đối với phát triển NLTT, trong đó có điện mặt trời. Đó là, Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 - 2020, có xét đến năm 2030 (điều chỉnh) và Chiến lược phát triển NLTT của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. 

      Cả 2 văn bản này đều nêu rõ mục tiêu “ưu tiên phát triển nguồn điện NLTT, tạo đột phá trong đảm bảo an ninh năng lượng, góp phần bảo tồn tài nguyên năng lượng, giảm thiểu ô nhiễm môi trường”. 

      Điều đáng nói, ngày 11/4/2017, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam, trong đó quy định cụ thể về thuế, giá bán điện mặt trời. Như vậy, về cơ bản đã đủ các điều kiện để thúc đẩy phát triển nguồn năng lượng này.

      PV: Theo ông, với mức giá bán đó, liệu điện mặt trời có phát triển mạnh hơn điện gió?

      Ông Đặng Đình Thống: Mức giá điện mặt trời được ban hành như hiện nay là 9,35 cent/kWh, nếu so với thế giới chỉ được xếp vào loại trung bình. Tuy nhiên, đây cũng sẽ là động lực thúc đẩy phát triển điện mặt trời tại Việt Nam mạnh mẽ hơn thời gian tới, đặc biệt là khu vực phía Nam. 

      Điều đáng nói, điện mặt trời khác với điện gió. Trong thời gian qua, công nghệ và thiết bị điện gió gần như không có gì thay đổi lớn, nên giá điện gió giảm không đáng kể. Đối với điện mặt trời, khoảng 10 năm trước, suất đầu tư điện mặt trời khoảng 6.000 – 7.000 USD/kWp, nhưng hiện nay suất đầu tư trung bình chỉ còn khoảng trên dưới 1.000 USD/kWp, tức là giảm 6 – 7 lần.

      Sở dĩ suất đầu tư điện mặt trời giảm mạnh trong thời gian qua một phần là do công nghệ sản xuất điện mặt trời ngày càng hoàn thiện. Lý do thứ hai là, 5 - 10 năm gần đây, Trung Quốc và Đài Loan đã tham gia vào thị trường này và nhanh chóng trở thành những địa chỉ sản xuất pin mặt trời hàng đầu thế giới với giá cực rẻ, buộc các công ty ở Tây Âu và Mỹ muốn tồn tại cũng phải giảm giá bán sản phẩm của mình. Hiện nay, sản lượng pin mặt trời của Trung Quốc đã chiếm khoảng 50% thị trường pin mặt trời thế giới.

      PV: Có ý kiến cho rằng, điện mặt trời vẫn còn thiếu một quy hoạch phát triển quốc gia, quan điểm của ông về vấn đề này?

      Ông Đặng Đình Thống: Không chỉ riêng điện mặt trời, NLTT nói chung hiện nay chưa có quy hoạch phát triển quốc gia, mới chỉ dừng ở giai đoạn xây dựng chiến lược. Để xây dựng được quy hoạch phát triển điện mặt trời, cần phải nghiên cứu chi tiết, cụ thể về bức xạ mặt trời và các yếu tố liên quan khác. Hiện nay, số liệu về bức xạ mặt trời chủ yếu được thu thập từ các trạm khí tượng thủy văn, không phục vụ mục đích sản xuất năng lượng tái tạo mà chủ yếu là phục vụ dự báo thời tiết, nên chưa hoàn toàn phù hợp phát triển NLTT.

      PV: Tình hình cung cấp điện cho các tỉnh, thành phía Nam đã được dự báo tiếp tục căng thẳng trong các năm tiếp theo. Nếu điện mặt trời phát triển mạnh, liệu có đáp ứng được một phần nhu cầu điện cho khu vực này không, thưa ông?  

      Ông Đặng Đình Thống: Chắc chắn điện mặt trời có thể góp phần giải quyết vấn đề cung cấp điện ở khu vực phía Nam. Thời gian qua, các tỉnh/ thành phía Nam luôn phải nhận một sản lượng điện lớn do truyền tải từ miền Bắc và miền Trung qua đường dây 500 kV Bắc - Nam. Điều này có thể dẫn đến quá tải đường dây siêu cao áp và làm tăng tổn thất trên lưới điện truyền tải.

      Hầu hết các dự án điện mặt trời đã và đang chuẩn bị đầu tư tập trung chủ yếu ở khu vực phía Nam và Tây Nguyên. Đây cũng là khu vực có số giờ nắng cao và cường độ bức xạ mặt trời lớn nhất cả nước. Vì vậy, nếu Chính phủ ban hành kịp thời chính sách ưu đãi phát triển điện mặt trời thì các tỉnh/thành phía Nam sẽ có điều kiện được bổ sung nguồn điện sạch, từng bước đáp ứng nhu cầu nội miền, góp phần giảm áp lực cung cấp điện của EVN.

      EVN cũng đã có kế hoạch phát triển điện mặt trời với các mục tiêu rất rõ ràng. Điều quan trọng là EVN phải triển khai một cách quyết liệt, sớm hiện thực hóa mục tiêu đã đề ra, kịp thời bổ sung công suất nguồn điện này trong hệ thống điện quốc gia.

      PV: Như vậy liệu đã đủ các điều kiện phát triển điện mặt trời tại Việt Nam, thưa ông?

      Ông Đặng Đình Thống: Chiến lược phát triển NLTT, trong đó có điện mặt trời đã được ban hành, các chính sách về thuế, giá cũng có nhiều ưu đãi… đó là các yếu tố quan trọng nhất cho phát triển điện mặt trời tại Việt Nam. 

      Tuy nhiên, để phát triển điện mặt trời nói riêng, NLTT nói chung thành công, rất cần sự minh bạch, nhất quán trong quá trình triển khai thực hiện chính sách. Ngoài ra, thủ tục hành chính đối với các dự án vẫn còn rườm rà. Điều này đã gây khó khăn cho doanh nghiệp và các nhà đầu tư, đặc biệt đối với các nhà đầu tư nước ngoài.  

      Nếu các điều kiện cần và đủ trên được giải quyết thì đến năm 2020, Việt Nam có thể sẽ vượt công suất 850 MW mà Quy hoạch điện VII đã đề ra.  

      PV: Xin cảm ơn ông! 

    • Nhà máy điện gió đầu tiên ở Bắc miền Trung hoạt động

      Phó Trưởng ban Quản lý dự án điện gió Hướng Linh 2 - ông Nguyễn Đăng Đức cho hay, đây là dự án điện gió đầu tiên tại tỉnh Quảng Trị và khu vực Bắc miền Trung. Vốn đầu tư hơn 1.400 tỷ đồng. Chủ đầu tư là Công ty Tân Hoàn Cầu. 

      Cùng với dự án này, cũng tại xã Hướng Linh, dự án điện gió Hướng Linh 1, công suất 30 MW với vốn đầu tư 1.700 tỷ đồng do Công ty Tân Hoàn Cầu đầu tư đang được triển khai, dự kiến đi vào hoạt động vào quý 4 năm nay. 

    • Khánh Hòa: Khởi động các dự án điện mặt trời

      3 dự án được cấp phép

      UBND tỉnh Khánh Hòa vừa thống nhất chủ trương cho phép Tổng công ty Điện lực miền Trung đầu tư Dự án Nhà máy điện mặt trời miền Trung tại thôn Thủy Ba và thôn Tân An, xã Cam An Bắc (huyện Cam Lâm) với diện tích khoảng 70ha, công suất 50MW.

      Theo đó, Tổng công ty Điện lực miền Trung được UBND tỉnh giao nghiên cứu, đề xuất thực hiện dự án. UBND tỉnh cũng lưu ý nhà đầu tư về kiến nghị của các sở, ngành, địa phương về công nghệ, thiết bị, bảo vệ môi trường... trong quá trình triển khai để dự án đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất.

      Chuyên gia Văn phòng Ngân hàng Phát triển châu Á tại Việt Nam đi khảo sát địa điểm  xây dựng Nhà máy điện mặt trời miền Trung tại huyện Cam Lâm

      Dự kiến, chủ đầu tư sẽ thi công lắp đặt hệ thống tấm quang điện, hệ khung giá đỡ, hệ thống bộ chuyển đổi (inverter) và đường nội bộ giữa các dãy pin. Bên cạnh đó, sẽ xây dựng hệ thống máy biến áp, trạm biến áp và các nhánh rẽ đầu nối… Tổng vốn đầu tư dự án khoảng 1.904 tỷ đồng.

      Theo lãnh đạo Ban Quản lý dự án điện nông thôn miền Trung, đơn vị đang khẩn trương hoàn thiện hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận đầu tư để trình UBND tỉnh phê duyệt, đồng thời hoàn thiện báo cáo phương án đầu tư để trình cấp thẩm quyền xem xét làm cơ sở triển khai các bước tiếp theo. Dự kiến, dự án sẽ được khởi công vào cuối năm 2017 và hoàn thành vào cuối năm 2018.

      Công ty Cổ phần Khai thác thủy điện Sông Giang cũng mới được UBND tỉnh cấp quyết định chủ trương đầu tư Dự án Nhà máy quang điện mặt trời tại xã Cam Thịnh Đông, TP. Cam Ranh. Dự án có diện tích sử dụng đất 70ha, công suất thiết kế 60MW với tổng vốn đầu tư hơn 2.000 tỷ đồng. Hiện nay, chủ đầu tư đang chuẩn bị thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, lập hồ sơ môi trường, thiết kế và lập hồ sơ thỏa thuận phương án quy hoạch kiến trúc…

      Trước đó, đầu năm 2016, UBND tỉnh cũng đã cấp quyết định chủ trương đầu tư Dự án Nhà máy điện mặt trời hòa lưới cho Công ty Cổ phần Điện mặt trời Tuấn Ân. Dự án được triển khai tại xã Cam Thịnh Tây, TP. Cam Ranh, có diện tích sử dụng đất hơn 10ha, công suất thiết kế 10 MW với tổng vốn đầu tư hơn 400 tỷ đồng. Mục tiêu của dự án là xây dựng và vận hành nhà máy điện công suất pin mặt trời 10MW hòa vào lưới điện áp 22KV với sản lượng điện thương phẩm hàng năm khoảng 14,5 triệu KWh.

      Ông Trần Minh Hải - Phó Giám đốc Sở Kế hoạch - Đầu tư Khánh Hòa cho biết, thời điểm đầu năm 2016, có rất nhiều nhà đầu tư xin được triển khai dự án điện mặt trời tại các xã vùng núi của TP. Cam Ranh và huyện Cam Lâm. Tuy nhiên, chủ trương của tỉnh là thẩm định kỹ năng lực của từng chủ đầu tư, chỉ cho phép triển khai dự án trên diện tích đất bỏ hoang, không thể sản xuất nông nghiệp.

      Khởi động cho những kỳ vọng mới

      Theo lãnh đạo Công ty Cổ phần Điện lực Khánh Hòa, TP. Cam Ranh có độ bức xạ năng lượng mặt trời trung bình đo được là 5,34 kWh/m2/ngày. Ở 2 xã Cam Thịnh Đông và Cam Thịnh Tây, độ bức xạ còn cao hơn nhiều. Huyện Cam Lâm tuy độ bức xạ thấp hơn nhưng cũng ở mức cao. Đây là điều kiện rất thuận lợi để triển khai thực hiện các dự án năng lượng mặt trời. Không những thế, ở khu vực này, khả năng đấu nối vào hệ thống điện lưới quốc gia cũng rất tiện lợi. Thời gian qua, Sở Công Thương đã phối hợp với các cơ quan chuyên môn của TP. Cam Ranh, huyện Cam Lâm tiến hành khảo sát thực địa, kiểm tra hiện trường, xác định vị trí và thống nhất phạm vi ranh giới khu đất dự kiến bố trí để thực hiện các dự án năng lượng mặt trời.

      Ông Lê Minh Hải - Trưởng phòng Kinh tế TP. Cam Ranh cho biết, Công ty Cổ phần Điện mặt trời Tuấn Ân đã tích cực thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng. Tuy nhiên, hiện nay, vẫn còn một số hộ đồng bào dân tộc thiểu số không chịu giao đất, dù đất khu vực này đã bỏ hoang nhiều năm. Hiện nay, UBND TP. Cam Ranh đang xin UBND tỉnh chủ trương cưỡng chế để đẩy nhanh tiến độ dự án. Trong khi đó, Công ty Cổ phần Khai thác thủy điện Sông Giang cũng đang tích cực hoàn thiện các thủ tục liên quan.

      Mới đây, Ban Quản lý dự án điện nông thôn miền Trung cùng đoàn công tác của Văn phòng Ngân hàng Phát triển châu Á tại Việt Nam đã đi khảo sát tại địa điểm xây dựng Nhà máy điện mặt trời miền Trung do Tổng Công ty Điện lực miền Trung làm chủ đầu tư. Lãnh đạo Ban Quản lý dự án điện nông thôn miền Trung cho biết, Tổng Công ty Điện lực miền Trung đã làm việc với các đơn vị liên quan của tỉnh để triển khai các bước tiếp theo của dự án gồm: họp với UBND huyện Cam Lâm để thông báo kế hoạch thực hiện dự án, công tác phối hợp thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng, thu hồi đất; làm việc với Sở Kế hoạch - Đầu tư để tiến hành thủ tục ký quỹ; làm việc với Sở Tài nguyên - Môi trường để được hướng dẫn về thủ tục đất đai; làm việc với Sở Xây dựng để được hướng dẫn về thủ tục trình quy hoạch xây dựng.

      Lãnh đạo Tổng công ty Điện lực miền Trung cho biết, ngày 7/4, Tổng cục Năng lượng đã họp thẩm định hồ sơ bổ sung quy hoạch cho dự án này vào quy hoạch phát triển điện lực tỉnh Khánh Hòa. Hiện nay, đơn vị đã lập và thẩm định hồ sơ mời thầu tư vấn lập báo cáo nghiên cứu khả thi cho dự án; hoàn thành lập hồ sơ báo cáo nghiên cứu tiền khả thi để trình phê duyệt chủ trương đầu tư và dự kiến trình Bộ Công Thương phê duyệt chủ trương đầu tư trong tháng 5.

      Việc triển khai các dự án điện mặt trời đã mở ra những kỳ vọng mới về nguồn năng lượng sạch tại khu vực phía nam của tỉnh. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng, điện mặt trời có nhiều ưu việt vì đây là năng lượng tái tạo nhưng chi phí đầu tư, bảo trì cao nên khả năng giá bán điện sẽ cao. Vì vậy, khi phê duyệt các dự án điện mặt trời cần xem xét về công nghệ, khả năng lưu điện vào ban đêm, tuổi thọ pin… để tránh ô nhiễm môi trường.

    • Điện mặt trời: Liệu cơ chế, chính sách có khơi dậy được tiềm năng?

      Ông Trần Viết Ngãi

      Ông Trần Viết Ngãi - Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam: 

      Cần sớm ban hành quy hoạch quốc gia

      Việt Nam được đánh giá là có tiềm năng lớn về năng lượng mặt trời. Tuy nhiên, để phát huy được tiềm năng đó, cần sớm nghiên cứu xây dựng Quy hoạch phát triển năng lượng tái tạo nói chung và điện mặt trời nói riêng. Từ quy hoạch tổng thể, các nhà đầu tư mới có định hướng đầu tư cụ thể.

      Hiện nay đã có một số dự án điện mặt trời công suất nhỏ đang được triển khai ở giai đoạn tiền khả thi. Chính vì vậy, để thu hút đầu tư, Bộ Công Thương cần sớm xây dựng và ban hành Quy hoạch điện mặt trời Việt Nam. 

      Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, dù phát triển ở mức độ nào thì điện mặt trời cũng không thể là nguồn năng lượng chủ đạo trong hệ thống điện quốc gia mà chỉ hỗ trợ phủ đỉnh công suất vào giờ cao điểm.

      Bà Ngụy Thị Khanh

      Bà Ngụy Thị Khanh - Giám đốc Trung tâm Phát triển Sáng tạo Xanh (GreenID):

      Cần có chính sách đột phá cho thị trường điện mặt trời

      Trong một thời gian dài, quy hoạch năng lượng nói chung và năng lượng điện nói riêng chưa coi trọng nguồn năng lượng tái tạo trong cơ cấu nguồn điện, vì suất đầu tư cho 1 kW công suất điện mặt trời quá cao. Dự báo xu thế công nghệ NLMT cũng chưa được xem xét thỏa đáng, nên chưa cập nhật kịp thời và chưa theo kịp được xu thế suất đầu tư giảm rất nhanh trên thế giới trong những năm trở lại đây. 

      Ngoài ra, việc thiếu cơ chế đấu nối, bù trừ, mua điện trực tiếp từ năng lượng tái tạo nói chung và NLMT nói riêng cũng là rào cản dẫn đến khó thu hút được các nhà đầu tư cũng như huy động sự tham gia của các hộ gia đình, các doanh nghiệp và toàn xã hội. 

      Hơn bao giờ hết, Việt Nam đang thực sự cần những chính sách đột phá trong phát triển thị trường điện mặt trời. Nhà nước cần ban hành cơ chế đấu nối (Grid code), huy động “xã hội hóa” đầu tư điện mặt trời nối lưới quy mô nhỏ từ các hộ gia đình, xí nghiệp, công xưởng quy mô nhỏ. Nông dân thay vì chỉ có thu nhập từ cây trồng, vật nuôi, cũng có thể tham gia vào đầu tư hệ thống điện mặt trời, từ đó có thêm thu nhập… 

      Để đạt được mục tiêu trong Quy hoạch điện VII điều chỉnh về điện mặt trời, Nhà nước cần ban hành chính sách và hướng dẫn chi tiết thủ tục mua bán điện mặt trời. Đặc biệt, việc cần làm ngay là ưu tiên hỗ trợ thực hiện các giải pháp phát triển điện mặt trời độc lập hoặc lai ghép với các nguồn năng lượng khác ở những khu vực chưa có điện lưới. Điều này có thể thu được nhiều lợi ích: Tăng số hộ gia đình được tiếp cận với nguồn năng lượng sạch; tăng cường năng lực chuyên môn, kỹ thuật cho nhân sự trong nước về lĩnh vực điện mặt trời; thiết lập các chuỗi giá trị nội địa cho ngành công nghiệp mới này…

      Ông Nguyễn Thanh Đạt - Giám đốc Ban Quản lý dự án các công trình điện miền Trung (CPCCREB): 

      Doanh nghiệp cần tính đúng, tính đủ chi phí sản xuất điện mặt trời

      Bước sang năm 2017, thị trường điện mặt trời tại Việt Nam đã có nhiều khởi sắc và bắt đầu hấp dẫn các nhà đầu tư. Tính riêng tại khu vực miền Trung và miền Nam, tổng công suất nguồn điện mặt trời được đăng ký đã lên tới vài chục nghìn MW. 

      Hiện nay, CPCCREB cũng đang chuẩn bị các thủ tục triển khai Dự án Nhà máy điện mặt trời Điện lực miền Trung, công suất 50 MW, diện tích khoảng 70 ha tại huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa. Dự kiến, sau khi được phê duyệt, Dự án sẽ được triển khai trong vòng 15 tháng, thời gian hoạt động 50 năm.

      Hiện nay, Chính phủ đã ban hành cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển điện mặt trời, đặc biệt là cơ chế hỗ trợ giá điện mặt trời với mức giá ưu đãi 2.086 đồng/ kWh (QĐ số 11/4/2017/ QĐ-TTg ngày 11/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ).

      Như vậy, về cơ bản điện mặt trời tại Việt Nam đã đủ các cơ chế, chính sách để phát triển. Vấn đề còn lại là ở các doanh nghiệp, nhà đầu tư. Họ cần phải tính đúng, tính đủ chi phí để đầu tư các dự án điện mặt trời, không chỉ bổ sung thêm nguồn điện sạch cho đất nước mà còn mang lại lợi nhuận cho chính các doanh nghiệp và nhà đầu tư. 

      Bên cạnh đó, các địa phương cũng cần ủng hộ và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư trong việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đặc biệt là bồi thường giải phóng mặt bằng, ưu tiên đất thực hiện dự án. 

    • Tỉnh Ninh Thuận và Thiên Tân Group đẩy nhanh tiến độ “siêu” dự án điện mặt trời

      Phó chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận, ông Phạm Văn Hậu và đại diện các Sở, ban ngành vừa có buổi làm việc với Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Thiên Tân (Quảng Ngãi) về tình hình triển khai thực hiện dự án Thiên Tân Solar Ninh Thuận và thống nhất đẩy nhanh tiến độ thời gian tới. 

      Theo Thiên Tân Group, hiện nay, Công ty đã hoàn thành một số công tác thực hiện đầu tư dự án như: đảm bảo năng lực tài chính; khảo sát, lập bản đồ địa hình; lập hồ sơ đánh giá tác động môi trường của dự án... Qua đó, mong muốn lãnh đạo tỉnh Ninh Thuận tạo mọi điều kiện, hỗ trợ sớm ban hành giá đất đền bù để đảm bảo đúng theo tiến độ dự kiến khởi công xây dựng dự án trong năm 2017. 

      “Thiên Tân Solar khi đi vào hoạt động sẽ là một dự án trọng điểm trong quy hoạch điện quốc gia của Chính phủ. Dự án cũng là cú hích quan trọng cho nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước mạnh dạn hơn trong việc đầu tư vào ngành công nghiệp năng lượng tái tạo”- đại diện Thiên Tân Group khẳng định. 

      Đồng quan điểm trên, Phó chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận Phạm Văn Hậu nhấn mạnh: Điện mặt trời Ninh Thuận là dự án có chủ trương, địa điểm đầu tiên nên quan điểm của tỉnh là luôn khuyến khích, tạo mọi điều kiện thuận lợi, hỗ trợ cho chủ đầu tư.

      Vì vậy Tỉnh ủy, UBND tỉnh rất kỳ vọng đây sẽ là dự án điện mặt trời đầu tiên được triển khai thực hiện mang lại hiệu quả kinh tế cho Ninh Thuận. Ông Phạm Văn Hậu cũng cho rằng dự án hoàn thành sẽ thể hiện được năng lực, quyết tâm của Thiên Tân Group trong việc phát triển tiềm năng kinh tế của tỉnh

       

      Phó chủ tịch tỉnh Ninh Thuận Phan Văn Hậu nghe trình bày về “siêu” dự án điện mặt trời Thiên Tân Solar

      Phó Chủ tịch UBND tỉnh đề nghị trong thời gian đến các Sở, ban ngành phải tạo mọi điều kiện cho chủ đầu tư và nhanh chóng giải quyết dứt điểm những vướng mắc còn tồn đọng đồng thời cần phối hợp với Thiên Tân Group để dự án sớm được triển khai thực hiện.

      Thiên Tân Solar nằm tại xã Phước Trung, huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận có tổng mức đầu tư hơn 2 tỷ USD, diện tích đất dự kiến là 1.400 ha được đầu tư làm nhiều giai đoạn, với 5 nhà máy, trong đó, nhà máy đầu tiên có công suất 50 MW sẽ được khởi công trong 2017 và được đưa vào vận hành năm 2018. Tới năm 2020, Thiên Tân sẽ hoàn tất việc xây dựng cả 5 nhà máy, trong đó, nhà máy 4 và 5 đều có công suất 300 MW. Thiên Tân đã ký hợp đồng để mua các tấm pin năng lượng mặt trời của Tập đoàn First Solar, với trị giá hàng trăm triệu USD.

      Liên quan đến cơ chế cho các dự án đầu tư khai thác năng lượng sạch, mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định ban hành giá điện mặt trời. “Đây sẽ là “đòn bẩy” thúc đẩy Thiên Tân Group cùng UBND tỉnh Ninh Thuận khởi động “siêu” dự án này” - ông Huỳnh Kim Lập, Chủ tịch Thiên Tân Group nhận định.

    • Thanh Hóa đầu tư nhà máy điện mặt trời hơn 800 tỷ đồng

      Theo đó, ông Nguyễn Đình Xứng, Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa đã ký quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư dự án nhà máy điện mặt trời do liên danh Công ty cổ phần Năng lượng Sông Lam Sơn La và Công ty TNHH Đầu tư và Xây dựng Sông Lam, bằng hình thức đầu tư trong nước.

      Dự án sẽ được xây dựng tại xã Yên Thái, huyện Yên Định (Thanh Hóa) trên diện tích đất gần 650 nghìn m2. Nhà máy được thiết kế với công suất 30 MW, bao gồm: Hệ thống tấm pin năng lượng mặt trời 90.640 tấm; nhà điều khiển trung tâm và thiết bị biến đổi điện; nhà làm việc; hệ thống 30 máy biến áp; hành lang vận hành và kiểm tra các module pin mặt trời; lắp đặt các thiết bị kết nối các module; hệ thống cáp điện...

      Mục tiêu của dự án nhằm cung cấp điện cho tỉnh Thanh Hóa cũng như cả nước, mang lại hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp, góp phần phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, giảm phát thải khí nhà kính để bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu, hướng tới phát triển bền vững, phát triển kinh tế của địa phương và tăng thu ngân sách nhà nước.

      Đối với quy hoạch và môi trường, tỉnh Thanh Hóa yêu cầu thực hiện các biện pháp để giảm thiểu tác động đến môi trường trong quá trình thi công dự án và chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật; tuân thủ các chỉ tiêu quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

      Tổng vốn đầu tư của dự án này là hơn 809 tỷ đồng. Trong đó, vốn chủ sở hữu gần 243 tỷ đồng (30%), vốn vay ngân hàng thương mại là hơn 566,5 tỷ đồng (70%). Thời gian hoạt động của dự án là 50 năm, dự kiến khởi công vào quý IV năm 2017 và đưa vào hoạt động quý IV năm 2019.

      Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu chủ đầu tư hoàn thành hồ sơ, thủ tục xin chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa; hồ sơ, thủ tục về đầu tư, xây dựng, bảo vệ môi trường, sử dụng đất và thực hiện việc ký quỹ bảo đảm thực hiện dự án theo quy định.

      Đồng thời chủ động phối hợp với Sở Công Thương và các ngành, đơn vị liên quan để hoàn thành hồ sơ, thủ tục báo cáo Bộ Công Thương xem xét, bổ sung dự án vào quy hoạch phát triển năng lượng; giao UBND huyện Yên Định cập nhật dự án vào điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất huyện Yên Định đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất năm 2018, trình duyệt theo quy định.

      Các Sở Kế hoạch và Đầu tư, Tài nguyên và Môi trường, Xây dựng, Công Thương và các đơn vị liên quan theo chức năng nhiệm vụ được giao, có trách nhiệm hướng dẫn, giải quyết kịp thời những công việc có liên quan đến dự án.

    • Chính sách phát triển điện mặt trời tại một số quốc gia

      Chậm phát triển vì chính sách quốc gia 

      Theo Imke Lubbeke, một quan chức của Văn phòng Quỹ Quốc tế Bảo vệ thiên nhiên (WWF) tại châu Âu, việc chuyển sang sử dụng năng lượng tái tạo (NLTT) nói chung và điện mặt trời nói riêng ở châu Âu hiện chưa đạt kết quả như mong muốn. Kết quả phân tích của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) còn cho thấy, đến năm 2021, tốc độ sử dụng điện mặt trời tại EU sẽ chỉ tăng 23%, thấp hơn nhiều so với mức tăng 62%  trong 6 năm qua. 

      CHLB Đức vẫn là quốc gia đứng đầu châu Âu về sản xuất và sử dụng điện mặt trời, nhờ sự ủng hộ lâu dài của Chính phủ. Trong khi đó, một số nước khác ở châu Âu đã bị IEA chỉ trích là thiếu chính sách nhất quán tầm quốc gia về phát triển và sử dụng năng lượng bền vững. 

      Australia cũng là đất nước có ánh nắng mặt trời hầu như quanh năm, nhưng điện mặt trời vẫn chưa phát triển. Kể từ năm 2013, khi Tony Abbott được bầu làm Thủ tướng, ông đã tiến hành giảm bớt các mục tiêu phát triển năng lượng mặt trời, cấm tài trợ cho năng lượng xanh, giải tán Uỷ ban Khí hậu và làm chậm tốc độ phát triển KHCN điện mặt trời. Năm 2015, tốc độ tăng trưởng năng lượng tái tạo ở quốc gia này chỉ đạt 1,1%. 

      Còn ở Tây Ban Nha, chính phủ nước này đã thông qua đạo luật liên bang, đánh thuế sử dụng pin mặt trời. Theo Chính phủ nước này, họ đang tạo ra quá nhiều điện mặt trời, vượt hơn 60% so với nhu cầu. Sự mất cân đối ấy đã làm cho Chính phủ trở thành “con nợ” lớn của các nhà sản xuất điện. Để giải quyết, Tây Ban Nha cố gắng thu hẹp quy mô sử dụng pin mặt trời – điều mà Chính phủ từng khuyến khích và hỗ trợ suốt 10 năm qua. Nhưng biện pháp đánh thuế không nhận được ủng hộ của người dân, thậm chí, Teresa Ribera, cố vấn cấp cao của Viện Phát triển bền vững và Quan hệ quốc tế (IDDRI) còn tỏ ra lo ngại, luật “thiếu logic” này có thể “nghiêm túc kêu gọi người dân chống lại Chính phủ”.

      Rõ ràng, Lãnh đạo các nước cần xây dựng chính sách hợp lý về phát triển và sử dụng NLTT, trong đó có điện mặt trời: Riêng các quốc gia châu Âu cần một thị trường năng lượng năng động, cạnh tranh, dễ kết nối hơn và phù hợp với công nghệ NLTT, nếu không, nguy cơ sẽ bị tụt hậu trong lĩnh vực năng lượng sạch. 

      Nhà máy điện mặt trời nổi trên mặt nước đầu tiên trên thế giới tại tỉnh Hyogo, Nhật Bản

      “Cất cánh” nhờ hỗ trợ mạnh mẽ

      Theo Cục Quản lý Năng lượng quốc gia Trung Quốc (NEA), năm 2016, nguồn điện mặt trời của nước này đã đạt 77,42 GW, tăng gần gấp đôi năm 2015, đưa Trung Quốc trở thành nước đứng đầu thế giới về nguồn năng lượng này. Tuy nhiên, điện mặt trời chỉ chiếm tỷ trọng khiêm tốn 1% trong tổng công suất điện năng của Trung Quốc. NEA dự định tăng thêm khoảng 110 GW trước năm 2020. Trong đó, vai trò của khoa học - công nghệ mang tính quyết định. Đây là kết quả của sự hỗ trợ mạnh mẽ từ phía Chính phủ khi cung cấp những khoản vay giá rẻ cho các công ty lớn sản xuất điện mặt trời, đồng thời là giải pháp để Trung Quốc giải quyết vấn đề chất lượng không khí.

      Cùng với Trung Quốc, Nhật Bản đang nâng cao năng lực phát triển ngành công nghiệp điện mặt trời một cách sáng tạo. Năm 2013, Nhật Bản bắt đầu khai thác nguồn năng lượng này với nhà máy điện mặt trời khổng lồ được xây dựng trên biển, sản xuất đủ điện cho khoảng 22.000 hộ gia đình. Tới nay, Nhật Bản đã xây dựng thêm hai nhà máy điện mặt trời nổi và có kế hoạch xây dựng thêm một nhà máy nữa. Chính phủ Nhật Bản đã ủng hộ các nghiên cứu khoa học mới trong lĩnh vực điện mặt trời, hỗ trợ tích cực cho ngành năng lượng này phát triển.

      Hàn Quốc cũng có chế độ ưu đãi mới cho các nhà sản xuất và tiêu dùng năng lượng tái tạo. Bộ trưởng Năng lượng nước này cho biết, Seoul sẽ thực hiện một hệ thống đấu giá thị trường cạnh tranh đối với các nhà sản xuất điện mặt trời vào năm 2017. Nhà phân phối có thể mua điện từ các nhà sản xuất năng lượng tái tạo thông qua đấu thầu và thỏa thuận giá cố định kéo dài 20 năm, giúp các nhà sản xuất năng lượng xanh có lợi nhuận ổn định. Ngoài hệ thống đấu thầu cạnh tranh, Hàn Quốc sẽ mở rộng trợ cấp để hỗ trợ tới 50% chi phí lắp đặt các hệ thống pin năng lượng mặt trời tại các hộ gia đình và trường học. 

      Sự hỗ trợ mạnh mẽ của Chính phủ với những chính sách đồng bộ đã tạo điều kiện cho các nước này phát triển điện mặt trời, giúp cân bằng nguồn năng lượng quốc gia và đảm bảo môi trường sống của người dân. 

    • Cần phải cởi nút thắt cho phát triển năng lượng tái tạo

      Ông Andres Isaza

      PV: Thưa ông, theo Biên bản ghi nhớ được ký cách đây 1 năm, GE sẽ hợp tác với Chính phủ Việt Nam để phát triển tối thiểu 1.000 MW điện gió tới năm 2025. Việc thực thi thế nào và thách thức lớn nhất khi thực hiện mục tiêu này là gì, thưa ông?

      Ông Andres Isaza: Theo Biên bản ghi nhớ, Chính phủ Việt Nam cần ban hành một hợp đồng mua bán điện (PPA), trong đó nói rõ giá điện hỗ trợ (feed-in-tariff, gọi tắt là FIT). Một khi giá điện này rõ ràng thì các ngân hàng, nhà đầu tư, các tổ chức sẽ có cơ sở để đầu tư. Chúng tôi đang làm việc với Chính Phủ Việt Nam về việc ban hành PPA với một mức FIT rõ ràng được ban hành. Khi đó, việc thực hiện mục tiêu trên sẽ không còn là thách thức lớn nữa.

      PV: Trong PPA đó, nội dung nào là quan trọng nhất?

      Ông Andres Isaza: Nhà đầu tư sẽ quan tâm đến giá mua điện trong PPA. Tuy nhiên, điều này không quan trọng bằng khoảng thời gian mà nhà nước đảm bảo sẽ mua bằng giá đó. Với nội dung này, các tổ chức, nhà đầu tư sẽ tính toán được rõ ràng lời lãi như thế nào khi quyết định đầu tư. Hiện GE đang tham gia cùng với các cơ quan có liên quan của Chính phủ Việt Nam định hình hợp đồng này. Chúng tôi tin là kế hoạch 1.000 MW tới năm 2025 sẽ nằm trong tầm tay.

      PV: Một vấn đề khác nữa của điện tái tạo là khả năng thích ứng với hệ thống lưới điện. Hiện nay, hệ thống lưới điện của Việt Nam có thể thích ứng được với năng lượng tái tạo không, thưa ông?

      Ông Andres Isaza: Đúng là kết nối lưới điện là điều quan trọng nhất. Có không ít quốc gia trên thế giới đã mắc sai lầm là xây dựng nhiều trang trại điện gió rồi nhận ra rằng, họ không có hạ tầng lưới điện có thể thích ứng với điện gió.

      Những ngày vừa rồi, chúng tôi đã trao đổi với Đại diện Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) về tầm quan trọng của việc cải thiện hệ thống lưới điện. Hệ thống có thích ứng được, việc xây dựng trang trại điện gió mới có ý nghĩa. Vấn đề ở đây là nâng cấp hệ thống lưới điện thì cần nhiều thời gian, còn năng lượng tái tạo, như điện mặt trời và gió, thì cần một thời gian trước khi phát triển rộng, nhưng một khi đã bắt đầu thì công suất tăng rất nhanh.

      Do đó, chúng tôi lo ngại rằng, sẽ có một khoảng cách giữa tốc độ phát triển điện gió và điện mặt trời và tốc độ mà hệ thống có thể thích ứng. Chúng tôi khuyến khích EVN tập trung hơn vào lưới điện, để khi nào có PPA thì lưới điện sẵn sàng để đón điện gió. Tôi muốn nhấn mạnh rằng, lưới điện tốt là trụ cột để phát triển năng lượng tái tạo bền vững ở Việt Nam.

      PV: GE đã đề xuất gì với Việt Nam trong quá trình phát triển lưới điện, để tạo điều kiện cho kế hoạch phát triển điện gió của Việt Nam được thực hiện dễ dàng hơn?

      Ông Andres Isaza: Trong vai trò nhà tư vấn, chúng tôi cố gắng đảm bảo hai yếu tố cả về cơ chế giá điện và phát triển lưới điện đi song song với nhau. Và chúng tôi cũng cố gắng hỗ trợ tìm kiếm nguồn tài trợ cho cả kết nối ngắn và kết nối cả nước. Đối với kết nối ngắn từ trang trại điện gió đi vài ki-lô-mét, khoản đầu tư sẽ nằm luôn trong gói đầu tư vào trang trại điện gió.

      Còn đối với lưới điện cả nước, ví dụ như đường dây Bắc - Nam, thì việc đầu tư sẽ là do EVN, chúng tôi cũng giúp EVN tìm nguồn tài trợ cho khoản đầu tư này.

      PV: Có vẻ như năng lượng tái tạo đòi hỏi đầu tư lớn không chỉ vào mỗi nhà máy phát điện mà cả hệ thống lưới điện. Một số nhà đầu tư còn nói mức FIT hiện tại (7,8 US cent/kWh) là quá thấp. Vậy, sản xuất điện tái tạo có cạnh tranh không, thưa ông?

      Ông Andres Isaza: Trong 10 năm qua, giá của năng lượng tái tạo đã giảm mỗi năm trung bình 6%. Cho nên, chắc chắn là năng lượng tái tạo vừa cạnh tranh, vừa bền vững.

      Nhưng câu hỏi này có ở nhiều nước, nhiều khu vực trong giai đoạn đầu phát triển năng lượng tái tạo. Ở nhiều nước ở châu Âu, châu Mỹ La - tinh, Trung Đông và Đông Nam Á, nhà nước đã thực hiện hỗ trợ năng lượng tái tạo bằng cách trợ giá. Việc này chấm dứt khi năng lượng tái tạo đạt đến một quy mô nhất định, có thể sống mà không nhờ trợ giá. Đó là điều chúng tôi đã thấy tại rất nhiều nước trong 10 năm qua và hiện nay, ngày càng có nhiều các dự án lớn bắt đầu phát điện.

      Bàn về FIT, thì tùy vào điều kiện tự nhiên tại mỗi nước và mỗi vùng, bởi vì một mức FIT hợp lý ở nước này có thể không hợp lý ở nước khác.

      PV: Bên cạnh FIT, thì tài chính cũng là một vấn đề với các nhà đầu tư. Chính quyền của Tổng thống Donald Trump đã thay đổi chính sách của nước Mỹ với biến đổi khí hậu. GE là một công ty của Mỹ, vậy việc này có gây ra thách thức về tài chính cho các dự án năng lượng xanh mà GE tham gia trên toàn thế giới, bao gồm cả Việt Nam không?

      Ông Andres Isaza: Ở Mỹ, năng lượng tái tạo đã đạt được nhiều thành công. Thậm chí, ở Mỹ cũng như ở nhiều nước khác, ngành năng lượng tái tạo không cần thêm trợ giá, hay cần được đối xử đặc biệt.

      Về tài chính, chúng tôi không lệ thuộc vào các tổ chức Mỹ. Chúng tôi vay vốn của các tổ chức trên toàn thế giới để hỗ trợ tài chính cho Việt Nam, nên cũng không liên quan lắm đến nước Mỹ. Chính sách của Mỹ như thế nào cũng không ảnh hưởng đến việc chúng tôi có thể làm gì ở Việt Nam.

    • Hỗ trợ mở rộng quy mô điện gió tại Việt Nam

      Việt Nam được đánh giá là quốc gia có nhiều tiềm năng để phát triển điện gió - Ảnh: Minh Ngọc

      Dự án được thực hiện trong giai đoạn 2014-2018 với tổng kinh phí 6,9 triệu EUR, do Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển Cộng hòa Liên bang Đức (BMZ) tài trợ trong khuôn khổ Sáng kiến Công nghệ Khí hậu của Đức (DKTI). 

      Theo Tổng cục trưởng Tổng cục Năng lượng (Bộ Công Thương) - ông Đặng Huy Cường, ngành Điện lực Việt Nam đã và đang phải đối mặt với những thách thức lớn như thiếu nguồn năng lượng sơ cấp cho phát điện, dẫn tới phải nhập khẩu than; bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia; thực hiện các cam kết về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ môi trường. Mới đây nhất là mục tiêu về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong năng lượng của Việt Nam tại Hội nghị 21 Công ước khung của Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu tháng 12/2015. 

      Vì vậy, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành một số cơ chế, chính sách ưu tiên, khuyến khích phát triển nguồn năng lượng mới và tái tạo.

      Theo đó, Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2068 ngày 25/11/2015 đặt ra các mục tiêu cụ thể. Trong đó, đối với phát triển điện gió có điện năng sản xuất tăng từ 180 triệu kWh năm 2015 lên khoảng 2,5 tỷ kWh vào năm 2020, khoảng 16 tỷ kWh từ năm 2030 và khoảng 53 tỷ kWh năm 2050. 

      Các chuyên gia trong và ngoài nước đều cho rằng, nằm trong vùng khí hậu gió mùa và được định hình bởi đường bờ biển dài khoảng 3.000 km, Việt Nam có tiềm năng rất lớn trong phát triển điện gió, ước tính tiềm năng này vào khoảng 24 GW. Song để phát triển thị trường điện gió, một số rào cản pháp lý và thị trường cũng như nhu cầu về năng lực cần được khắc phục. 

      Thông qua tài trợ của Chính phủ Cộng hòa Liên bang Đức, GIZ đã hỗ trợ Việt Nam từ năm 2009 trong việc phát triển năng lượng tái tạo. Một số dự án đã và đang được triển khai bao gồm Năng lượng gió giai đoạn 2009 - 2012; Năng lượng sinh học 2012 - 2015; Hỗ trợ mở rộng quy mô điện gió 2014 - 2018; Năng lượng tái tạo và hiệu quả năng lượng 2015 - 2018; Chương trình phát triển dự án năng lượng tái tạo 2015 - 2018; Lưới điện thông minh cho năng lượng tái tạo và hiệu quả năng lượng 2017 - 2021. 

      Với Dự án Hỗ trợ mở rộng quy mô điện gió tại Việt Nam thực hiện trong khoảng thời gian 2014 - 2018, Bộ Công Thương và GIZ cùng hợp tác nâng cao khung pháp lý đồng thời phát triển năng lực bao gồm đào tạo, hỗ trợ kỹ thuật chuyên môn.

    • Đầu tư cho năng lượng tái tạo: Vẫn dừng ở tiềm năng

      Tiềm năng lớn

      Theo ông Phạm Trọng Thực - Vụ trưởng Vụ Năng lượng, Tổng cục Năng lượng (Bộ Công Thương), Việt Nam đang phải nhập khẩu năng lượng từ Trung Quốc và Lào. Với khả năng sản xuất hiện nay và tình hình phát triển kinh tế - xã hội thì dự báo từ năm 2017 trở đi, cả nước sẽ thiếu hụt lớn nguồn năng lượng sơ cấp.

      Trong khi đó, các chuyên gia và nhà đầu tư đánh giá Việt Nam là một trong những quốc gia có nhiều thuận lợi nhất trong khu vực để phát triển nguồn NLTT từ sức gió, năng lượng mặt trời, rác thải...

      Cụ thể, với gần 3.400 km bờ biển, tiềm năng về năng lượng gió của Việt Nam ước tính khoảng 500 -1.000 kWh/m2 mỗi năm. Bên cạnh đó là nguồn năng lượng mặt trời với lượng bức xạ trung bình 5 kWh/m2/ngày trên khắp cả nước. Tiềm năng kỹ thuật của thủy điện nhỏ cũng dao động ở mức hơn 4.000 MW mỗi năm.

        Theo Tổng cục Năng lượng, để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế cũng như bảo đảm đủ nguồn cung năng lượng, Việt Nam cần quy hoạch và hoạch định chiến lược năng lượng. Trong đó, hướng tới mục tiêu sử dụng tiết kiệm, hiệu quả và tăng việc sử dụng NLTT.
         

      Tổng tiềm năng lượng sinh khối của Việt Nam khoảng 73 triệu tấn/năm, trong đó sinh khối từ nông - lâm - ngư nghiệp là 60 triệu tấn/năm và từ rác thải khoảng 13 triệu tấn/năm. Nếu tận dụng các nguồn sinh khối này để phát điện thì công suất điện ước tính có thể lên tới 5.000 MW.

      Ông Phạm Trọng Thực khẳng định: Công suất NLTT đang được khai thác gồm thủy điện nhỏ, sinh khối, rác thải sinh hoạt, mặt trời và gió là khoảng 1.215 MW, chỉ chiếm khoảng 3,4% tiềm năng về NLTT của Việt Nam; trong đó năng lượng mặt trời mới khai thác được khoảng 3% tiềm năng. Nếu tận dụng được nguồn năng lượng này, Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh sẽ có nguồn năng lượng đáng kể tại chỗ. “Đây là giải pháp Chính phủ đang hướng tới để đạt mục tiêu đến năm 2020, 30% nguồn năng lượng là NLTT cung cấp cho các thành phố này, bảo đảm vấn đề môi trường, vệ sinh và các vấn đề khác. Đặc biệt là áp dụng NLTT cho giao thông đô thị. Nếu làm được việc này, chúng ta sẽ tăng khả năng phát triển xanh - sạch” - ông Thực nhấn mạnh.

      Doanh nghiệp chưa “mặn mà”

      Mặc dù có nhiều tiềm năng phát triển, nhưng các doanh nghiệp còn khá e dè khi đầu tư vào lĩnh vực NLTT. Đến nay, cả nước có 77 dự án điện gió, quy mô công nghiệp được đăng ký ở 18 tỉnh, thành phố với tổng công suất trên 7.000 MW. Tuy nhiên, hiện chỉ có 3 dự án được triển khai và có điện bán vào hệ thống điện quốc gia với 48,2 MW.

      Xung quanh việc đầu tư cho NLTT, ông Nguyễn Hoàng Dũng - Trưởng phòng NLTT, Công ty CP Tư vấn Xây dựng điện 3 cho rằng, chi phí đầu tư cho dự án NLTT tương đối cao là thách thức để phát triển lĩnh vực này. Trong khi việc tiếp cận các nguồn vốn vay gặp nhiều khó khăn thì giá bán điện thấp khiến các nhà đầu tư không mặn mà.

      Ông Dũng cũng bày tỏ: “NLTT là mảng rất mới với các doanh nghiệp Việt Nam. Dù quyết tâm, song chúng tôi còn thiếu kinh nghiệm, năng lực về kỹ thuật và tài chính. Với các chính sách hỗ trợ về năng lượng gió, năng lượng mặt trời…, nhà nước đã thể hiện rõ quyết tâm về NLTT như: Ưu đãi về thuế thuê đất, thuế thu nhập doanh nghiệp… Tuy nhiên, đó là chính sách thực hiện sau khi dự án thành công. Hiện tại, nhà đầu tư chưa được hưởng chính sách ưu đãi nên phải tính toán, nếu có khả năng thu lợi nhuận thì mới thực hiện”.

      Đồng tình với quan điểm trên, ông Huỳnh Kim Tước - Giám đốc Trung tâm Tiết kiệm năng lượng TP. Hồ Chí Minh - nhận định: Rào cản lớn nhất khiến các doanh nghiệp còn e dè khi đầu tư vào NLTT là những hạn chế về cơ chế chính sách. Trong khi khung thể chế, pháp lý mới chỉ hình thành Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả thì các chính sách về NLTT lại chưa đầy đủ. Điều này dẫn đến việc thiếu đồng bộ trong điều chỉnh các hoạt động năng lượng phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - chính trị - xã hội của nước ta.

      Cần chính sách hỗ trợ

      Chiến lược phát triển NLTT của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt cuối năm 2015. Đây có thể coi là nền tảng cho sự phát triển NLTT tại Việt Nam. Chiến lược nhằm khuyến khích, huy động mọi nguồn lực từ xã hội, phát triển NLTT với giá hợp lý để tăng dần thị phần NLTT trong tổng sản lượng và tiêu dùng năng lượng quốc gia.

      Ông Bakhodir Burkhanov - Phó Giám đốc quốc gia Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) - cho rằng, Chính phủ Việt Nam cần sớm ban hành luật về NLTT, nhằm tạo điều kiện thuận lợi có tính đột phá để thúc đẩy thu hút doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia phát triển thị trường NLTT. “UNDP nhận thấy, khu vực tư nhân tin tưởng vào tiềm năng to lớn của thị trường NLTT ở Việt Nam. Mối quan tâm này khẳng định tầm quan trọng của sự cần thiết phải có những chính sách đúng đắn để có thể thực hiện cam kết và tối ưu hóa lợi ích chung từ NLTT. Trên thế giới, NLTT đang có nhiều thay đổi nhanh và tích cực về mặt kỹ thuật cũng như tài chính. Việt Nam cần tiếp cận và tận dụng được những đổi thay này” - ông Bakhodir Burkhanov nhấn mạnh.

      Ở góc độ doanh nghiệp, ông Lê Vĩnh Sơn - Chủ tịch HĐQT Công ty CP Quốc tế Sơn Hà - cho rằng, để thu hút nhiều doanh nghiệp tham gia phát triển lĩnh vực NLTT, nhà nước cần có chính sách ưu đãi linh hoạt về NLTT, áp dụng cho giai đoạn nghiên cứu, thí điểm và những năm đầu sản xuất... Ngoài ra, cần có hành động đầu tư thiết thực và công bằng giữa các tập đoàn kinh tế nhà nước với thành phần kinh tế tư nhân; hỗ trợ nghiên cứu chuyển giao công nghệ từ các nước tiên tiến để sản xuất các sản phẩm sử dụng NLTT, từ đó nội địa hóa các sản phẩm này.

      Từ thực tế trên, nhà nước cần có chính sách để thực hiện, tối ưu hóa lợi ích từ NLTT. Qua đó, góp phần bảo tồn năng lượng và giảm thiểu ô nhiễm, biến đổi khí hậu, đáp ứng tốt yêu cầu phát triển kinh tế bền vững.

      PGS-TS. Trần Đình Thiên - Viện trưởng Viện kinh tế Việt Nam:

      Phải thay đổi tư duy cả về cung và cầu

      Giải quyết vấn đề năng lượng phải giải quyết cả vấn đề cung và cầu. Hiện nay, việc tiếp cận với phát triển năng lượng xem ra mới chỉ từ một phía nguồn cung như: Cơ cấu nguồn điện, giá cả thị trường năng lượng,… mà chưa quan tâm nhiều tới nguồn cầu. Phát triển năng lượng trong tình trạng thiếu nguồn cung thì tìm mọi cách bù đắp; trong khi sản xuất công nghiệp và nông nghiệp năng suất thấp dẫn đến việc tiêu tốn nguồn năng lượng lớn nhưng lại chưa có giải pháp căn cơ để tiết giảm nhu cầu.

      Để giải quyết bài toán này, tôi cho rằng, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 là mấu chốt. Bởi cuộc cách mạng này sẽ thay đổi bản chất nhiều công việc và cơ cấu nhiều ngành công nghiệp, kết nối máy móc với điều kiện tự động, tạo ra người máy có trí thông minh nhân tạo, các hàng hóa, dây chuyền sản xuất tự động... Như vậy, nguồn năng lượng cho sản xuất và sinh hoạt sẽ được bảo đảm. Đồng thời, nhu cầu tiêu tốn điện năng cho phát triển kinh tế - xã hội cũng giảm đáng kể.

      Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 cũng sẽ mang theo cơ hội cho Việt Nam sản sinh ra nguồn năng lượng giá rẻ, tối ưu hóa nguồn NLTT. Tuy nhiên, khi chưa thể chuyển đổi hoàn toàn thì vẫn cần giám sát cả hai phía cung - cầu để bảo đảm sử dụng nguồn năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Theo đó, phát triển các dự án năng lượng phải được xem xét kỹ lưỡng và giám sát chặt chẽ các cam kết về công nghệ, không gây ô nhiễm môi trường.

      GS. Viện sĩ Trần Đình Long - Phó Chủ tịch Hội Điện lực Việt Nam:

      Sử dụng hiệu quả năng lượng

      Giữa tăng trưởng kinh tế và nhu cầu sử dụng năng lượng có mối liên quan chặt chẽ, thể hiện qua hệ số đàn hồi. Nhiều năm qua, hệ số đàn hồi ở Việt Nam đạt xấp xỉ 2 lần so với tốc độ tăng trưởng kinh tế. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để sử dụng năng lượng hiệu quả, tiết kiệm với mục tiêu giảm hệ số đàn hồi xuống còn dưới 1,5 lần để tránh áp lực cho hệ thống điện quốc gia. Từ trước tới nay, chúng ta mới chỉ chú trọng đến nguồn cung chứ chưa quan tâm hoặc có nhưng ít đến nguồn cầu năng lượng.

      Thời gian qua, Nhà nước đã triển khai nhiều chương trình liên quan đến nhu cầu sử dụng năng lượng với sự hỗ trợ của cơ quan, đối tác nước ngoài nhằm phát triển kinh tế xanh, bền vững; khuyến khích sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả, giảm khí thải, kiểm toán năng lượng...

      Đối với những thách thức về nguồn điện trong bối cảnh nhu cầu phụ tải tăng cao, chúng ta vẫn phải lựa chọn nhiệt điện than cho giai đoạn trước mắt. Mặt khác, phải tìm các nguồn khác thay thế cho 4.000 MW điện hạt nhân. Năng lượng tái tạo cũng là một giải pháp quan trọng, nhưng muốn đẩy mạnh phát triển cần có những điều kiện từ chính sách, kỹ thuật, đặc biệt là cơ chế giá để khuyến khích đầu tư. Trước mắt, có thể khuyến khích phát triển điện mặt trời lắp mái nối lưới một cách rộng rãi với chính sách thích hợp. Dù công suất không lớn, nhưng cũng giải quyết phần nào nhu cầu ở hộ gia đình và khu vực nhỏ.

      TS. Phương Hoàng Kim - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Năng lượng (Bộ Công Thương):

      Cơ quan truyền thông đóng vai trò quan trọng

      Đến nay, các nguồn thủy điện lớn ở Việt Nam cơ bản đã khai thác hết, NLTT có tiềm năng, nhưng suất đầu tư cao dẫn đến giá thành cao; giá mua điện mặt trời theo quyết định mới của Chính phủ là 9,35 cent, như vậy phải bù lỗ hơn 2 cent/kWh (chưa kể giá truyền tải và các chi phí khác).

      Nếu tính cả đầu tư hạ tầng đấu nối, nguồn dự phòng, chi phí còn cao hơn. Trước thực tế trên, nhiệt điện than vẫn là một trong những lựa chọn của Việt Nam cũng như nhiều quốc gia phát triển, có tiềm lực kinh tế như Nhật Bản, Hàn Quốc... Vấn đề ở đây là lựa chọn công nghệ tiên tiến, hiệu suất cao, vừa bảo đảm hiệu quả kinh tế, vừa đáp ứng những yêu cầu về môi trường, xã hội. Tuy nhiên, chi phí đầu tư sẽ cao hơn khoảng 10 - 20%. Điều này sẽ tác động lên giá điện và đây là bài toán thực sự khó khăn.

      Nhìn chung, các nhà máy nhiệt điện ở Việt Nam đang vận hành, đầu tư đều sử dụng công nghệ cao, đáp ứng được yêu cầu về môi trường theo quy định; có đầy đủ hệ thống phụ trợ để xử lý môi trường như hệ thống lọc bụi tĩnh điện, khử lưu huỳnh, xử lý thu gom xử lý tro xỉ thải, đồng thời mở cửa cho nhân dân giám sát, tăng cường tính công khai minh bạch…

      Với tốc độ tăng trưởng kinh tế - xã hội như hiện nay, nguy cơ thiếu hụt năng lượng cho phát triển kinh tế là hiện hữu nếu không có giải pháp kịp thời. Tuy nhiên, để nhân dân hiểu rõ, chia sẻ và đồng thuận, rất cần sự đồng hành của các cơ quan truyền thông.

    • Genco 3 đề xuất làm 2 dự án điện mặt trời tại Ninh Thuận

      Thực hiện chủ trương của Bộ Công Thương và Tập đoàn Điện lực Việt Nam về phát triển năng lượng tái tạo, Genco 3 đề xuất với UBND tỉnh Ninh Thuận về chủ trương đầu tư 2 dự án điện năng lượng mặt trời tại xã Phước Minh, huyện Thuận Nam với diện tích 554 ha, công suất lắp đặt phát điện dự kiến 350 MW, tổng mức đầu tư khoảng 9.576 tỷ đồng.

      Thời gian thực hiện dự án từ quý 2 năm 2018 đến quý 1 năm 2021. Ngoài sản xuất điện năng lượng mặt trời, Genco 3 sẽ kết hợp sản xuất nông nghiệp công nghệ cao trên phần diện tích dự án.

      Tổng Công ty Phát điện 3 hiện quản lý vận hành 12 nhà máy nhiệt điện và thủy điện trên cả nước với tổng công suất phát điện 6.549 MW, chiếm gần 17% sản lượng hệ thống điện Quốc gia.

       

    • Khai thác lợi thế của nguồn năng lượng tái tạo

      Vẫn còn nhiều khó khăn

      Việt Nam có tới 8,6% diện tích lãnh thổ được đánh giá có tiềm năng từ tốt đến rất tốt để xây dựng các trạm điện gió cỡ lớn. Tổng tiềm năng điện gió của Việt Nam ước đạt 513.360 MW tức là bằng hơn 200 lần công suất của Thủy điện Sơn La (con số này bao gồm cả gió trên biển, gió ở thềm lục địa và gió trên đất liền).

      Việt Nam là quốc gia có tiềm năng lớn về năng lượng tái tạo

      Về năng lượng mặt trời, theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), tiềm năng năng lượng mặt trời của Việt Nam lớn nhất là tập trung ở các tỉnh ven biển Nam Trung Bộ từ Khánh Hòa đến Bà Rịa - Vũng Tàu và các tỉnh Tây Nguyên, cường độ bức xạ đạt từ 5,2-5,7 kWh/m2. Ngoài hai nguồn năng lượng tái tạo kể trên chúng ta còn những nguồn năng lượng tái tạo khác như: Năng lượng sinh khối, khí sinh học, rác thải, địa nhiệt…

      Theo Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), hiện nay hệ thống văn bản pháp luật trong lĩnh vực đầu tư của nước ta đã cơ bản đầy đủ. Chiến lược phát triển NLTT của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến 2050 đã được Thủ tướng phê duyệt năm 2015. Bên cạnh đó cơ chế hỗ trợ, khuyến khích các dự án điện gió, mặt trời đã được Thủ tướng phê duyệt.

      Tuy nhiên, các quy hoạch trong lĩnh vực NLTT (trừ thuỷ điện nhỏ) mới quy hoạch về quy mô theo vùng, miền, chưa xác định địa điểm dự án do vậy có khó khăn trong việc quy hoạch và phát triển đồng bộ lưới điện.

      Với đặc điểm các nguồn điện gió, điện mặt trời có công suất phát không ổn định, thay đổi theo cường độ gió, cường độ bức xạ mặt trời nên khi phát triển với quy mô công suất lớn cần phải có các nguồn điện dự phòng thay thế và các giải pháp để đảm bảo vận hành an toàn, ổn định hệ thống điện. Các tiêu chuẩn kỹ thuật các thiết bị được phép tham gia vào phát và truyền tải điện từ nguồn NLTT; các quy định về kiểm định các thiết bị trước khi đưa vào sử dụng... hiện nay còn thiếu. Công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường tái định cư là một khó khăn thường gặp phải khi triển khai các dự án nói chung và các dự án NLTT nói riêng.

      Cần có chính sách ưu đãi thuế, đất đai

      Theo TS Đoàn Văn Bình, Viện trưởng Viện Khoa học Năng lượng - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, trên thực tế, giá đầu tư 1 kW điện gió hiện nay khoảng 2.370 USD, giá thành sản xuất điện gió khoảng 10 đến 12 cent/kWh tùy theo điều kiện lắp đặt.

      Giá đầu tư 1 kWh mặt trời đã giảm gần một nửa trong 4 đến 5 năm trở lại đây, từ 3.500 đến 4.000 USD giảm xuống còn khoảng 1.770 USD đến 2.200 USD tuỳ theo điều kiện lắp đặt. Tuy vậy giá sản xuất điện mặt trời vẫn khoảng 10 đến 12 cent/kWh. Rõ ràng giá sản xuất điện như thế này vẫn rất khó cạnh tranh với các dạng năng lượng truyền thống như nhiệt điện than hay thủy điện (giá thành chỉ bằng một nửa). Vì vậy nếu không có các cơ chế chính sách thích hợp thì cơ hội cạnh tranh của các nguồn năng lượng tái tạo là rất thấp.

      Vậy giải pháp nào để khắc phục những khó khăn trong phát triển điện gió, điện mặt trời nhằm thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước lĩnh vực này? EVN cho rằng, cơ quan chức năng cần hoàn thiện và ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia, các tiêu chuẩn chuyên ngành lên quan đến công tác thiết kế, vận hành các nguồn điện NLTT; Có chính sách ưu đãi về vốn đầu tư và thuế tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển các dự án điện từ nguồn NLTT được vay vốn đầu tư với lãi suất ưu đãi và giảm thuế, miễn thuế theo quy định của pháp luật về thuế; Chính sách ưu đãi về đất đai và hỗ trợ giải phóng mặt bằng.

      Đặc biệt, Chính phủ sớm xem xét phê duyệt giá điện sinh khối, điều chỉnh giá điện gió. Xây dựng và ban hành quy định về cơ chế đấu giá dự án NLTT. Thành lập các Quỹ đầu tư phát triển nhằm hỗ trợ tài chính cho các hoạt động khuyến khích phát triển ngành NLTT.

    • 94.000 tỷ đồng đầu tư cho năng lượng sạch Bình Thuận

      Tại hội nghị xúc tiến đầu tư vừa diễn ra, UBND tỉnh Bình Thuận đã trao quyết định và tiếp nhận cam kết đầu tư của gần 30 doanh nghiệp trong và ngoài nước vào các lĩnh vực tiềm năng như năng lượng sạch, du lịch và nông nghiệp công nghệ cao. Ước tính tổng vốn đăng ký ban đầu hơn 126.000 tỷ đồng.

      Trong đó, số lượng dự án sản xuất điện bằng năng lượng tái tạo chiếm áp đảo và có vốn đầu tư dự kiến khoảng 94.150 tỷ đồng, tập trung chủ yếu tại huyện Tuy Phong và Hàm Tân. Nổi bật trong số này là dự án nhà máy điện mặt trời của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, dự án nhà máy điện khí Sơn Mỹ 1 của liên doanh nhà đầu tư Pháp - Nhật Bản với tổng vốn đầu tư 49.500 tỷ đồng (tương đương 2,2 tỷ USD).

      Tỉnh Bình Thuận có nhiều tiềm năng để phát triển nguồn năng lượng sạch - Ảnh: Huyền Thương

      Ông Nguyễn Ngọc Hai, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận cho biết, cơ cấu thu hút đầu tư của tỉnh đang chuyển đổi rõ nét theo hướng khuyến khích phát triển năng lượng sạch song hành với các ngành kinh tế mũi nhọn, nhằm từng bước thực hiện mục tiêu trở thành trung tâm năng lượng lớn của cả nước vào năm 2020 với tổng công suất đạt trên 12.000 MW.

      Theo quy hoạch phát triển đến năm 2030, tổng công suất các nhà máy điện gió sẽ đạt 2.500 MW. Đối với nhiệt điện và điện mặt trời, công suất ước tính trong thời gian tới lần lượt đạt 10.000 MW và 3.819 MW. Hiện Bình Thuận cũng tích cực đa dạng hóa hình thức sản xuất năng lượng, tính đến nay địa phương này đã có các nhà máy nhiệt điện vận hành bằng than và khí hóa lỏng, thủy điện, phong điện và điện mặt trời.

      Ông Hai nhận định, điều kiện thiên nhiên thuận lợi là yếu tố quan trọng nhất giúp Bình Thuận dẫn đầu trong nhóm các địa phương phát triển toàn diện ngành công nghiệp điện. Cụ thể, nhờ ít mưa, số giờ nắng trong năm luôn ở mức lý tưởng và phần lớn diện tích có cường độ bức xạ nhiệt trung bình khoảng 5 kWh trên mỗi mét vuông mà địa phương có nhiều lợi thế để phát triển năng lượng mặt trời. Tài nguyên thủy điện dồi dào nhờ sở hữu tổng lượng nước bình quân hàng năm khoảng 5,4 tỷ m3 được tạo bởi 7 lưu vực sông chính và còn thêm 30 hồ lớn.

      Tuy nhiên, theo đánh giá của Hiệp hội Điện gió Bình Thuận thì dù tiềm năng vô cùng lớn nhưng để các nhà máy điện gió, điện mặt trời của tỉnh đóng góp hoàn thành mục tiêu chung là 800 MW vào năm 2020 thì không khả thi.

      Ông Bùi Văn Thịnh, Chủ tịch Hiệp hội này cho rằng các dự án đầu tư điện gió thường mất nhiều thời gian để được cấp phép đầu tư. Sau đó, chủ đầu tư tiếp tục đối mặt với vấn đề tiếp cận nguồn vốn vay, đặc biệt là nguồn vốn ưu đãi của Nhà nước. Trong số 3 dự án chính thức vận hành thì một dự án bị ngân hàng siết nợ, một dự án đổi chủ và một dự án mới hoạt động gần đây nhất cũng phải chắt chiu để trả phí vận hành, không có chi phí tái đầu tư nên khó nói đến vấn đề thu hồi vốn.

      “Hơn 10 năm qua, công suất điện gió cả nước phát triển mới khoảng 160 MW. Riêng tại Bình Thuận, hiện có 19 dự án đăng ký đầu tư và rất ít trong số đó chính thức vận hành với giá bán điện lên lưới theo quy định là 7,8 cent một kWh. Chúng ta còn chưa đầy 3 năm để hoàn thành 80% kế hoạch còn lại nhưng nếu không có gì thay đổi trong thời gian tới thì với giá điện này sẽ không thể đạt kế hoạch”, ông Thịnh cho biết.

      Phát biểu tại hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho biết sẽ cân nhắc việc tăng giá điện gió trong thời gian tới để hỗ trợ doanh nghiệp, thu hút nhà đầu tư rót vốn phát triển năng lượng sạch tại Bình Thuận theo chủ trương của Trung ương.

      Người đứng đầu Chính phủ chia sẻ, từ khi quyết định về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam được ký, giá mua điện tại điểm giao nhận tăng lên 9,35 cent một kWh. Hàng chục nhà đầu tư sau đó đã đến Bình Thuận tìm hiểu cơ hội phát triển điện mặt trời. Đây được xem là tín hiệu lạc quan cho ngành Điện nhưng đề nghị doanh nghiệp cần có chiến lược kinh doanh lâu dài và bền vững, nói đi đôi với làm để tránh tình trạng ký kết rầm rộ nhưng không triển khai.

      “Chính quyền và các nhà đầu tư cần có tầm nhìn và nâng cao chất lượng quy hoạch để không xảy ra tình trạng quy hoạch ngành, quy hoạch vùng và các sản phẩm mâu thuẫn nhau, triệt tiêu lẫn nhau”, Thủ tướng nhấn mạnh và lưu ý Bình Thuận phải phát triển đồng thời công nghiệp chế biến sâu titan thành nguồn năng lượng sạch dựa trên lợi thế chiếm 92% tổng trữ lượng quặng của cả nước.

    • Sinh lời từ điện mặt trời

      Cụ thể từ ngày 1/6/2017, Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) có trách nhiệm mua toàn bộ lượng điện từ các dự án điện mặt trời (ĐMT) nối lưới với giá mua điện tại điểm giao nhận điện là 2.086 đồng/kWh (chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng, tương đương 9,35 cent/kWh).

      Hộ gia đình khỏi lo tiền điện

      Quyết định của Thủ tướng nêu rõ: Các dự án điện trên mái nhà được thực hiện cơ chế bù trừ điện năng (net-metering) sử dụng hệ thống công tơ (đồng hồ) hai chiều. Trong một chu kỳ thanh toán, lượng điện phát ra từ các dự án trên mái nhà lớn hơn lượng điện tiêu thụ sẽ được chuyển sang chu kỳ thanh toán kế tiếp. Khi kết thúc một năm hoặc khi kết thúc hợp đồng mua bán điện, lượng điện phát dư sẽ được bán cho bên mua điện theo giá quy định. 

      Giọng đầy hồ hởi, ông Diệp Bảo Cánh, Tổng giám đốc Công ty cổ phần năng lượng Mặt trời đỏ (Red Sun), nói: “Tôi cũng như nhiều người hoạt động trong lĩnh vực này vui từ hôm có quyết định của Chính phủ đến giờ. Từ tuần trước đến giờ chúng tôi cũng bận rộn hơn nhiều vì phải chuẩn bị cho một thị trường sắp mở cửa, dự báo rất sôi động”.

      Ông Trần Hữu Cường, ngụ Q.2 (TP.HCM), cũng phấn khởi: “Tôi đã tìm hiểu về lĩnh vực này rất nhiều và trước giờ cứ đắn đo giữa bộ ĐMT công suất 2 kW và 5 kW. Bộ nhỏ không đủ cho nhu cầu sử dụng còn bộ lớn xài không hết lại bỏ phí. Lấn cấn mãi về việc này nên chưa đầu tư. Nhưng với quyết định mới của Chính phủ, tôi sẽ lắp hẳn bộ công suất lớn vì dư cũng bán được, không phải bỏ phí. Từ nay về sau không phải hằng tháng lo tiền điện, giá điện tăng”.

      Cuối năm ngoái, anh Nguyễn Văn Công (Q.10, TP.HCM) đầu tư bộ ĐMT công suất 5 kW với tổng chi phí lên đến 180 triệu đồng nên sử dụng không hết và thường phải “bán” với giá 0 đồng cho EVN. Quyết định của Chính phủ có thể giúp anh Công kiếm thêm thu nhập từ “nhà máy điện” trên nóc nhà của mình. “Việc thu lại được phần tiền đúng bằng với phần đã đóng góp cho lưới điện là hợp quy luật thị trường và khuyến khích cho ĐMT phát triển ngày càng mạnh,” anh Công nói.

      Là người có kinh nghiệm sử dụng ĐMT, PGS-TS Lê Anh Tuấn, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu (ĐH Cần Thơ), chia sẻ: “Tôi đầu tư hệ thống ĐTM cuối năm ngoái. Thời điểm đó vẫn chưa có quy định về mua bán điện giữa hộ gia đình và nhà cung cấp điện. Toàn bộ hệ thống 12 tấm pin mặt trời trên nóc nhà với tổng diện tích 24 m2 và bộ tích điện tốn chi phí 130 triệu đồng. Khi có quy định về việc mua bán điện, người dân sẽ giảm được chi phí đầu tư đáng kể khi không phải tốn thêm tiền đầu tư bộ tích điện. Điện xài không hết có thể coi như “gửi” lên lưới điện quốc gia, lúc cần đem xuống xài mà không cần tốn tiền mua. Nó sẽ khắc phục được bất cập hiện nay là thừa phải cho không nhưng khi cần sử dụng lại phải mua. Trước đây, tôi tính chi phí đầu tư hệ thống ĐMT tương đương 7 năm tiền mua điện hằng tháng. Với quyết định mới này thời gian hoàn vốn chỉ mất khoảng 3 - 4 năm”.

      Doanh nghiệp đổ vốn vào điện mặt trời

      Cũng theo Quyết định 11, bên mua có trách nhiệm mua toàn bộ điện năng được sản xuất từ các dự án ĐMT. Thời hạn hợp đồng mua bán điện với các dự án ĐMT là 20 năm kể từ ngày vận hành thương mại. Các doanh nghiệp đầu tư vào ĐMT còn được ưu đãi về vốn, thuế, đất đai...

      Khu vực nam Trung bộ có tiềm năng rất lớn về ĐMT. Theo Sở Công Thương tỉnh Bình Thuận, đến cuối năm 2015 mới có một dự án của nhà đầu tư Hàn Quốc nhưng chỉ trong tháng 3.2017 vừa qua, UBND tỉnh tiếp tục chấp thuận 2 dự án đầu tư khác.

      Hiện dự án điện năng lượng mặt trời lớn nhất tại Bình Thuận nằm ở xã Sông Bình (huyện Bắc Bình) có công suất 200 MW, chiếm diện tích đất tới 282 ha, do EVN làm chủ đầu tư đã được lập quy hoạch bổ sung vào mạng lưới phát triển điện của tỉnh. Toàn bộ vùng tiềm năng ĐMT của Bình Thuận là trên 8.400 ha. Tổng công suất được quy hoạch 5.035 MW.

      Trong đó, quy hoạch đến năm 2030 là 4.500 MW. Ngoài 37 nhà đầu tư đã được tỉnh cho phép nghiên cứu, khảo sát và chấp thuận đầu tư, hiện vẫn có khá nhiều nhà đầu tư đang đề nghị được tỉnh cho nghiên cứu, đo nắng và lập dự án. Ông Dương Tấn Long, Trưởng phòng Quản lý điện và năng lượng (Sở Công Thương Bình Thuận), cho biết tỉnh đang rà soát lần cuối quy hoạch tổng thể về ĐMT tầm nhìn đến năm 2030. Ngay cả các mặt hồ thủy điện, hồ thủy lợi cũng được quy hoạch ĐMT vì các hồ nước này hoàn toàn có thể đặt phao nổi để lắp đặt các tấm pin mặt trời.

      Cạnh đó, tỉnh Ninh Thuận cũng thu hút được nhiều dự án ĐMT. Theo Sở Công Thương Ninh Thuận, toàn tỉnh có 8 dự án đã được chấp thuận đầu tư, trong đó có 2 dự án đã tiến hành xong nghiên cứu khảo sát và đã lập dự án đang trình UBND tỉnh xem xét trước khi trình Bộ Công Thương phê duyệt; khoảng 40 nhà đầu tư khác đang nộp hồ sơ làm ĐMT tại tỉnh. Các chuyên gia lĩnh vực ĐMT cho biết có nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước muốn đầu tư vào lĩnh vực này như: Hàn Quốc, Thái Lan, Đức... với quy mô mỗi dự án 30 - 100 MW.

      Vừa là nhà sản xuất tấm pin và nhà đầu tư ĐMT, ông Cánh nói: “Dù mức giá mới được phê duyệt 9,35 cent/kWh còn thấp hơn so với nhiều nước trong khu vực và mức giá kỳ vọng (trên 10 cent/kWh) của các nhà đầu tư, nhưng với việc có cơ chế mua bán và mức giá cụ thể như vậy cũng đã là thành công của lĩnh vực ĐMT ở Việt Nam. Tôi cho rằng với mức giá này, nếu nhà đầu tư khéo léo và đặt mức lợi nhuận vừa phải cũng có thể hoạt động được. Trong xu hướng chi phí đầu tư ngày càng giảm hiện nay thì lợi nhuận sẽ ổn định hơn”.

    • Phát triển điện gió: Biến tiềm năng thành hiện thực

      Theo báo cáo của Bộ Công Thương, Việt Nam có tiềm năng phát triển điện gió với trên 3.000 km2 đường bờ biển. Theo lộ trình, Việt Nam sẽ phát triển 800 MW điện gió vào năm 2020, chiếm khoảng 0,8% tổng nhu cầu điện. Mục tiêu là phát triển 2.000 MW điện gió vào năm 2025 và 6.000 MW vào năm 2030.

      Ông Chris Beaufait, Chủ tịch Tập đoàn Vestas Châu Á Thái Bình Dương và Trung Quốc cho rằng, nhu cầu điện của Việt Nam hiện tăng trưởng nhanh với tốc độ khoảng 10%/năm. Gió sẽ là nguồn năng lượng giúp Việt Nam đảm bảo tốt vấn đề an ninh năng lượng thông qua việc giảm phụ thuộc vào nguồn năng lượng hóa thạch phải nhập khẩu và những biến động trên thị trường than đá, khí đốt…. Ngoài ra, điện gió cũng có thể giúp loại bỏ một số thách thức mà thủy điện gặp phải liên quan đến hiện tượng thay đổi khí hậu theo mùa, hay các vấn đề về ô nhiễm của các nhà máy nhiệt điện.

      Theo TS. Trần Thị Thu Trà, đại diện Tập đoàn Điện lực Việt Nam, có thể tận dụng được các đồi trọc để xây các tuốc bin gió, không gây ảnh hưởng đến đất canh tác. Đồng thời, ảnh hưởng của thiên nhiên nơi đặt các tuốc bin gió không đáng kể nếu so sánh với nhà máy thủy điện, nhiệt điện, điện hạt nhân…

      Năng lượng gió là nguồn năng lượng sạch và vô tận. Đây là điều tiên quyết đem lại lợi thế của năng lượng gió so với các nguồn năng lượng hóa thạch vốn có hạn. Với việc công nghệ ngày càng tiến bộ và sử dụng năng lượng gió ngày càng phổ biến hơn thì giá thành của năng lượng gió ngày càng rẻ. 

      Theo PGS. TS. Bùi Huy Phùng, Viện Khoa học Năng lượng, giá điện gió trên thế giới những năm gần đây đã giảm nhiều, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển sử dụng các nguồn năng lượng này. Ở Việt Nam, giá điện gió và điện mặt trời cũng đang giảm nhanh, không còn đắt như những năm trước và hoạt động phát triển nguồn điện này cũng bắt đầu khởi sắc. Chính phủ cũng đang tạo các điều kiện để đẩy nhanh việc phát triển nguồn năng lượng sạch này.

      Giai đoạn trước 2010, suất đầu tư cho điện gió ở Việt Nam từ 3.500 - 4.000 USD/kW, tương đương giá điện 15-17 cents/kWh, nhưng đến 2015-2016, suất đầu tư chỉ còn 2.000-2.500 USD/kW và giá điện chỉ còn 9-10 cents/kWh. Dự báo đến 2020-2025, suất đầu tư điện gió sẽ chỉ còn 1.500 USD/kW và giá điện giảm còn 7 cents/kWh.

      Tuy nhiên, PGS.TS Bùi Huy Phùng cho rằng, giá điện từ gió trong thời gian 5-10 năm tới chắc sẽ vẫn còn cao hơn các nguồn truyền thống, do vậy, cần có chính sách hỗ trợ để phát triển nguồn năng lượng này. Cần phải nghiên cứu giá và mức hỗ trợ có tính hệ thống, đồng bộ đối với tất cả các nguồn điện thay vì các quyết định hỗ trợ cho từng loại nguồn điện. Ngoài ra, nâng cao tỷ trọng nội địa hóa, cập nhật thông tin và cẩn trọng trong đàm phán dự án năng lượng tái tạo để giảm tối đa đầu tư.

      Theo chuyên gia đến từ Hiệp hội Năng lượng Việt Nam, ông Nguyễn Văn Vy, nhiệt điện gió trên đất liền hiện là một trong những nguồn có chi phí thấp trong các loại nguồn điện. Dự án điện gió tốt nhất trên thế giới hiện đang cung cấp điện với giá chi phí khoảng 5 cents/kWh mà không cần hỗ trợ tài chính. Tiến bộ công nghệ đồng thời với việc giảm chi phí đầu tư, dẫn đến chi phí quy dẫn (LCOE) của điện gió trên đất liền sẽ tiếp tục giảm với mức giá đã cạnh tranh, thậm chí thấp hơn so với nguồn điện sử dụng nhiên liệu hóa thạch.

      Theo thống kê của Hiệp hội Năng lượng Việt Nam, các dự án điện gió đang vận hành ở Việt Nam ước tính có khoảng 1.300 máy phát điện gió cỡ gia đình (công suất từ 150 W đến 200 W) đã được lắp đặt sử dụng, chủ yếu ở vùng ven biển từ miền Trung, Đà Nẵng trở vào. Đồng thời, đưa vào vận hành các nhà máy quy mô tương đối lớn với tổng công suất khoảng 160 MW như Nhà máy Phong Điện 1 Bình Thuận (30 MW), Bạc Liêu (99,2 MW), Phú Lạc (24 MW), Phú Quý (6 MW).

      Đánh giá của các tổ chức quốc tế cho thấy, Việt Nam có tiềm năng năng lượng gió lớn, ước tính đạt hơn 500.000 MW, hơn gấp 6 lần tổng công suất ước tính của toàn ngành Điện vào năm 2020. Tuy nhiên, tiềm năng vẫn chỉ là tiềm năng và để biến thành hiệu quả kinh tế vẫn sẽ là một chặng đường dài.

      Nguyên nhân được chỉ ra là giá mua điện gió chưa đảm bảo lợi ích của các nhà đầu tư, nguồn cung cấp linh kiện, thiết bị và dịch vụ trong nước còn hạn chế… Do đó việc thu hút đầu tư vào lĩnh vực điện gió đã gặp không ít cản trở.

      Ông Chris Beaufait cho rằng, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện các khung chính sách pháp lý, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của bộ máy tổ chức và phương thức quản lý trong lĩnh vực điện gió. Đồng thời, tổ chức nghiên cứu, sửa đổi cơ chế hỗ trợ phát triển, giá bán điện gió ở các mức khác nhau cho các dự án trong đất liền và trên biển để thống nhất áp dụng cho các dự án điện gió…

      Theo các chuyên gia trong lĩnh vực năng lượng, nhược điểm lớn nhất của năng lượng gió là sự phụ thuộc vào điều kiện thời tiết và chế độ gió. Vì vậy khi thiết kế, cần nghiên cứu hết sức nghiêm túc chế độ gió, địa hình cũng như loại gió.

      Bên cạnh đó, nhà nước cũng cần có chính sách khuyến khích và hỗ trợ sản xuất, sử dụng máy phát điện gió cỡ nhỏ phục vụ gia đình. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có khả năng chế tạo các máy phát điện gió loại nhỏ sử dụng cho gia đình. Những sản phẩm này không yêu cầu cao về công nghệ, doanh nghiệp có thể nâng tỷ lệ nội địa hóa lên đến 80%, để giảm giá thành sản xuất, lắp đặt.

      Từ những máy phát điện gió nhỏ, “góp gió thành bão” sẽ góp phần giúp Việt Nam đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia và nâng cao tỷ lệ sử dụng nguồn năng lượng tái tạo trong cơ cấu các nguồn điện những năm tới.

    • Chính phủ quy định giá bán điện mặt trời tại Việt Nam là 9,35 Uscents/kWh

      Theo Quyết định này, dự án điện mặt trời được miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định cho dự án; thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu phục vụ sản xuất của dự án là nguyên liệu, vật tư, bán thành phẩm trong nước chưa sản xuất được.

      Các dự án điện mặt trời, công trình đường dây và trạm biến áp để đấu nối với lưới điện được miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tiền thuê mặt nước theo quy định của pháp luật hiện hành áp dụng cho dự án thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu tư.

      Bên mua điện có trách nhiệm mua toàn bộ sản lượng điện từ các dự án nối lưới với giá mua điện tại điểm giao nhận điện là 2.086 đồng/kWh (chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng, đương đương 9,35 Uscents/kWh. Giá bán điện được điều chỉnh theo biến động của tỷ giá đồng/USD. Giá điện này chỉ áp dụng cho các dự án nối lưới có hiệu suất của tế bào quang điện (Solar cell) lớn hơn 16% hoặc module lớn hơn 15%.

      Các dự án trên mái nhà được thực hiện cơ chế bù trừ điện năng sử dụng hệ thống công tơ hai chiều. Trong một chu kỳ thanh toán, lượng điện phát ra từ các dự án trên mái nhà lớn hơn lượng điện tiêu thụ sẽ được chuyển sang chu kỳ thanh toán kế tiếp. Khi kết thúc năm hoặc khi kết thúc hợp đồng mua điện, lượng điện phát dư sẽ được bán cho bên mua điện với giá theo quy định.

      Chi phí mua điện từ các dự án điện mặt trời được tính toán và đưa đầy đủ trong thông số đầu vào của phương án giá bán điện hàng năm của Tập đoàn Điện lực Việt nam.

      Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/6/2017 - 30/6/2019.

      Chi tiết nội dung trong file đính kèm.

    • Nhà máy điện sinh khối KCP - Phú Yên chính thức hòa lưới điện quốc gia

      Trạm biến áp 110 KV của Nhà máy

      Nhà máy điện sinh khối KCP - Phú Yên khởi công xây dựng tại huyện miền núi Sơn Hòa (tỉnh Phú Yên) từ năm 2015, sau khi Nhà máy đường KCP của Công ty được nâng công suất ép lên 8.000 tấn mía cây/ngày.

      Do lượng bã mía tồn dư lớn nếu xử lý tốt sẽ tạo ra nguồn nhiệt rất lớn. Do đó, Công ty TNHH Công nghiệp KCP quyết tâm hình thành nhà máy điện sinh khối có tổng sông suất 60 MW với kinh phí đầu tư gần 1.300 tỷ đồng.

      Đến nay, Nhà máy đã hoàn thành giai đoạn 1, công suất 30 MW với sản lượng điện hàng năm đạt hơn 70 triệu kWh.

      Hiện nay, Công ty TNHH Công nghiệp KCP Việt Nam tiếp tục triển khai giai đoạn 2, khi đó công suất nhà máy chế biến mía đường nâng lên 10.000 tấn mía cây/ngày thì công suất nhà máy điện sinh khối sẽ đạt như thiết kế là 60 MW.

      So với nguồn nhiệt điện và thủy điện, điện sinh khối được xem là thân thiện với môi trường, đồng thời giải quyết được nhiều bài toán kinh tế khác.

      Theo ông K.V.S.R Subbaiah - Tổng giám đốc Công ty TNHH Công nghiệp KCP Việt Nam: “Khi Nhà máy đi vào hoạt động sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của tỉnh nhà, tăng nguồn thu cho Công ty và tăng thu nhập cho người trồng mía. Trong thời gian tới, Công ty cũng sẽ thúc đẩy việc triển khai nhà máy chế biến cồn và phân vi sinh từ các phụ phẩm trong quá trình sản xuất đường”.

    • Điện gió vẫn ì ạch

      Dự án nhiều, triển khai ít

      Theo Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia, đến năm 2020, công suất điện gió Việt Nam đạt 800 MW, đến năm 2030 đạt 6.000 MW. Thế nhưng hiện nay cả nước mới chỉ có 4 nhà máy điện gió với tổng công suất khoảng 160 MW.

      Theo ông Bùi Văn Thịnh, Chủ tịch Hiệp hội Điện gió tỉnh Bình Thuận, ngoài tỉnh Bình Thuận và Bạc Liêu đã sản xuất điện gió, các tỉnh như Ninh Thuận, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bình Định… đều đã có nhà đầu tư đăng ký, được cấp phép, thậm chí khởi công dự án, nhưng đến nay chưa có dự án điện gió nào đi vào hoạt động.

      Riêng tại Bình Thuận có 19 dự án điện gió nhưng mới chỉ có 3 dự án đi vào hoạt động, phát điện lên lưới, gồm: Giai đoạn 1 của dự án Phong điện 1 - Bình Thuận (công suất 30 MW), điện gió Phú Lạc giai đoạn 1 (24 MW) và dự án điện gió Phú Quý (6 MW); 2 dự án đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư nhưng chưa thi công, các dự án còn lại mới dừng lại ở việc đo gió và khảo sát lập hồ sơ dự án đầu tư.

      Dự án Nhà máy điện gió Thuận Nhiên Phong của Công ty CP Năng lượng tái tạo châu Á tại xã Hòa Thắng (huyện Bắc Bình) và dự án Nhà máy điện gió Phước Thể của Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Đầu tư và Phát triển năng lượng sạch châu Á tại xã Phước Thể (huyện Tuy Phong) dù đã được UBND tỉnh Bình Thuận cấp giấy chứng nhận đầu tư từ năm 2011, nhưng đến nay vẫn chưa thể khởi công do vướng mắc trong đền bù giải tỏa và cho thuê đất.

      Trong khi đó, đối với 14 dự án điện gió đang tiến hành khảo sát, nghiên cứu, trình hồ sơ cấp giấy chứng nhận đầu tư, tỉnh Bình Thuận đang đề nghị Sở KH-ĐT tham mưu thu hồi chủ trương xây dựng 6 dự án vì đến nay chủ đầu tư không nộp hồ sơ theo quy định. Những dự án chậm triển khai còn lại do vướng mắc liên quan đến chồng lấn với quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng quặng titan do Chính phủ ban hành.

      Tiếp tục gỡ khó

      Tại cuộc họp nghe báo cáo tình hình thực hiện các dự án điện gió trên địa bàn mới đây, lãnh đạo UBND tỉnh Bình Thuận cho rằng, tiến độ triển khai đầu tư của các dự án điện gió còn rất chậm. Ông Phạm Văn Nam, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận, cho biết nguyên nhân là do các chủ đầu tư chưa thật sự tích cực trong công tác chuẩn bị và triển khai đầu tư, chậm hoàn chỉnh các hồ sơ thủ tục đầu tư, triển khai công tác bồi thường thiệt hại…

      Một nguyên nhân khác, theo ông Bùi Văn Thịnh, Chủ tịch Hiệp hội Điện gió Bình Thuận, mặc dù giá mua điện gió đã được Chính phủ ưu tiên trợ giá (với 7,8cent/kWh, tương đương khoảng 1.600 đồng/kWh), nhưng còn rất thấp. Từ việc giá điện gió thấp, tính khả thi của các dự án khai thác nguồn năng lượng sạch này lại không cao, nên các nhà đầu tư gặp khó khăn khi vay vốn để triển khai dự án.

      Theo các nhà đầu tư, để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc đối với các dự án điện gió, trước mắt Bộ Công Thương cần kiến nghị Chính phủ xem xét tăng giá mua điện gió từ mức 7,8 cent/kWh lên mức 12 cent/kWh vào năm 2020, nhằm thu hút các nhà đầu tư và các tổ chức tín dụng cho vay. Ngoài ra, cần có chính sách để các nhà đầu tư được tiếp cận và vay vốn từ các nguồn vốn vay ưu đãi, lãi suất thấp để phát triển điện gió. Đối với các dự án điện gió nằm trong vùng dự trữ khoáng sản titan trong tầng cát đỏ, kiến nghị Chính phủ có chủ trương ưu tiên cho các dự án điện được thực hiện trước.

    • EVN sẽ hỗ trợ tối đa cho Bình Phước phát triển điện từ năng lượng mặt trời

      Vừa qua, đoàn công tác của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) do Phó Tổng giám đốc EVN Đinh Quang Tri làm trưởng đoàn đã có buổi làm việc với UBND tỉnh Bình Phước về đề xuất các địa điểm dự kiến nghiên cứu, phát triển các dự án điện từ năng lượng mặt trời (NLMT) trên địa bàn tỉnh. Tiếp và làm việc với Đoàn có Phó Chủ tịch UBND tỉnh Huỳnh Anh Minh. 

      Dự án điện từ NLMT hiện đang phát triển ở nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước phát triển. Lợi thế của loại năng lượng này là lắp đặt nhanh. Diện tích dưới các tấm pin NLMT còn có thể tận dụng xây dựng hạ tầng để sản xuất nông nghiệp công nghệ cao.

      Tuy nhiên, điều khó khăn nhất hiện nay của các dự án này là vốn đầu tư lớn, từ 1 đến 1,2 triệu USD/MW, để sản xuất ra 1 MW cần diện tích từ 1,5 - 2 ha đất và việc kết nối với điện lưới quốc gia phụ thuộc vào nhu cầu của từng địa phương.

      Ở Việt Nam, Chính phủ yêu cầu đến năm 2030 phải sản xuất được 12.000 MW điện từ NLMT với diện tích khoảng 1.790 ha đất. Trên cơ sở đó, EVN sẽ đầu tư 1 đến 2 dự án ở mỗi tỉnh để kết nối điện lưới 220 kV.

      Theo khảo sát của Ban Quản lý dự án Thủy điện 6 (EVN), xác định trên địa bàn Bình Phước có 3 vị trí có thể phát triển dự án điện từ NLMT, đó là: Xã Lộc Thịnh, Lộc Ninh với diện tích khoảng 200 ha, công suất dự kiến 130 MW; xã Lộc Thạnh, Lộc Ninh khoảng 450 ha, công suất dự kiến 350 MW; xã Tân Thành, Bù Đốp khoảng 300 ha với công suất dự kiến 200 MW.

      Tại buổi làm việc, ông Đinh Quang Tri cho biết: Bình Phước có tiềm năng lớn để phát triển điện NLMT. Hiện nay, EVN có thể huy động vốn được khoảng 1 tỷ USD để đầu tư phát triển nguồn năng lượng này. Tuy nhiên, vấn đề khó khăn hiện nay là chưa có đất phù hợp để triển khai dự án. Ông Tri kiến nghị tỉnh Bình Phước xem xét để EVN đầu tư phát triển dự án tại tỉnh, đồng thời cho biết EVN sẽ hỗ trợ tối đa cho tỉnh về phát triển dự án này.

      Phát biểu tại buổi làm việc, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Huỳnh Anh Minh khẳng định phát triển điện từ NLMT kết hợp phát triển nông nghiệp công nghệ cao đang là chủ trương lớn của tỉnh. Phó Chủ tịch Huỳnh Anh Minh  yêu cầu các sở ngành tham mưu UBND tỉnh thành lập đoàn công tác phối hợp với EVN và các địa phương tiến hành khảo sát lại các vị trí đất phù hợp để phát triển dự án. Trên cơ sở đó, UBND tỉnh sẽ tham mưu Thường trực Tỉnh ủy và UBND tỉnh xem xét cho chủ trương đầu tư.

    • Hơn 1.200 tỷ đồng xây Nhà máy điện mặt trời lớn nhất Tây Nguyên

      Dự án có công suất thiết kế là 49 MW tại địa bàn xã Ia Tơi, huyện Ia H’Drai, tỉnh Kon Tum (thuộc hạ lưu đập bờ phải của công trình Thủy điện Sê San 4 đang vận hành).

      Đây là dự án thuộc nhóm B, do Tập đoàn Điện lực Việt Nam là chủ đầu tư xây dựng và vận hành, khi khánh thành sẽ là nhà máy điện mặt trời lớn nhất khu vực Tây Nguyên (toàn bộ dự án nằm trên diện tích khu đất rộng gần 80 ha).

      Dự án lựa chọn công nghệ quang điện SPV chuyển bức xạ mặt trời  trực tiếp thành điện năng qua các tấm pin năng lượng mặt trời. Các tấm pin mặt trời sử dụng công nghệ pin silic đa tinh thể, kích thước 4 x 10 m, công suất mỗi tấm pin là 300 W.

      Theo kế hoạch, Dự án sẽ chính thức được thi công xây lắp vào đầu năm 2018 và khánh thành cuối năm 2018 hòa lưới điện quốc gia. Việc đầu tư Dự án này góp phần bổ sung nguồn năng lượng sạch, tăng nguồn thu cho đất nước và địa phương. 

    • Tỉnh Khánh Hòa thông qua chủ trương đầu tư dự án điện mặt trời Điện lực miền Trung

      UBND tỉnh Khánh Hòa và các sở, ban, ngành địa phương họp thống nhất chủ trương đầu tư Dự án Điện mặt trời Điện lực miền Trung - Ảnh: CTV

      Theo đó, Thường trực UBND tỉnh thống nhất chủ trương cho Tổng công ty Điện lực miền Trung (chủ đầu tư) nghiên cứu, đề xuất thực hiện Dự án Nhà máy Điện mặt trời tại thôn Thủy Ba và thôn Tân An, xã Cam An Bắc, huyện Cam Lâm với quy mô, tiến độ triển khai thực hiện như Chủ đầu tư đề nghị.

      Cụ thể, Dự án sẽ được triển khai trên diện tích khoảng 70 ha, công suất 50 MW, dự kiến truyền tải công suất lên hệ thống điện Quốc gia qua đường dây 110 kV khoảng 12 km, điểm đấu nối dự kiến là thanh cái C12 của TBA 110 kV Cam Ranh (E28).

      Đồng thời, Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa yêu cầu chủ đầu tư lưu ý thực hiện các kiến nghị của các Sở, ngành, địa phương về công nghệ, thiết bị, bảo vệ môi trường,... trong quá trình triển khai Dự án để đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất.

      Trên cơ sở thống nhất của UBND tỉnh, Ban Quản lý dự án Điện nông thôn miền Trung (đơn vị quản lý Dự án) hoàn thiện hồ sơ xin cấp chứng nhận đầu tư để trình UBND tỉnh Khánh Hoà phê duyệt, đồng thời hoàn thiện Báo cáo phương án đầu tư để trình cấp thẩm quyền xem xét làm cơ sở để triển khai các bước tiếp theo.

      Dự kiến, Dự án Nhà máy Điện mặt trời Điện lực miền Trung sẽ khởi công cuối năm 2017 và hoàn thành vào cuối năm 2018, kịp thời bổ sung nguồn điện cho khu vực.

       

       

    • Xu hướng toàn cầu về giá điện mặt trời và giới thiệu cơ chế đấu giá

      Việt Nam đặt mục tiêu có 12 GW điện mặt trời vào năm 2030. Ảnh: EVNEIC

      Ông Franz Gerner - Điều phối viên lĩnh vực năng lượng của World Bank cho biết, World Bank cam kết hỗ trợ phát triển điện mặt trời tại Việt Nam bao gồm hoạch định chiến lược phát triển; triển khai xây dựng điện mặt trời trên các mái nhà; đào tạo đội ngũ cán bộ, chuyên gia năng lượng và tìm kiếm nguồn tài chính triển khai chương trình,...

      Theo các chuyên gia, những thách thức lớn nhất đối với phát triển điện mặt trời tại Việt Nam là biểu giá hiện hành chưa hấp dẫn các nhà đầu tư, suất đầu tư điện mặt trời còn rất cao, Chính phủ chưa ban hành giá bán năng lượng điện mặt trời,... Mặt khác, nhà đầu tư chưa tiếp cận được nguồn vốn hỗ trợ mà phải dùng vốn trong nước, phần lớn các thiết bị đều nhập khẩu nên giá bán còn cao.

      Tại Hội thảo, các chuyên gia của World Bank và IRENA cũng đề xuất phương pháp khảo sát năng lượng mặt trời và lập bản đồ điện mặt trời mới cho Việt Nam; đồng thời, giới thiệu xu hướng giá điện mặt trời trên thế giới, giá điện mặt trời tại các quốc gia đang phát triển, cơ chế đấu giá điện mặt trời và cách triển khai, cũng như kinh nghiệm thực tế từ một số quốc gia tiêu biểu.

      Tham dự Hội thảo, ông Đinh Quang Tri - Phó Tổng giám đốc Tập đoàn đánh giá cao một số giải pháp mà các chuyên gia World Bank đưa ra và cho biết những tư vấn này rất hữu ích đối với tình hình thực tế của EVN.

      Cũng theo Phó Tổng giám đốc Đinh Quang Tri, EVN mong muốn World Bank sẽ tiếp tục đồng hành, hỗ trợ Tập đoàn để huy động đủ nguồn lực tài chính cho phát triển điện mặt trời - nguồn năng lượng sạch, bền vững theo mục tiêu Chính phủ Việt Nam đã đề ra.

      Theo Chiến lược phát triển Năng lượng tái tạo quốc gia, tới 2030, Việt Nam sẽ có 12 GW điện mặt trời.

    • Biến “đặc sản gió” thành điện

      Khẩn trương thi công Nhà máy điện gió Hướng Linh 2

      “Thủ phủ” điện gió

      Từ ngàn năm nay, con người đã biết sử dụng năng lượng gió để phục vụ cho hoạt động sản xuất và đời sống. Ấy vậy mà ở vùng đất Hướng Linh này, gió trời chỉ mang lại cảnh khắc nghiệt. Người ta mỗi khi nhắc đến chỉ dè bỉu, xem như là một tai họa trời giáng xuống để bắt người dân bao đời phải chịu đựng cảnh nghiệp chướng. 

      Anh Hồ Văn Ngại, Phó Chủ tịch UBND xã Hướng Linh, nói: “Hướng Linh có 437 hộ (trên 2.300 nhân khẩu), dân chủ yếu làm nông nghiệp và trồng rừng. Ở đây quanh năm chỉ có mỗi gió là “đặc sản”. Mùa hè gió thổi nóng hừng hực, mùa đông lạnh, khô hanh chẳng có cây cối nào phát triển được. Trồng cây gì cũng chậm phát triển, nên việc làm ăn của bà con hầu như gặp rất nhiều khó khăn.”

      Quảng Trị là một trong những tỉnh được Bộ Công Thương phê duyệt quy hoạch phát triển điện gió giai đoạn 2020, tầm nhìn đến 2030. Dự án điện gió được UBND tỉnh này giao lại cho Tổng Công ty cổ phần Tân Hoàn Cầu, theo thẩm định và tham mưu của Sở Công Thương cùng Sở Kế hoạch và Đầu tư Quảng Trị. Trong đó bao gồm cả 2 dự án: Nhà máy điện gió Hướng Linh 2, tổng vốn đầu tư lên đến 1.420 tỷ đồng, được UBND tỉnh Quảng Trị phê duyệt vào ngày 29/7/2015; Nhà máy điện gió Hướng Linh 1, với tổng vốn đầu tư 1.660 tỷ đồng (được phê duyệt ngày 1/12/2015).

      Ông Quốc Hồ Hiệp Nghĩa, Phó giám đốc Sở Công Thương Quảng Trị, cho biết: “Quy mô của 2 nhà máy điện gió Hướng Linh 1 (thôn Xa Bai, xã Hướng Linh) và Hướng Linh 2 (thôn Hoong Cóc, xã Hướng Linh) đều có tổng công suất 30 MW/nhà máy; được đầu tư mỗi nhà máy 15 tuabin gió (theo công nghệ của Cộng hòa Liên bang Đức); diện tích đất sử dụng 12 ha/nhà máy. Dự án khi đưa vào hoạt động hứa hẹn sẽ đáp ứng nhu cầu sử dụng điện năng của nhân dân trên địa bàn tỉnh, góp phần giải quyết việc làm, phát triển kinh tế - xã hội của huyện Hướng Hóa cũng như toàn tỉnh Quảng Trị”.

      Ông Nguyễn Trung Thành, Phó giám đốc Công ty Tân Hoàn Cầu, cho biết thêm: “Từ trước đến nay, sản lượng gió ở Hướng Linh rất lớn, từ 6,5 - 7 m/s, nhưng chưa ai sử dụng để làm gì. Vì thế, khi tiến hành xây dựng 2 nhà máy điện gió, chúng tôi hy vọng sẽ tận dụng được tối đa tiềm năng này, biến nơi đây thành “thủ phủ” điện gió trong tương lai. Qua đó sẽ đầu tư thêm nhiều cơ sở hạ tầng để phục vụ cho Công ty và cả người dân, đồng thời góp phần giải quyết việc làm, thúc đẩy phát triển kinh tế trong vùng”.

      Tiềm năng mới đầy triển vọng

      Đến nay, các hạng mục phụ trợ, đường dây 22 kV cấp điện phục vụ thi công, nhà điều hành tạm thời của Nhà máy điện gió Hướng Linh 1 đã hoàn thành. Trong thời gian tới, các hạng mục chính của Nhà máy điện gió Hướng Linh 1 như: Xây dựng tuabin và đường dây vận hành, đường dây 110 kV đấu nối đường dây 22 kV, trạm nâng áp 0,69/22 kV, trạm nâng áp 22/110 kV, thiết bị nhà máy, thiết bị tuabin gió... sẽ được đồng loạt triển khai. Nhà máy điện gió Hướng Linh 2 đến nay cũng đã cơ bản hoàn thành các hạng mục quan trọng nhất, đảm bảo được tiến độ đề ra.

      Ông Nguyễn Trung Thành cho hay: “Dự kiến, trong tương lai chúng tôi sẽ có phương án nâng cấp công suất 2 nhà máy điện gió này từ 30 MW lên thành 110 MW để tận dụng được tối đa sức gió và phát huy hết khả năng thiết kế của nhà máy”.

      Ưu thế của việc phát triển điện năng từ gió sẽ giải quyết được những tồn tại mà thủy điện hay nhiệt điện gặp phải; giá thành của điện gió cũng không chênh lệch là mấy so với các nguồn điện khác; hơn nữa, điện gió là một nguồn năng lượng sạch, không ảnh hưởng đến môi trường, thân thiện với con người. Việc phát triển năng lượng điện gió sẽ đem lại lợi ích hết sức quan trọng đối với tỉnh Quảng Trị.

      Sau khi triển khai dự án điện tại xã Hướng Linh, nhận thấy tiềm năng còn nhiều nên UBND tỉnh Quảng Trị cũng đã ra văn bản đồng ý cho Tổng Công ty cổ phần Việt Ren (trụ sở tại thành phố Đông Hà) đầu tư xây dựng Nhà máy điện gió Hướng Phùng 2 với công suất 20 MW (có 10 tuabin gió), tổng vốn đầu tư hơn 1.000 tỷ đồng. Việc “thuần” gió trời để sinh điện tại mảnh đất mà gió là “đặc sản” là một chủ trương đúng đắn, phù hợp với xu thế phát triển trong tương lai.

    • DHD được giao nghiên cứu Dự án điện mặt trời ở hồ thủy điện Đa Mi

      Nhà máy điện mặt trời nổi có quy mô công suất 47,5 MWp, với tổng mức đầu tư khoảng hơn 1.500 tỷ đồng, dự kiến đưa vào vận hành năm 2019, điện năng sản xuất bình quân dự kiến hơn 69 triệu kWh/năm đầu tiên.

      Đây là dự án nguồn điện độc lập chưa có tên trong danh mục nguồn điện của Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020 có xét đến năm 2030. Do vậy, UBND tỉnh Bình Thuận đề nghị Tổng cục Năng lượng - Bộ Công Thương thẩm định và phê duyệt điều chỉnh bổ sung theo đúng quy định hiện hành.

      Dự án điện mặt trời nổi nằm trên địa bàn xã La Ngâu, huyện Tánh Linh; xã Đa Mi, La Dạ, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Diện tích đất sử dụng cho Dự án, gồm phần trên mặt hồ khoảng gần 57 ha (lắp đặt panel mặt trời) và phần trên mặt đất khoảng gần 67 ha (xây dựng trạm biến áp, inverter và đường dây tải điện...).

      Công ty Cổ phần Thủy điện Đa Nhim - Hàm Thuận - Đa Mi thuộc Tổng công ty Phát điện 1 (Tập đoàn Điện lực Việt Nam). Hiện, Công ty quản lý, vận hành 4 nhà máy thủy điện gồm: Đa Nhim, Hàm Thuận, Đa Mi, Sông Pha với tổng công suất 642,5 MW, điện lượng bình quân trên 2,5 tỷ kWh/năm. Đây là đơn vị có nhiều kinh nghiệm trong công tác quản lý, vận hành, sửa chữa, đầu tư xây dựng các dự án nguồn điện.

    • Ninh Thuận: Cơ hội vàng để phát triển năng lượng sạch

      Tiềm năng lớn

      Theo khảo sát của Ngân hàng thế giới (WB), toàn tỉnh Ninh Thuận hiện có 14 vùng gió tiềm năng, trải trên phạm vi khoảng 8.000 ha, tập trung chủ yếu ở 3 huyện: Ninh Phước, Thuận Nam và Thuận Bắc. Đặc biệt, Ninh Thuận là địa phương hầu như không có bão; lượng gió thổi đều trong suốt 10 tháng với tốc độ từ 6,4-9,6 m/s, bảo đảm ổn định cho tua-bin gió phát điện.

      Cũng theo khảo sát của WB và nhiều nghiên cứu khác, ngoài gió, Ninh Thuận còn có điều kiện tiếp nhận hàng năm một lượng lớn bức xạ mặt trời với tổng số giờ nắng trung bình ở là 2837,8 giờ/năm cao nhất trong cả nước, phân bố tương đối điều hòa quanh năm. Tổng diện tích khu vực có tiềm năng điện mặt trời kỹ thuật là 79.640 ha, chiếm 23,7% diện tích toàn tỉnh. Với giả thuyết mật độ bố trí lắp đặt tấm pin mặt trời là 1MW/2ha thì tổng lượng công suất này có thể đạt 39.820 MW. Còn theo quy hoạch được phê duyệt, vùng phát triển điện mặt trời có quy mô công nghiệp của tỉnh ước đạt khoảng 5.960 MW, tương ứng với diện tích chiếm đất là 11.920 ha.

      Cột điện gió tại Nhà máy Điện gió Phú Lạc

      Nhiều chuyên gia cho rằng, với tiềm năng to lớn về nắng, gió và việc dừng dự án điện hạt nhân mới đây, sẽ là cơ hội tốt cho Ninh Thuận đẩy mạnh thu hút đầu tư phát triển các dự án điện năng lượng tái tạo, trở thành trung tâm năng lượng sạch của cả nước, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

      Ông Phạm Văn Hậu - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận - cho biết: Từ năm 2009 đến nay đã có nhiều DN trong và ngoài nước đến khảo sát tìm cơ hội đầu tư. Địa phương cũng đã chấp thuận chủ trương hàng chục dự án nhưng đến nay mới có 1 nhà máy 24 MW chính thức hoạt động và thêm 2 dự án khác (37,6 MW + 90 MW) khởi công nửa cuối năm 2016.

      Cơ hội phát triển kinh tế

      Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, Chủ tịch UBND huyện Bác Ái - ông Mẫu Thái Phương cho biết, là một huyện miền núi nghèo với 95% đồng bào dân tộc, kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào nông nghiệp và chăn nuôi gia súc nên cuộc sống của người dân rất khó khăn. “Đặc sản” ở đây chỉ có nắng và gió, nếu có dự án đầu tư phát triển điện năng lượng tái tạo sẽ tạo cơ hội cho địa phương phát triển, từng bước xóa đói, giảm nghèo.

      Để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016 - 2020, Ninh Thuận đã xác định năng lượng tái tạo, kinh tế biển, du lịch sẽ là những lĩnh vực thế mạnh, ưu tiên thu hút đầu tư của địa phương. Riêng đối với năng lượng tái tạo, Ninh Thuận sẽ ưu tiên kêu gọi đầu tư các dự án phong điện, điện mặt trời và các ngành công nghiệp, dịch vụ phụ trợ như chế tạo phụ tùng ngành điện gió - mặt trời với mong muốn đến năm 2020, nhóm ngành năng lượng đóng góp 11% GDP của tỉnh và giải quyết 5 - 8% nhu cầu năng lượng quốc gia. Đồng thời là đòn bẩy góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương cũng như thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

      Phát triển năng lượng tái tạo là lựa chọn đúng đắn của Ninh Thuận, tuy nhiên để thúc đẩy nhanh tiến độ các dự án, địa phương mong muốn nhà nước sớm ban hành cơ chế, chính sách tháo nút thắt về cơ chế giá bán điện.
    • Năng lượng mặt trời – Hướng phát triển mới tại Việt Nam

      Theo Hiệp hội Năng lượng sạch Việt Nam, nước ta là một trong những quốc gia có ánh nắng mặt trời nhiều nhất trong biểu đồ bức xạ mặt trời thế giới.

      Tại các tỉnh Tây Nguyên và Nam Trung Bộ, số giờ nắng đạt từ 2.000 - 2.600 giờ/năm. Bức xạ mặt trời trung bình 150 kcal/m2, chiếm khoảng 2.000-5.000 giờ/năm.

      Tuy nhiên, theo TS. Nguyễn Huy Hoạch (Hiệp hội Năng lượng sạch Việt Nam), dù tiềm năng rất lớn, nhưng việc khai thác nguồn năng lượng này ở Việt Nam còn chưa đáng kể. Hầu hết các dự án điện mặt trời chỉ ở quy mô nhỏ.

      Dự án điện mặt trời được nối lưới đầu tiên là Nhà máy quang năng An Hội (Côn Đảo, Bà Rịa - Vũng Tàu). Dự án được triển khai từ giữa tháng 3/2014 và hoàn thành việc xây dựng lắp đặt và đấu nối vào lưới điện của Điện lực Côn Đảo vào đầu tháng 12/2014 với công suất 36 kWp, điện lượng hơn 50 MWh.

      Các tấm panel thu năng lượng mặt trời đã được sử dụng ở nhiều hòn đảo của nước ta

      Hiệp hội Năng lượng sạch Việt Nam cũng cho biết đến nay, dự án điện mặt trời Quảng Ngãi nối lưới là dự án đầu tiên có quy mô tương đối lớn đã cơ bản hoàn thành xây dựng.

      Tuy nhiên, trong dài hạn chúng ta cần phải có chiến lược và giải pháp tổng thể để thúc đẩy mạnh hơn nữa việc khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn năng lượng sạch này tại Việt Nam.

      Ngày 19/8/2016, Văn phòng Chính phủ thông báo ý kiến kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại cuộc họp Thường trực Chính phủ về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam. Thủ tướng Chính phủ đồng ý với đề xuất của Bộ Công Thương về việc ban hành cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án phát triển điện mặt trời tại Việt nam.

      Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đã giao cho các bộ ngành hữu quan xây dựng cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện mặt trời như biểu giá điện kèm các ưu đãi về thuế.

      Trong Quy hoạch điện VII (điều chỉnh) cũng nêu rõ yêu cầu đẩy nhanh tiến độ các dự án nguồn điện sản xuất từ năng lượng tái tạo, trong đó có năng lượng mặt trời bao gồm cả nguồn năng lượng tập trung lắp đặt trên mặt đất và các nguồn riêng lẻ lắp đặt trên nóc nhà.

      Mục tiêu nhằm góp phần nâng công suất nguồn điện mặt trời từ mức không đáng kể như hiện nay lên khoảng 850 MW vào năm 2020, khoảng 4.000 MW vào năm 2025 và khoảng 12.000 MW đến năm 2030.

      Như vậy, theo lộ trình này, từ nay đến năm 2020, mỗi năm chúng ta phải xây dựng các dự án điện mặt trời với công suất hơn 200 MW; từ năm 2020 - 2025, mỗi năm phải lắp đặt hơn 600 MW và 5 năm tiếp theo, mỗi năm phải lắp đặt 1.600 MW mới đạt kế hoạch đề ra.

      Hiện nay cả nước có khoảng 30 nhà đầu tư bắt đầu xúc tiến lập các dự án điện mặt trời có công suất từ 20 đến trên 300 MW tại một số địa phương, tập trung chủ yếu ở khu vực miền Trung. Trong đó đáng chú ý là 2 dự án của Công ty Đầu tư và Xây dựng Thiên Tân (tại tỉnh Quảng Ngãi và Ninh Thuận) và dự án Tuy Phong do Công ty TNHH DooSung Vina (Hàn Quốc) đầu tư với quy mô 66 triệu USD, công suất 30 MW tại tỉnh Bình Thuận.

      Tập đoàn Điện lực Việt Nam cũng đang dự định triển khai nghiên cứu phát triển 2 dự án trên đất liền tại thủy điện Trị An (tỉnh Đồng Nai) và dự án nổi trên mặt nước tại hồ thủy điện Đa Mi (tỉnh Bình Thuận).

      Ngoài ra EVN cũng vừa đề xuất với tỉnh Ninh Thuận về việc đầu tư dự án điện mặt trời với  tổng vốn đầu tư khoảng 8.000 tỷ đồng, công suất 200 MW trên diện tích 400 ha tại xã Phước Thái, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Dự kiến dự án này sẽ được tiến hành khởi công trong năm 2018.

      Tại hội thảo “Phát triển điện mặt trời tại Việt Nam - Cơ hội và thách thức” do Hiệp hội Năng lượng sạch Việt Nam tổ chức tại Hà Nội ngày vừa qua, nhiều ý kiến chuyên gia cho rằng thách thức lớn nhất đối với việc phát triển điện mặt trời tại Việt Nam là biểu giá điện hiện hành chưa hấp dẫn các nhà đầu tư; suất đầu tư hiện nay còn rất cao trong khi Chính phủ chưa ban hành giá bán điện mặt trời. Cùng với đó nhà đầu tư chưa tiếp cận được nguồn vốn từ quỹ hỗ trợ năng lượng tái tạo mà phải dùng nguồn vốn trong nước, đa phần các thiết bị đều phải nhập khẩu vì vậy giá thành của một đơn vị sản phẩm cao.

      Ông Diệp Bảo Cánh (Chủ tịch HĐQT Công ty CP Năng lượng Mặt trời Đỏ) cho rằng thị trường điện mặt trời tại Việt Nam đang rất hấp dẫn. Giá thiết bị điện mặt trời đang ngày càng rẻ (cách đây 5 năm, giá tấm pin điện mặt trời từ 3-4 USD/Wp thì đến nay chỉ còn khoảng 0,5 USD/Wp).

      Từ thực tế này ông Diệp Bảo Cánh kiến nghị ngoài đáp ứng về nguồn nhân lực, Nhà nước cũng cần sớm có bộ tiêu chuẩn kỹ thuật liên quan đến điện mặt trời đầy đủ hơn (ví dụ như tiêu chuẩn tấm pin, invester chuyển điện, giàn khung đỡ…) để giúp người tiêu dùng mua đúng sản phẩm chất lượng. Chính phủ cũng nên sớm ban hành giá mua điện lên lưới từ nguồn năng lượng mặt trời.

      Theo ông Lê Vĩnh Sơn (Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Sơn Hà), cấp thẩm quyền trước hết cần xây dựng và công bố quy hoạch phát triển điện mặt trời. Sau đó sớm công bố giá mua bán điện mặt trời hợp lý và cơ chế hòa lưới điện quốc gia; ban hành bộ tiêu chuẩn cho các thiết bị sử dụng và thực hiện thử nghiệm chất lượng để hạn chế lưu thông sản phẩm kém chất lượng, định hướng đúng cho người dân về hiệu quả sử dụng năng lượng mặt trời.

    • Đào tạo vận hành hệ thống điện khi kết nối với các nguồn năng lượng tái tạo

      Tham dự buổi đào tạo có Phó Tổng giám đốc EVN Nguyễn Tài Anh, đại diện Tập đoàn GE tại Việt Nam, chuyên gia đào tạo của GE và điều độ viên ở các đơn vị trực thuộc Tập đoàn.

      Chuyên gia đến từ Tập đoàn GE (Hoa Kỳ) đào tạo cho các học viên của Tập đoàn Điện lực Việt Nam - Ảnh Vũ Chang

      Phát biểu khai mạc tại buổi đào tạo, Phó Tổng giám đốc EVN Nguyễn Tài Anh cho biết: Thời gian qua, EVN đã đạt được những thành tựu to lớn trong việc đảm bảo cung ứng điện cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đặc biệt từ năm 2013, lần đầu tiên trong 60 năm lịch sử, hệ thống điện Việt Nam có 20% công suất dự phòng. Để đạt được mục tiêu này, EVN đã đặc biệt quan tâm trong công tác đầu tư xây dựng các dự án nguồn và lưới điện trên khắp cả nước cũng như kế hoạch phát triển điện khí hóa nông thôn.

      Tuy nhiên, để đảm bảo cung ứng điện cho phát triển kinh tế - xã hội và đời sống của nhân dân cũng như góp phần bảo vệ môi trường, EVN vẫn cần chú trọng công tác phát triển nguồn điện.

      Theo Quyết định 2068/QĐ/TTg ngày 25/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, tỷ lệ năng lượng tái tạo trong tổng tiêu thụ năng lượng sơ cấp vào năm 2020 khoảng 31%, năm 2030 khoảng 32,3% và tăng lên 44% vào năm 2050.

      “Để phù hợp với kế hoạch này, EVN đã và đang nghiên cứu tính khả thi và đầu tư vào năng lượng tái tạo, trong đó tập trung vào các dự án năng lượng gió và năng lượng mặt trời. Mục tiêu của EVN phấn đấu tăng tỷ lệ năng lượng tái tạo trong sản xuất điện năng, để giảm phụ thuộc vào nguồn nhiên liệu hóa thạch, giảm ô nhiễm môi trường cũng như giảm thiểu những tác động của biến đổi khí hậu, sự nóng lên trái đất. Khóa học này là một trong số các hoạt động mà EVN làm để chuẩn bị cho phát triển năng lượng tái tạo trong thời gian tới”, Phó Tổng giám đốc EVN Nguyễn Tài Anh nhấn mạnh.

      Lớp học sẽ diễn ra trong 3 ngày, từ 20 đến 22/12/2016. 

    • Cần có cơ chế khuyến khích phát triển điện mặt trời

      Việt Nam có tiềm năng lớn về năng lượng mặt trời (NLMT), song đến nay, các dự án ĐMT chưa phát triển mạnh, tỷ trọng trong tổng công suất hệ thống điện còn rất nhỏ. Để khuyến khích các nhà đầu tư (NĐT) tích cực bỏ vốn xây dựng dự án ĐMT, Chính phủ và các bộ, ngành cần chung tay, tháo gỡ mọi rào cản, vướng mắc.

      Chưa khai thác hết tiềm năng

      Nước ta là một trong những quốc gia có nắng nhiều nhất trong bản đồ bức xạ mặt trời thế giới. Ở các tỉnh Tây Nguyên, Nam Trung Bộ, số giờ nắng khá cao, đạt từ 2.000 đến 2.600 giờ/năm; bức xạ mặt trời trung bình 150 kcal/m2 chiếm khoảng 2.000 đến 5.000 giờ/năm, ước tính tiềm năng lý thuyết khoảng 43,9 tỷ tấn TOE (dầu quy đổi). Do lãnh thổ nước ta nằm trong vùng nhiệt đới, mật độ NLMT trung bình khoảng 4,3 kW giờ/m2/ngày và số ngày nắng trung bình khoảng 2.000 giờ/năm.

      Từ Đà Nẵng trở vào, mật độ năng lượng bức xạ trong khoảng 4,5 đến 5,5kW giờ/m2/ngày và số ngày nắng trung bình khoảng 2.200 đến 2.500 giờ/năm. Những năm trước, để phát triển nguồn ĐMT, đòi hỏi suất đầu tư khá lớn. Hiện nay trên thế giới, suất đầu tư ĐMT đã giảm, dao động từ 1.400 đến 1.800 USD/kW, tùy địa điểm và có xu hướng giảm dần. Thậm chí, một số nước sản xuất pin NLMT, suất đầu tư chỉ còn từ 1.100 đến 1.300 USD/kW. Một lợi thế lớn của ĐMT là các dự án xây dựng tại những nơi không sử dụng để canh tác, có thể kết hợp các trang trại điện gió với nhà máy ĐMT, hoặc trên các hồ thủy lợi, thủy điện, nhờ đó giảm chi phí đền bù, giải phóng mặt bằng, đường dây, đem lại hiệu quả cao.

      Kiểm tra việc vận hành các tấm pa-nen năng lượng mặt trời tại Nhà máy điện mặt trời Côn Đảo

      Thời gian qua, Chính phủ rất quan tâm, đề ra nhiều cơ chế, chính sách để phát triển nguồn năng lượng sạch này. Chính phủ giao các bộ, ngành liên quan xây dựng cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án ĐMT như biểu giá điện kèm các ưu đãi về thuế. Quy hoạch điện 7 (điều chỉnh) yêu cầu đẩy nhanh tiến độ các dự án nguồn điện sản xuất từ năng lượng tái tạo, trong đó có ĐMT, gồm cả nguồn tập trung lắp đặt trên mặt đất và các nguồn riêng lẻ lắp trên nóc nhà, nhằm đưa công suất nguồn ĐMT lên 850 MW vào năm 2020 và 4.000 MW vào năm 2025. Đến năm 2020, mỗi năm chúng ta cần xây dựng các dự án ĐMT với công suất 200 MW, từ năm 2020 đến 2025, mỗi năm phải lắp đặt hơn 600 MW và 5 năm tiếp theo, mỗi năm phải lắp đặt 1.600 MW mới đạt kế hoạch đề ra.

      Hiện các NĐT trong nước cũng đang bắt đầu nghiên cứu, đầu tư vào thị trường năng lượng sạch nhiều hơn. Tổng Công ty Điện lực miền trung ấp ủ dự án nhà máy ĐMT Điện lực miền trung công suất dự kiến 150 MW tại Cam Ranh (Khánh Hòa). Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) dự định nghiên cứu phát triển hai dự án ĐMT tại Nhà máy Thủy điện Trị An (Đồng Nai) và một dự án nổi trên mặt nước tại hồ Thủy điện Đa Mi (Bình Thuận). EVN cũng vừa đề xuất tỉnh Ninh Thuận về việc đầu tư dự án NLMT với công suất 200 MW trên diện tích 400 ha tại xã Phước Thái, huyện Ninh Phước, dự kiến tổng vốn đầu tư 8.000 tỷ đồng, khởi công năm 2018 và 2019 đi vào hoạt động.

      Đến thời điểm này, dự án ĐMT Quảng Ngãi nối lưới là dự án đầu tiên có quy mô tương đối lớn đã cơ bản hoàn thành xây dựng và chuẩn bị đưa vào vận hành. Dự án ĐMT nối lưới đầu tiên đi vào hoạt động là Nhà máy ĐMT Côn Đảo trong khuôn viên Nhà máy điện Côn Đảo, công suất 36 kW, được xây dựng tháng 3-2014, đấu nối lưới điện Côn Đảo tháng 12-2014, sản lượng điện hằng năm khoảng 50 MW giờ với tổng mức đầu tư 140 nghìn ơ-rô, do Chính phủ Tây Ban Nha tài trợ.

      Dù tiềm năng ĐMT rất lớn nhưng việc khai thác nguồn NLMT ở Việt Nam đến thời điểm này không đáng kể. Hầu hết các dự án ĐMT trên cả nước mới chỉ ở quy mô nhỏ và tập trung chủ yếu khai thác nhiệt năng từ NLMT như các ứng dụng ĐMT cho hộ gia đình và các trung tâm dịch vụ, hệ thống đun nước mặt trời, đèn điện và sấy. Trong đó công nghệ đun nước bằng NLMT được xem là có giá trị kinh tế và phổ biến hiện nay. Thách thức lớn nhất đối với phát triển ĐMT là biểu giá hiện hành chưa hấp dẫn các NĐT, suất đầu tư ĐMT còn rất cao và Chính phủ chưa ban hành giá bán năng lượng ĐMT. Mặt khác, NĐT chưa tiếp cận được nguồn vốn hỗ trợ mà phải dùng vốn trong nước, phần lớn các thiết bị đều nhập khẩu, cho nên giá bán còn cao.

      Các dự án ĐMT có độ tin cậy thấp với thời gian huy động hạn chế khi tham gia hệ thống điện có tỷ trọng nhiệt điện than lớn, đòi hỏi phải tăng nhu cầu công suất dự phòng nóng hỗ trợ khi bị mây che phủ làm giảm công suất phát. Với các dự án ĐMT phát triển chủ yếu ở miền trung và miền nam là những nơi tỷ trọng nhiệt điện than rất lớn, đơn vị cung cấp điện sẽ phải tính toán, bổ sung công suất dự phòng nóng phù hợp tỷ lệ thâm nhập của ĐMT. Dao động công suất phát của ĐMT do tác động của mây có thể rất lớn, dẫn đến những tác động không mong muốn trong hệ thống điện, như gây dao động cả điện áp và tần số, ảnh hưởng trực tiếp các hộ tiêu thụ nhạy cảm với thay đổi điện áp/tần số ở gần.

      Cần có cơ chế, chính sách hỗ trợ

      Các dự án ĐMT quy mô lớn thường được lắp đặt tại các vị trí xa trung tâm phụ tải, phần lớn không tận dụng được lưới điện ở địa phương. Do vậy, chi phí đầu tư đấu nối lớn, nhưng số giờ sử dụng công suất cực đại của ĐMT thấp, chỉ bằng khoảng một phần ba so với nhiệt điện truyền thống dẫn đến phí truyền tải/phân phối là khá lớn. TS Nguyễn Văn Hiến, nguyên Viện trưởng Năng lượng đánh giá, năng lượng tái tạo, trong đó có ĐMT, là nguồn năng lượng sạch, nhưng hệ số công suất thấp (chỉ 20 đến 30%, trong khi nhiệt điện than là 70 đến 80%); chi phí đầu tư lớn hơn nhiều so nguồn nhiệt điện than; phụ thuộc lớn vào điều kiện tự nhiên; khó khăn, phức tạp trong đấu nối; sử dụng quỹ đất rất lớn (1MW ĐMT cần diện tích 1,5 đến 2ha)…

      Để phát triển mạnh các dự án ĐMT, Hiệp hội Năng lượng sạch, các NĐT, chuyên gia kiến nghị Chính phủ cần quy định giá mua bán điện NLMT hợp lý, hài hòa lợi ích của chủ đầu tư - EVN với mục tiêu phát triển nguồn điện xanh. Giá mua bán ĐMT cần điều chỉnh linh hoạt theo nguyên tắc giảm dần khi suất đầu tư vào ĐMT giảm. Nghiên cứu bổ sung thêm các quy định về quản lý đối với việc mua bán chứng chỉ giảm phát thải hiệu ứng nhà kính (CERs) đối với dự án ĐMT. Bổ sung quy định, cơ chế nhằm khuyến khích phát triển sản xuất thiết bị ĐMT trong nước, để từng bước giảm giá bán ĐMT. Phần lớn các nguồn ĐMT chưa nằm trong quy hoạch của địa phương, chủ đầu tư phải mất nhiều thời gian hoàn thiện hồ sơ, thủ tục xin bổ sung quy hoạch. Khi có quy hoạch ĐMT cho từng địa phương, việc đăng ký đầu tư và triển khai xây dựng sẽ nhanh, chỉ cần ba đến sáu tháng là có thể hoàn thành lắp đặt nhà máy ĐMT. Vì vậy, Chính phủ cần sớm ban hành quy hoạch này.

      Ông Lê Vĩnh Sơn tại Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam (VPSF) kiến nghị, Chính phủ cần chỉ định bộ chuyên ngành xây dựng, ban hành bộ tiêu chuẩn cho các thiết bị sử dụng NLMT và thực hiện thử nghiệm chất lượng, hiệu suất các sản phẩm nhập khẩu, kinh doanh trong nước để hạn chế lưu thông sản phẩm kém chất lượng, định hướng đúng cho người dân về hiệu quả sử dụng NLMT. Sớm công bố giá mua bán điện NLMT hợp lý và cơ chế hòa lưới điện quốc gia cho các doanh nghiệp, hộ dân sản xuất và sử dụng NLMT. Ngoài ra, xem xét bổ sung cơ chế mua bán, quy đổi điện đối với các hộ dân lắp đặt thiết bị sử dụng NLMT có tích tụ dư thừa điện. Nghiên cứu, quy định và công bố chỉ số an toàn điện và chỉ tiêu năng lượng cho các công trình xây dựng (Chỉ số "xanh") với các tiêu chí cụ thể để khuyến khích sử dụng năng lượng sạch. Xây dựng chính sách hỗ trợ vay vốn cho các doanh nghiệp, hộ dân đầu tư sản xuất và sử dụng các phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng tái tạo.

      Tại cuộc họp Thường trực Chính phủ về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án ĐMT tại Việt Nam diễn ra tháng 8/2016, Thủ tướng Chính phủ đã thống nhất với đề xuất của Bộ Công thương về việc xem xét ban hành cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án ĐMT tại Việt Nam. Theo đó, cơ chế giá mua bán điện đối với các dự án ĐMT nối lưới sẽ quy định theo hướng giá mua bán điện tạm thời áp dụng thí điểm cho giai đoạn 2016 - 2018 đối với các dự án đã có trong quy hoạch được phê duyệt, các dự án thuộc khu vực có tiềm năng và điều kiện thuận lợi để phát triển.

      Bộ Công Thương chịu trách nhiệm rà soát, cập nhật giá thiết bị ĐMT đang có xu hướng tiếp tục giảm để đưa ra mức giá mua bán điện phù hợp, đồng thời nghiên cứu, bổ sung thêm quy định để từng bước triển khai thực hiện đấu thầu các dự án ĐMT theo hướng công khai, minh bạch và giảm giá bán điện của các dự án. Thứ trưởng Công Thương Hoàng Quốc Vượng cho biết, Bộ đã đề nghị Tổng cục Năng lượng đưa ra ba phương án về giá điện gió, ĐMT; lưu ý, thời gian áp dụng giá điện gió và ĐMT đối với các nhà máy vận hành trước ngày 31/12/2016 nhằm khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam quan tâm, đầu tư nhiều hơn vào lĩnh vực đầy tiềm năng này.

      Hiện có khoảng 30 nhà đầu tư trong nước và nước ngoài bắt đầu xúc tiến lập các dự án ĐMT công suất từ 20 MW đến hơn 300 MW, tập trung chủ yếu ở khu vực miền trung. Công ty cổ phần Đầu tư và xây dựng Thiên Tân đang đầu tư xây dựng hai dự án nhà máy ĐMT tại Quảng Ngãi và Ninh Thuận, nhà máy còn lại của Công ty TNHH DooSung Vina (Hàn Quốc) tại Bình Thuận, tổng mức đầu tư 66 triệu USD, công suất 30 MW. Một số NĐT nước ngoài như Hàn Quốc, Pháp, Ấn Độ,... cũng đăng ký đầu tư xây dựng các dự án ĐMT ở Thừa Thiên - Huế, Hà Tĩnh, Hậu Giang; một số NĐT của Đức, Thái-lan nghiên cứu khả năng đầu tư tại Quảng Trị, Bình Định.

      (Nguồn: Hiệp hội Năng lượng sạch Việt Nam - VCEA)

       

    • Huy động vốn phát triển điện mặt trời: Giải pháp nào?

      Tham dự Hội thảo có nhóm các chuyên gia cấp cao về năng lượng và tài chính của World Bank (WB - Ngân hàng Thế giới), đại diện Bộ Công Thương, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam...

      Về phía EVN có ông Đinh Quang Tri - Phó Tổng giám đốc EVN, đại diện các Ban chuyên môn của EVN.

      Tại Hội thảo, các chuyên gia của Ngân hàng Thế giới nhận định, những năm qua, tại Việt Nam đã có sự tăng trưởng ấn tượng trong lĩnh vực điện. Tuy nhiên, áp lực về tăng trưởng cũng khiến ngành Điện phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Đặc biệt, đối với chiến lược phát triển điện mặt trời, nhu cầu về vốn của EVN giai đoạn 2016-2020 lên tới 36 tỷ USD, nhằm phục vụ xây dựng nguồn điện và hệ thống lưới truyền tải. Đây là nguồn vốn rất lớn, trong khi thời gian huy động lại chỉ gói gọn trong 4-5 năm.

      Tại Hội thảo, đại diện EVN và các chuyên gia Ngân hàng Thế giới cũng trao đổi cụ thể về cấu trúc doanh nghiệp EVN, từ đó, đưa ra các phương án tối ưu để huy động tài chính cho phát triển điện mặt trời. Bên cạnh đó, các chuyên gia cũng đã chỉ ra những thách thức về tài chính mà ngành Điện sẽ phải đối mặt. Cụ thể, chi phí đầu tư công nghệ phát điện từ năng lượng mặt trời cao, nhưng giá bán điện lại phải có tính cạnh tranh khi so sánh với các nguồn năng lượng hóa thạch khác. Đồng thời, vốn đầu tư cần huy động quá lớn trong khi nguồn tài chính trong nước hạn chế sẽ khiến EVN phải huy động các nguồn lực nước ngoài, do đó, EVN phải đáp ứng được yêu cầu của các tổ chức này, cũng như phải đối mặt với rủi ro chênh lệch tỷ giá cao...

      Phó Tổng giám đốc EVN Đinh Quang Tri đánh giá cao một số giải pháp mà các chuyên gia WB đưa ra và cho biết, những tư vấn này rất hữu ích đối với tình hình thực tế của EVN.

      Ông Đinh Quang Tri bày tỏ hy vọng, thời gian tới, Ngân hàng Thế giới sẽ tiếp tục đồng hành, hỗ trợ EVN để huy động nguồn đủ nguồn lực tài chính để phát triển điện mặt trời- nguồn năng lượng sạch, bền vững theo mục tiêu Chính phủ Việt Nam đã đề ra.

    • UBND tỉnh Khánh Hòa chấp thuận địa điểm triển khai dự án Nhà máy Điện mặt trời Điện lực miền Trung

      Theo đó, UBND tỉnh Khánh Hòa thống nhất về chủ trương và địa điểm thực hiện Nhà máy Điện mặt trời Điện lực miền Trung tại khu vực thôn Thủy Ba và thôn Tân An, xã Cam An Bắc, huyện Cam Lâm với diện tích khoảng 70 ha, công suất 50 MW. Theo địa điểm mới, nhà máy dự kiến sẽ truyền tải công suất lên hệ thống điện quốc gia qua đường dây 110 kV khoảng 12 km, điểm đấu nối dự kiến là thanh cái C12 của TBA 110V Cam Ranh (E28).

      Với tiềm năng về cường độ bức xạ năng lượng mặt trời trung bình đo được là 5,34 kWh/m2/ngày và tương đối thuận lợi về mặt đấu nối, hòa lưới điện quốc gia, Khánh Hòa là một trong các tỉnh được các nhà đầu tư về ĐMT quan tâm đăng ký khảo sát, thực hiện dự án. Theo đó, tổng số dự án được khảo sát đến thời điểm hiện tại là 10 dự án với tổng công suất là 1.920 MW (TP Cam Ranh: 1.470 MW, Huyện Cam Lâm: 450 MW).

      Trên cơ sở thống nhất của UBND tỉnh, Ban Quản lý dự án Điện nông thôn miền Trung đã hoàn thiện hồ sơ xin cấp chứng nhận đầu tư để trình UBND tỉnh Khánh Hoà, đồng thời hoàn thiện Báo cáo phương án đầu tư để trình cấp thẩm quyền xem xét làm cơ sở để triển khai thực hiện các bước tiếp theo.

      Hiện nay, Chính phủ đã phê duyệt chiến lược phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 trong đó khuyến khích và ưu tiên đầu tư, phát triển năng lượng tái tạo, đồng thời quy định ưu đãi về thuế nhập khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp, ưu đãi về miễn, giảm tiền thuê đất, tiền sử dụng đất, thuế sử dụng đất.

      Chiến lược của Chính phủ cũng quy định bắt buột các đơn vị điện lực có trách nhiệm mua toàn bộ điện năng được sản xuất từ các nguồn năng lượng tái tạo và được ưu tiên đấu nối với lưới điện Quốc gia. Tuy nhiên, việc tính toán, đánh giá hiệu quả kinh tế, tài chính của các dự án vẫn ở mức tham khảo do Chính phủ vẫn đang xem xét, chưa phê duyệt chính thức giá bán điện đối với các dự án ĐMT hòa lưới Quốc gia.

    • Phát triển điện mặt trời: Tiềm năng đợi... cơ chế

      Những thách thức

      Về mặt quy hoạch đất, theo tính toán của các chuyên gia, để đầu tư 1 MW điện mặt trời cần tới 1- 1,5 ha đất sạch (điện gió là 2ha/1MW). Trong khi đó, các tỉnh miền Trung và miền Nam bị hạn chế về đất. Chúng ta không thể phá rừng, hay chuyển đổi đất nông nghiệp để làm dự án điện mặt trời. Đó là chưa kể đến những mâu thuẫn phát sinh trong quá trình thu hồi, đền bù, giải phóng mặt bằng.

      Bà Trần Thị Thu Trà- Chuyên viên Ban quản lý đầu tư, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN)- cho biết, khi công suất điện mặt trời lớn sẽ gặp không ít khó khăn về kỹ thuật. Điện mặt trời lên/xuống gần như tức thời, không ổn định, nên rất khó khăn cho việc vận hành hệ thống, phải luôn duy trì một lượng công suất dự phòng lớn để bù đắp sự thiếu hụt. Ngoài ra, khi nối lưới điện cần thêm một thiết bị inverter chuyển đổi từ điện một chiều sang điện hai chiều và ngược lại. Điều này có thể ảnh hưởng tới lưới điện và khách hàng sử dụng điện do tăng dòng ngắn mạch, dao động điện áp ảnh hưởng đến tuổi thọ thiết bị.

      Theo ông Nguyễn Trọng Oánh - Tổng giám đốc Công ty CP Đa Nhim - Hàm Thuận - Đa Mi, hầu hết các nhà đầu tư đều tính đến vấn đề lợi nhuận, nếu giá bán điện mặt trời cao, họ sẵn sàng đầu tư. Tuy nhiên, nếu để giá mua điện quá cao sẽ gây áp lực lên giá bán điện bình quân. Mặt khác, giá cao cũng ảnh hưởng tới sự cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước khi nguồn lực còn hạn chế so với các doanh nghiệp nước ngoài.

      Các địa phương cần rà soát, đánh giá đúng tiềm năng về điện mặt trời

      Giải pháp nào hiệu quả?

      Các chuyên gia đều thống nhất quan điểm, dù chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng công suất các nguồn điện quốc gia nhưng với lợi ích thiết thực thì sự đầu tư điện mặt trời là cần thiết. Vấn đề là tìm ra giải pháp thực hiện có hiệu quả để điện mặt trời phát triển đúng hướng, đảm bảo các mục tiêu đề ra.

      Về quy hoạch, trước hết, các cơ quan quản lý cần phối hợp với địa phương rà soát, đánh giá đúng tiềm năng về điện mặt trời, quy hoạch sử dụng đất dựa trên kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội của địa phương để xây dựng quy hoạch cụ thể, cũng như dự án thu hút đầu tư.

      Để tiết kiệm quỹ đất, cũng như tránh khó khăn về đền bù, giải phóng mặt bằng, ông Nguyễn Trọng Oánh đề xuất: Có thể tận dụng diện tích mặt các hồ thủy điện, thủy lợi để phát triển mặt trời nhưng với điều kiện các hồ đó không có dao động lớn về mực nước, không bị ảnh hưởng bởi gió, bão, lũ. Trong khi đó, một số ý kiến đề xuất phương án phối kết hợp với các dự án điện gió để gắn tấm Panel.

      Về cơ chế hỗ trợ, cần căn cứ đối tượng đầu tư để tính toán xây dựng cơ chế. Theo đó, đối với dự án quy mô lớn, sử dụng đất nhiều, chỉ hỗ trợ trong một thời gian nhất định, sau đó thực hiện theo cơ chế thị trường, để bảo đảm sự cạnh tranh công bằng cho các nhà đầu tư. Những dự án điện mặt trời nối lưới quy mô nhỏ do các hộ gia đình, doanh nghiệp đầu tư nên có chính sách riêng, bảo đảm thu hồi vốn đầu tư nhanh nhất và có lợi nhuận hợp lý.

      Nhiều ý kiến cho rằng, bên cạnh việc sớm ban hành các cơ chế chính sách về điện mặt trời, cần tăng cường công tác nghiên cứu phát triển công nghệ, giảm chi phí đầu tư; thẩm định năng lực của các nhà đầu tư để bảo đảm chất lượng, tiến độ dự án.

       

    • Phát triển điện mặt trời tại Việt Nam: Doanh nghiệp, địa phương nói gì?

      Ông Huỳnh Kim Lập - Chủ tịch HĐQT Công ty CP Đầu tư và Xây dựng Thiên Tân (Thiên Tân Group): Chờ cơ chế về giá điện mặt trời 

      Từ 5 - 6 năm trước, Thiên Tân Group đã tiến hành nghiên cứu và đưa ra định hướng đầu tư phát triển điện mặt trời tại Việt Nam. Đến nay, Thiên Tân Group đang triển khai 2 dự án điện mặt trời tại Ninh Thuận và Quảng Ngãi. 

      Cụ thể, Nhà máy điện mặt trời ở huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi là công trình đầu tiên trong chuỗi dự án năng lượng tái tạo của Thiên Tân Group tại Việt Nam, được khởi công vào tháng 8/2015. Nhà máy có công suất 19,2 MW, tổng vốn đầu tư gần 900 tỷ đồng. Đến nay, đã tiến hành san gạt xong mặt bằng và bắt đầu mua sắm trang thiết bị. Công ty đang chờ Nhà nước ban hành cơ chế về giá điện mặt trời, trên cơ sở đó, sẽ tiến hành lắp đặt và đưa Nhà máy vào vận hành.

      Thiên Tân Group cũng được UBND tỉnh Ninh Thuận chấp thuận đầu tư xây dựng Nhà máy điện mặt trời tại huyện Bác Ái công suất 1.000 MW, tổng vốn đầu tư gần 2 tỷ USD (khoảng hơn 40.000 tỷ đồng). Dự án này đã được đưa vào Quy hoạch điện VII và cũng đang chờ cơ chế giá bán điện mặt trời.

      Việc đầu tư điện mặt trời nối lưới còn khá mới mẻ đối với Việt Nam. Vì vậy, Nhà nước cần phải nghiên cứu, xem xét năng lực cụ thể của các chủ đầu tư, để các dự án điện mặt trời thực sự phát huy hiệu quả khi đi vào thực tế. 

      Mặt khác, Nhà nước cũng cần sớm ban hành cơ chế, chính sách về điện mặt trời, làm cơ sở để các nhà đầu tư đẩy nhanh tiến độ thi công, sớm đưa các dự án điện mặt trời vào hoạt động. 

      Ông Hồ Sơn Hùng - Phó Giám đốc Sở Công Thương Bình Thuận: Cần thận trọng khi chọn địa điểm 

      Bình Thuận rất ủng hộ chủ trương phát triển điện mặt trời. Tuy nhiên, quan điểm của Tỉnh là cần thận trọng trong việc lựa chọn địa điểm xây dựng nhà máy. Cụ thể, những địa điểm xây dựng các nhà máy điện mặt trời phải là những vùng đất khô cằn, sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả; không liên quan đến các loại rừng như rừng đặc dụng, rừng phòng hộ; không ảnh hưởng đến phát triển kinh tế và đời sống xã hội...

      Hiện UBND tỉnh Bình Thuận đã phê duyệt 2 dự án điện mặt trời nằm trên địa bàn huyện Tuy Phong, bổ sung vào Quy hoạch điện lực tỉnh. Đây là các dự án do nhà đầu tư đến từ Hàn Quốc và Liên doanh giữa Việt Nam - Malaysia triển khai thực hiện.

      Tuy nhiên, khó khăn hiện nay là chưa có các cơ chế, chính sách cụ thể về các dự án điện mặt trời như chính sách về thuế, phí, giá điện mặt trời nối lưới... nên tiến độ triển khai các dự án vẫn còn chậm. Hiện cả hai dự án đều đang ở giai đoạn nghiên cứu, khảo sát, chưa thi công.

      Ông Nguyễn Văn Giáp - Giám đốc Công ty Điện lực Bà Rịa - Vũng Tàu: Thúc đẩy nguồn năng lượng tái tạo ở Côn Đảo 

      Nhà máy Điện mặt trời Côn Đảo được đưa vào hoạt động từ tháng 1/2015 và là nguồn năng lượng tái tạo đầu tiên được đấu nối vào lưới điện Côn Đảo. Mặc dù sản lượng điện thương phẩm chỉ đạt khoảng 50 MWh/năm, nhưng đây là tiền đề cho việc phát triển các nguồn năng lượng tái tạo nói chung và điện mặt trời nói riêng hòa vào lưới điện của Côn Đảo trong tương lai gần. Thời gian qua, Nhà máy đã vận hành ổn định, góp phần quan trọng vào việc cung ứng điện an toàn, liên tục và bảo vệ môi trường sinh thái ở Côn Đảo. 

      Từ những hiệu quả đó, Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC) đang có kế hoạch xây dựng nhà máy điện mặt trời thứ 2 tại Côn Đảo với công suất đặt khoảng 3 MW. Tháng 6/2016, EVNSPC và Công ty Điện lực Bà Rịa - Vũng Tàu đã phối hợp với chính quyền địa phương khảo sát địa điểm xây dựng nhà máy. Dự kiến, công trình sẽ được triển khai theo 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 (2016-2017) công suất đặt 1 MW, giai đoạn 2 (2017-2018) công suất đặt 2 MW.

      Có thể khẳng định, trong khi các nguồn năng lượng truyền thống như than, dầu đang dần cạn kiệt, giá thành cao và gây ô nhiễm môi trường sống, thì việc đầu tư, phát triển điện mặt trời không chỉ góp phần đảm bảo an ninh năng lượng, mà còn giúp tiết kiệm điện, giảm ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, để phát triển nguồn năng lượng này, rất cần cơ chế phù hợp và sự tạo điều kiện, phối hợp hiệu quả của địa phương và các cơ quan chức năng. 

    • Bao giờ tiềm năng thành hiện thực?

      Còn quá khiêm tốn

      Theo nghiên cứu của Trung tâm Năng lượng tái tạo và Cơ chế phát triển sạch (Viện Năng lượng, Bộ Công Thương), năng lượng mặt trời (NLMT) ở Việt Nam có tiềm năng phát triển lớn. Đặc biệt tại các tỉnh khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên với số giờ nắng trong năm từ 2.000 – 2.600 giờ, các tỉnh Nam Bộ từ 2.200 – 2.500 giờ. Cường độ bức xạ mặt trời ở khu vực này trung bình từ 4,9 – 5,7 kWh/m2/ngày. 

      Tuy nhiên trên thực tế, việc khai thác điện mặt trời chưa tương xứng với tiềm năng. Hầu hết các dự án NLMT tại Việt Nam chỉ có quy mô nhỏ, kết hợp với các nguồn điện khác và tập trung chủ yếu ở khu vực vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo. Đáng chú ý là dự án phát điện ghép giữa pin mặt trời và thuỷ điện nhỏ với công suất 125 kW, trong đó công suất của hệ thống pin mặt trời là 100 kW, được đưa vào vận hành từ cuối năm 1999, cấp điện cho người dân xã Trang, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. Dự án lai ghép giữa điện mặt trời (7 kW) và điện gió (2 kW) được đưa vào sử dụng từ tháng 11/2000, cấp điện cho 42 hộ gia đình tại làng Kongu 2, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum. Tại một số xã, huyện đảo như Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), Côn Đảo (Bà Rịa – Vũng Tàu), Phú Quý (Bình Thuận) kết hợp sử dụng điện mặt trời với nguồn diezel.

      Hầu hết các dự án điện mặt trời tại Việt Nam có quy mô nhỏ, kết hợp với các nguồn điện khác 

      Ông Trần Viết Ngãi – Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam cho biết, rào cản lớn  nhất hạn chế phát triển điện mặt trời trong thời gian qua là suất đầu tư cao, thiếu cơ chế, chính sách và quy hoạch. Vài năm trở lại đây, biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp, lượng phát thải khí nhà kính ra môi trường ngày càng cao. Vì vậy, nhiều quốc gia đã chuyển hướng sang phát triển năng lượng tái tạo nói chung và điện mặt trời nói riêng, thay thế cho nguồn nhiệt điện than và dầu ngày càng cạn kiệt tài nguyên và gây ô nhiễm môi trường. 

      Tại Việt Nam, cùng với tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu sử dụng điện cũng không ngừng tăng. Trong khi đó, tiềm năng thủy điện hầu như đã khai thác hết. Vì vậy, việc chuyển hướng sang phát triển năng lượng tái tạo, trong đó có điện mặt trời là hợp lý. Chính phủ đã ban hành Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo tại Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quyết định số 2068/QĐ-TTg ngày 25/11/2015), trong đó có điện mặt trời. Đồng thời, suất đầu tư điện mặt trời đã và đang có xu hướng tiếp tục giảm trong thời gian tới.

      Đến cuối năm 2015, một số nhà đầu tư của Việt Nam, trong đó Công ty CP Đầu tư và Xây dựng Thiên Tân (Quảng Ngãi) là một trong những doanh nghiệp tích cực thực hiện dự án điện mặt trời. Các nhà đầu tư nước ngoài như Hàn Quốc, Pháp, Ấn Độ... cũng đang tiến hành nghiên cứu tiền khả thi đầu tư một số dự án điện mặt trời tại Việt Nam.

      EVN đẩy mạnh phát triển điện mặt trời

      Chung tay cùng cả nước và cộng đồng quốc tế thực hiện cam kết chống biến đổi khí hậu, đồng thời bổ sung nguồn điện xanh cho đất nước, ngày 24/5/2016, Hội đồng Thành viên Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 145/NQ-HĐTV về nghiên cứu phát triển điện mặt trời. 

      Theo đó, dự án điện mặt trời do EVN và các đơn vị thành viên nghiên cứu đầu tư sẽ ưu tiên lựa chọn địa điểm gần hoặc thuộc phạm vi địa giới các công trình nguồn điện hiện có của EVN, dự án điện mặt trời nổi trên mặt nước tại các hồ chứa thủy điện và trên quỹ đất thuộc vành đai bảo vệ và vận hành công trình thủy điện, thuận lợi trong việc đấu nối lưới điện, giảm chi phí đền bù giải phóng mặt bằng và hạn chế những phát sinh lớn về lực lượng quản lý vận hành. 

      EVN đang đẩy mạnh phát triển điện mặt trời 

      Trước mắt, EVN đã giao cho Ban QLDA Thủy điện 6 nghiên cứu triển khai dự án điện mặt trời trên cạn và nổi trên mặt hồ tại công trình Thủy điện Trị An. Cụ thể, phần trên cạn có công suất lắp đặt khoảng 100 MW, diện tích đất sử dụng khoảng 120 ha, đấu nối vào lưới điện 110 kV hoặc 220 kV hiện có trong khu vực. Phần nổi trên mặt hồ dự kiến công suất lắp đặt khoảng 10 MW, diện tích sử dụng khoảng 120.000 m2 diện tích hồ thủy điện, ưu tiên gần lưới điện phân phối (22 kV) hiện có, không ảnh hưởng đến giao thông thủy và các hoạt động kinh tế liên quan (vận hành thủy điện, đánh bắt thủy sản…), không ảnh hưởng đến kết cấu đập. 

      Bên cạnh đó, Công ty CP Tư vấn Xây dựng điện 4 (PECC4) còn phối hợp với một số đơn vị nghiên cứu bước đầu Dự án điện mặt trời nổi trên hồ thủy điện Đa Mi (tỉnh Bình Thuận), với công suất dự kiến khoảng 28,8 MW; Dự án Nhà máy điện mặt trời nổi tại hồ Thủy điện Đồng Nai 4 (tỉnh Đồng Nai) cùng công suất 28,8 MW. Tổng công ty Điện lực miền Trung (EVNCPC) cũng đề xuất nghiên cứu đầu tư Dự án Trang trại điện mặt trời tại Khánh Hòa. Tổng công ty Phát điện 1 (EVNGENCO 1) cũng nghiên cứu đề xuất và triển khai lắp đặt các dự án điện mặt trời trên mặt hồ thủy điện do EVNGENCO 1 quản lý tại khu vực miền Trung. 

      Ông Nguyễn Khắc Sơn – Tổng giám đốc EVNGENCO 1 cho biết: “Việc nghiên cứu phát triển đầu tư xây dựng các dự án điện mặt trời trên mặt hồ thủy điện khu vực miền Trung không chỉ bổ sung nguồn điện, mà còn là một trong những giải pháp tích cực, đảm bảo thực thi chỉ tiêu về giảm phát thải khí nhà kính mà Việt Nam đã cam kết tại Hội nghị COP 21 vừa qua”.

      Cần cơ chế hỗ trợ kịp thời

      Mặc dù các nhà đầu tư đã bắt đầu đẩy mạnh nghiên cứu xây dựng dự án điện mặt trời tại Việt Nam, nhưng hầu hết các dự án vẫn còn nằm trên giấy. Bên cạnh đó, trình tự, thủ tục xin cấp phép xây dựng, bổ sung dự án điện mặt trời vào quy hoạch điện lực của Quốc gia và từng địa phương còn rườm rà.

      Điện mặt trời tại Việt Nam sẽ phát triển nếu các cơ chế hỗ trợ được ban hành kịp thời 

      Giữa tháng 8/2016, Văn phòng Chính phủ đã có văn bản thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ thống nhất với đề xuất của Bộ Công Thương về việc xem xét ban hành cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam dưới hình thức Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ cũng yêu cầu Bộ Công Thương và các cơ quan, ban ngành liên quan rà soát, bổ sung quy định cụ thể hơn về quy hoạch định hướng đối với điện mặt trời ở nước ta (phát triển các dự án theo bản đồ bức xạ mặt trời, bổ sung các dự án điện sử dụng năng lượng mặt trời vào quy hoạch phát triển điện lực bao gồm cả phần đấu nối, trách nhiệm thực hiện…).

      “Nếu Bộ Công Thương kịp thời chỉnh sửa, bổ sung và hoàn thiện các yêu cầu, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam trong năm 2016, thì mục tiêu từ nay đến năm 2020, đưa tổng công suất điện mặt trời từ mức không kể hiện nay lên khoảng 850 MW (theo Quy hoạch Điện VII điều chỉnh) là hoàn toàn khả thi”, ông Trần Viết Ngãi khẳng định.  

    • Năm 2016: Thị trường điện mặt trời có gì mới?

      Bước đột phá 

      5 năm trở lại đây, điện mặt trời trên thế giới đang được đầu tư phát triển với tốc độ cao. Năm 2014, đã có 177 GW công suất điện mặt trời được kết nối với lưới điện, tăng 39 GW so với năm 2012 (100 GW). 5 nước sản xuất điện mặt trời nhiều nhất là: Đức 35,65 GW; Ý 18 GW; Trung Quốc 17,7 GW; Nhật 11,86 GW và Mỹ 11,42 GW. 

      Trong đó, Mỹ là trường hợp đặc biệt vì phát triển điện mặt trời khá muộn, nhưng tốc độ và bước đi rất ấn tượng. Chỉ trong 4-5 năm gần đây, Mỹ đã vượt qua nhiều quốc gia về công suất điện mặt trời, vươn lên vị trí thứ 5 thế giới. Đặc biệt, Mỹ đã xây dựng nhà máy điện mặt trời “khổng lồ” lớn nhất thế giới, đó là Nhà máy Điện mặt trời Ivanpah đưa vào vận hành năm 2013 với công suất đặt gần 400 MW, góp phần quan trọng vào việc giảm phát thải khí nhà kính và tăng cường phát triển công nghiệp năng lượng xanh. Theo Hiệp hội Năng lượng Mỹ, hiện Mỹ đang có các dự án phát triển năng lượng mặt trời tổng công suất khoảng 30.000 MW chờ phê duyệt. 

      Tập trung theo hai loại công nghệ 

      Những năm gần đây, thế giới sử dụng hai loại công nghệ chính để sản xuất điện mặt trời, đó là công nghệ quang điện SPV và công nghệ tập trung nhiệt năng CSP (concentrated solar power) hay còn gọi là công nghệ nhiệt năng mặt trời STE (solar thermal energy). Trong đó, sản xuất điện mặt trời theo công nghệ quang điện SPV được nhiều nước sử dụng. Nếu như công nghệ quang điện SPV sử dụng các tấm panel có chức năng chuyển đổi nhiệt năng thành điện năng một cách trực tiếp, thì công nghệ tập trung nhiệt năng CSP sử dụng năng lượng mặt trời làm bốc hơi nước, tạo ra lực quay tua bin sản xuất điện. 

      Trong 5 gần đây, ngành công nghiệp điện mặt trời  phát triển với tốc độ cao

      Sử dụng công nghệ tập trung nhiệt năng, trong 2 năm (2012 - 2013) hệ thống điện mặt trời được kết nối lưới điện tăng từ 2,5 GW lên 3,4 GW. Công nghệ này có những ưu điểm vượt trội so với công nghệ quang điện SPV. Cụ thể, trong nhà máy nhiệt điện mặt trời CSP, người ta có thể lưu giữ nhiệt năng thu được trong thời gian có ánh nắng mặt trời (ban ngày và lúc không có mưa). Phần nhiệt năng này được lưu giữ lại dưới nhiều dạng khác nhau (nước hay dầu ở nhiệt độ cao, muối làm cho tan chảy...) và sẽ được sử dụng cho phát điện vào lúc không có ánh nắng mặt trời.  Ngoài ra, đối với các nhà máy điện CSP, nguồn vật tư, nguyên vật liệu để chế tạo thiết bị rất phổ biến với giá rẻ. Đây là một yếu tố quan trọng, làm tăng tính cạnh tranh về suất đầu tư sản xuất điện mặt trời. 

      Việc sử dụng công nghệ SPV cũng có những ưu điểm riêng. Trước hết, giá thành xây dựng nhà máy sử dụng công nghệ SPV thấp hơn nhiều so với nhà máy sử dụng công nghệ CSP. Mặt khác, nếu nhà máy CSP đòi hỏi phải cung cấp một lượng nước rất lớn, thì nhu cầu này hầu không đặt ra đối với nhà máy sử dụng công nghệ SPV.

      Một ưu điểm lớn của nhà máy sử dụng quang điện SPV là không gây ô nhiễm môi trường tự nhiên, trong khi các nhà máy loại hội tụ nhiệt năng CSP thì ngược lại, các thiết bị chứa nước nóng và hơi nước nóng để quay tua bin ở các nhà máy này làm ảnh hưởng đến môi trường nhiều hơn. Cụ thể, Nhà máy điện mặt trời Ivanpah (Mỹ), nhiều sinh vật sống quanh khu vực nồi hơi của tháp điện, nơi nhiệt độ lên tới 260 độ C đã bị hủy diệt, hoặc bị đe dọa. 

      Qua việc so sánh 2 loại công nghệ trên cho thấy, cả hai công nghệ quang điện SPV và công nghệ quang nhiệt CSP (hay STE), đều được nhiều quốc gia, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể, cùng khai thác sử dụng. Trong đó, các nước nhỏ và đang phát triển có phần nghiêng về sử dụng công nghệ quang điện SPV.

      Tình hình phát triển điện mặt trời trên thế giới cũng góp phần thúc đẩy Việt Nam có chính sách đầu tư phát triển toàn diện nền công nghiệp điện năng nước nhà. Đồng thời, bên cạnh sự phát triển nhiệt điện khí, nhiệt điện than, điện hạt nhân, không thể không có chính sách hợp lý đối với sử dụng năng lượng tái tạo, trước hết là điện gió và điện mặt trời. 

      Biểu đồ sự tăng trưởng tổng điện năng mặt trời năm 2004 -2014

      Theo báo cáo toàn cầu của Mạng lưới Chính sách Năng lượng tái tạo Thế kỷ 21 - REN21

       

    • “Điện mặt trời sẽ phát triển nếu…”

      PV: Xin ông cho biết tình hình phát triển điện mặt trời tại Việt Nam hiện nay?

      Ông Nguyễn Đức Cường: Tính đến thời điểm này, Việt Nam có một nhà máy điện mặt trời đang được xây dựng tại huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi trên diện tích 24 ha, công suất thiết kế 19,2 MW. Sở Công Thương tỉnh Bình Thuận cũng vừa cấp phép đầu tư Dự án nhà máy điện mặt trời tại xã Vĩnh Hảo, huyện Tuy Phong cho Công ty TNHH DooSung Vina trên diện tích 50 ha, công suất thiết kế 30 MW, tổng vốn đầu tư khoảng 66 triệu USD.

      Bên cạnh đó, các nhà đầu tư lớn (trong và ngoài nước) cũng đang xúc tiến triển khai hơn 30 dự án điện mặt trời, trung bình công suất mỗi dự án khoảng 50 MW, tập trung chủ yếu tại các tỉnh miền Trung như: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận và Đồng bằng sông Cửu Long. Đây là những khu vực có cường độ bức xạ mặt trời và số giờ nắng cao, trung bình khoảng 5 kWh/m2/ngày. 

      PV: Ông có thể lý giải, tại sao các nhà đầu tư lại “ồ ạt” phát triển điện mặt trời ở Việt Nam?

      Ông Nguyễn Đức Cường: Những năm trước đây, phát triển điện mặt trời có suất đầu tư khá lớn. Song hiện nay, suất đầu tư điện mặt trời đã giảm và hấp dẫn hơn, dao động từ 1.400 - 1.800 USD/kW (tùy thuộc vào địa điểm) và có xu hướng tiếp tục giảm. Một số quốc gia sản xuất pin mặt trời còn đưa ra giới hạn suất đầu tư chỉ còn từ 1.100 - 1.300 USD/kW.

      Để phát triển điện mặt trời, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2068/QĐ-TTg ngày 25/11/2015 phê duyệt Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Trong đó, nêu rõ định hướng phát triền nguồn năng lượng mặt trời, cung cấp điện cho hệ thống điện quốc gia và khu vực biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa chưa thể cấp điện từ nguồn điện lưới quốc gia.

      Quy hoạch điện VII (điều chỉnh) được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 428/QĐ-TTg ngày 18/3/2016 cũng yêu cầu đẩy nhanh tiến độ các dự án điện mặt trời, bao gồm cả nguồn tập trung lắp đặt trên mặt đất và các nguồn riêng lẻ lắp đặt trên nóc nhà, đưa công suất nguồn điện mặt trời từ mức không đáng kể hiện nay lên khoảng 850 MW năm 2020, khoảng 4.000 MW năm 2025 và 12.000 MW năm 2030. 

      Điện mặt trời tại Việt Nam còn phát triển khá "khiêm tốn" 

      PV: Bên cạnh thuận lợi, việc phát triển điện mặt trời đang phải đối diện với những thách thức gì, thưa ông?

      Ông Nguyễn Đức Cường: Thách thức lớn nhất hiện nay là thủ tục hành chính liên quan đến việc xin cấp phép xây dựng, bổ sung nguồn điện mặt trời vào Quy hoạch phát triển điện quốc gia và quy hoạch điện của từng địa phương trong việc triển khai các dự án. Trường hợp dự án có công suất thiết kế trên 50 MW phải bổ sung vào Quy hoạch điện quốc gia, dưới 50 MW bổ sung vào Quy hoạch điện tỉnh. 

      Cuối năm 2015 – đầu năm 2016, Viện Năng lượng và các cơ quan liên quan đã hoàn thành cơ chế hỗ trợ điện mặt trời nối lưới, bao gồm biểu giá điện cố định, kèm theo các ưu đãi về thuế thu nhập, thuế nhập khẩu thiết bị, cơ sở hạ tầng… Dự kiến, giá bán cố định đối với điện mặt trời nối lưới là 11,2 UScents/kWh. Tuy nhiên hiện nay, cơ chế này vẫn chưa được Chính phủ thông qua.

      PV: Mới đây, Hội đồng Thành viên Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã ban hành nghị quyết về phát triển điện mặt trời. Ông có nhận xét gì về quyết định này?

      Ông Nguyễn Đức Cường: Hiện nay, tổng công suất các nguồn điện của Việt Nam khá lớn và có khả năng dự phòng lên đến 30%, nhưng phân bố không đều giữa các miền. Trong đó, tổng công suất các nguồn thủy điện vẫn chiếm tỷ trọng khá lớn, lên đến gần 40%, tập trung chủ yếu ở miền Bắc và miền Trung, lại phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên. Điển hình như 2 năm gần đây, do ảnh hưởng của hiện tượng El Nino nên lưu lượng nước về các hồ thủy điện rất hạn chế, hệ thống đường dây 500 kV Bắc - Nam liên tục phải truyền tải công suất cao từ miền Bắc vào miền Trung và miền Nam, kéo theo tổn thất điện năng cao.

      Vì vậy, việc phát triển điện mặt trời trong Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) là rất cần thiết và EVN có đủ điều kiện để phát triển nguồn năng lượng sạch này. Phát triển điện mặt trời còn thể hiện cam kết của EVN trong việc chung tay cùng cộng đồng quốc tế thực hiện mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính đã được thông qua tại Hội nghị về Biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc (Hội nghị COP21). Vì vậy, EVN có đủ khả năng để tiếp cận các nguồn vốn từ các tổ chức tài chính quốc tế trong và ngoài nước.

      PV: Vậy, để EVN nói riêng và các nhà đầu tư nói chung có thể phát triển điện mặt trời một cách hiệu quả, cần có thêm những điều kiện gì, thưa ông?

      Ông Nguyễn Đức Cường: Mới đây, Văn phòng Chính phủ đã có thông báo ý kiến kết luận của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam. Vấn đề mấu chốt nhất hiện nay là Bộ Công Thương và các bộ, ngành tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện biểu giá điện phù hợp đối với các dự án điện mặt trời nối lưới và trên nóc nhà, hài hòa lợi ích của cả 3 bên, đó là: Chủ đầu tư (bên bán điện), EVN (người mua điện) và mục tiêu phát triển nguồn điện xanh – không phát thải khí nhà kính.

      Đồng thời, Bộ Công Thương cần sớm bổ sung quy định cụ thể hơn về quy hoạch định hướng đối với điện mặt trời ở nước ta (phát triển các dự án theo bản đồ bức xạ mặt trời, bổ sung các dự án điện sử dụng NLMT vào quy hoạch phát triển điện lực bao gồm cả phần đấu nối, trách nhiệm thực hiện…). 

      Bộ Công Thương bổ sung, hoàn thiện quy định về miễn giấy phép kinh doanh và không phải nộp các loại thuế, phí đối với các dự án điện mặt trời trên mái nhà (công suất lắp đặt không quá 50 kW) đảm bảo theo đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Trên cơ sở đó, Chính phủ sẽ xem xét để sớm ban hành các cơ chế hỗ trợ phát triển điện mặt trời trong năm 2016, tạo điều kiện và động lực phát triển nguồn điện này từ năm 2017. Kinh nghiệm cho thấy tại Thái Lan, sau khi Chính phủ ban hành cơ chế hỗ trợ về giá, các loại thuế… trung bình mỗi năm Thái Lan đã phát triển được 1.000 MW điện mặt trời.

      PV: Xin cảm ơn ông!

    • Dự án Trang trại năng lượng mặt trời tại Khánh Hòa: Đánh thức tiềm năng

      Nằm ở khu vực Duyên hải Nam Trung bộ, Khánh Hòa có diện tích hơn 5.000 km2 (bao gồm cả các đảo và quần đảo). Khí hậu nhiệt đới tương đối ôn hòa với 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa nắng. Mùa mưa ngắn, từ giữa tháng 9 đến giữa tháng 12 hàng năm, trong đó tập trung chủ yếu vào 2 tháng 10 - 11, lượng mưa chiếm trên 50% tổng lượng mưa cả năm. Các tháng còn lại là mùa nắng, với tổng số giờ nắng trung bình lên tới 2.600 giờ/năm. 

      Nhiệt độ trung bình hàng năm của Khánh Hòa khoảng 26,7°C. Cường độ bức xạ mặt trời trung bình hơn 5 kWh/m2. Đặc biệt là khu vực Cam Ranh, có cường độ bức xạ mặt trời lên đến 5,34 kWh/m2/ngày – là khu vực thuận lợi nhất phát triển điện mặt trời.

      Với tiềm năng sẵn có, Tổng công ty Điện lực miền Trung đã giao cho Ban QLDA Điện nông thôn miền Trung nghiên cứu triển khai Dự án Trang trại năng lượng mặt trời (NLMT) tại thôn Thịnh Sơn, xã Cam Thịnh Tây, TP Cam Ranh. Đây là khu vực đồi hoang, bằng phẳng, không thể canh tác nông, lâm nghiệp, không nằm trong quy hoạch của bất kỳ dự án nào, rất thuận lợi triển khai Dự án NLMT. Theo thiết kế sơ bộ, Dự án có công suất thiết kế 50 MW, sản lượng điện ước tính 83 GWh/năm. Tổng mức đầu tư hơn 1.900 tỷ đồng. 

      Khánh Hòa là một trong những địa phương có tiềm năng lớn nhất để phát triển điện mặt trời

      Theo ông Nguyễn Thanh Đạt – Giám đốc Ban QLDA Điện nông thôn miền Trung, đối với Dự án Trang trại NLMT nối lưới, việc lựa chọn các tấm pin mặt trời công suất lớn, điện áp cao để giảm số mối nối trong một dãy là cần thiết. Việc lựa chọn này còn phải dựa trên nhiều yếu tố như, diện tích mặt bằng được giao, các loại tấm pin, nguồn vốn, cơ cấu vốn, lãi suất vay,… để quyết định lựa chọn loại tấm pin nào có hiệu quả cao nhất cả về mặt kỹ thuật và kinh tế. 

      Hiện nay, Ban QLDA đang khẩn trương làm việc với UBND tỉnh Khánh Hòa, TP Cam Ranh và các sở, ban, ngành liên quan, chuẩn bị triển khai phương án đầu tư hiệu quả nhất. Ông Nguyễn Thanh Đạt khẳng định: “Sau khi đưa vào hoạt động, Trang trại NLMT sẽ góp phần tăng thêm nguồn thu ngân sách cho địa phương; phát triển kinh tế vùng và tạo thêm việc làm cho người dân địa phương; đáp ứng nhu cầu tăng trưởng phụ tải của khu vực, nâng cao độ tin cậy và đa dạng hóa nguồn cung cấp điện”. Việc triển khai Dự án còn thể hiện nỗ lực và trách nhiệm của tỉnh Khánh Hòa nhằm phát triển năng lượng sạch, góp phần thực hiện cam kết giảm phát thải khí nhà kính, khi Việt Nam tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (Hiệp định TPP).

      UBND TP Cam Ranh hoàn toàn ủng hộ chủ đầu tư là Tổng công ty Điện lực miền Trung (EVNCPC) thực hiện Dự án xây dựng Trang trại năng lượng mặt trời. Ông Nguyễn Ngọc Sơn – Phó Chủ tịch UBND TP Cam Ranh cho biết, cùng với các dự án khác, Dự án Trang trại NLMT của EVNCPC sẽ góp phần thúc đẩy phát triển một ngành công nghiệp mới trên địa bàn TP Cam Ranh nói riêng và tỉnh Khánh Hòa nói chung. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Dự án, đề nghị chủ đầu tư tích cực phối hợp với các sở, ban, ngành địa phương khảo sát cụ thể địa điểm xây dựng Nhà máy, hạn chế tối đa ảnh hưởng đến sản xuất của người dân. Đồng thời, tạo điều kiện đảm bảo an sinh xã hội, ổn định đời sống của người dân khu vực Dự án. 

      Dự án Trang trại năng lượng mặt trời tại thôn Thịnh Sơn, xã Cam Thịnh Tây, TP Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa:

      - Chủ đầu tư: Tổng công ty Điện lực miền Trung;
      - Đơn vị quản lý: Ban QLDA Điện nông thôn miền Trung;
      - Công suất thiết kế: 50 MW;
      - Sản lượng điện sản xuất: 83 GWh/năm;
      - Diện tích đất sử dụng: Khoảng 95 ha;
      - Tổng vốn đầu tư: hơn 1.900 tỷ đồng; trong đó:
      + Vốn ODA chiếm 70%
      + Vốn của Tổng công ty Điện lực miền Trung: 30%
      - Thời gian thực hiện: 2017 - 2018.

       

    • Hỗ trợ phát triển các dự án điện mặt trời

      Thủ tướng Chính phủ thống nhất với đề xuất của Bộ Công Thương về việc xem xét ban hành cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam dưới hình thức Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

      Để hoàn thiện Dự thảo Quyết định ban hành Cơ chế phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội nước ta hiện nay, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Công Thương bổ sung quy định cụ thể hơn về quy hoạch định hướng đối với điện mặt trời ở nước ta (phát triển các dự án theo bản đồ bức xạ mặt trời, bổ sung các dự án điện sử dụng năng lượng mặt trời vào quy hoạch phát triển điện lực bao gồm cả phần đấu nối, trách nhiệm thực hiện…).

      Về cơ chế giá mua bán điện đối với các dự án điện mặt trời nối lưới: Quy định theo hướng giá mua bán điện tạm thời áp dụng thí điểm cho 3 năm tới (giai đoạn 2016 - 2018) đối với các dự án đã có trong quy hoạch phát triển điện lực được phê duyệt, các dự án thuộc khu vực có tiềm năng và điều kiện thuận lợi để phát triển. Bộ Công Thương rà soát, cập nhật giá thiết bị điện mặt trời đang có xu hướng tiếp tục giảm hiện nay để đưa ra mức giá mua bán điện phù hợp, đồng thời cần nghiên cứu, bổ sung thêm quy định để từng bước triển khai thực hiện đấu thầu các dự án điện mặt trời theo hướng công khai, minh bạch và giảm giá bán điện của các dự án.

      Về cơ chế giá mua bán điện đối với các dự án điện mặt trời trên mái nhà, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Công Thương cập nhật giá thiết bị điện mặt trời đang có xu hướng tiếp tục giảm hiện nay để đề xuất cho phù hợp.

      Đồng thời nghiên cứu, bổ sung thêm các quy định về quản lý đối với việc mua bán chứng chỉ giảm phát thải hiệu ứng nhà kính (CERs) đối với các dự án điện mặt trời.

      Bộ Công Thương bổ sung, hoàn thiện quy định về nội dung miễn giấy phép đăng ký kinh doanh và không phải nộp các loại thuế, phí đối với các dự án điện mặt trời trên mái nhà (công suất lắp đặt không quá 50 kW) đảm bảo theo đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

      Bổ sung quy định, cơ chế nhằm khuyến khích phát triển sản xuất thiết bị điện mặt trời trong nước, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa dự án điện mặt trời để từng bước giảm bán điện của dự án điện mặt trời.

      Tăng cường công tác giám sát cung - cầu điện

      Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Công Thương tăng cường công tác giám sát cung - cầu điện, tiến độ thực hiện các dự án nguồn và lưới điện trong quy hoạch được duyệt để thực hiện hoặc báo cáo Thủ tướng Chính phủ cho phép thực hiện các giải pháp nhằm bảo đảm cung ứng điện cho phát triển kinh tế - xã hội; tính toán cơ cấu nguồn điện hợp lý, nâng cao độ tin cậy cung cấp điện và hiệu quả kinh tế hệ thống điện.

      Đồng thời thực hiện rà soát, đánh giá hiệu quả các cơ chế hỗ trợ các nguồn năng lượng tái tạo đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành (cơ chế hỗ trợ phát triển điện gió, điện sinh khối, phát điện sử dụng chất thải rắn), báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, điều chỉnh nếu cần thiết.

      Thủ tướng Chính phủ giao Tập đoàn Điện lực Việt Nam giữ vai trò chính trong việc đảm bảo cung cấp điện ổn định, an toàn cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội; thực hiện đầu tư các dự án nguồn điện theo nhiệm vụ được giao, đầu tư phát triển các công trình lưới điện đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư, đồng thời nghiên cứu triển khai thực hiện các dự án điện mặt trời tại các khu vực thuận lợi, có tiềm năng và tại các đảo xa bờ.

       

    • EVN mua điện từ Nhà máy Điện gió Trung Nam

      Tham dự Lễ ký kết có ông Lưu Xuân Vĩnh – Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận, ông Phạm Văn Hậu – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận. Về phía Tập đoàn Điện lực Việt Nam có ông Trần Đăng Khoa – Trưởng Ban thị trường điện, ông Nguyễn Đình Doãn – Giám đốc Công ty Mua bán điện. Về phía Công ty cổ phần đầu tư xây dựng Trung Nam có ông Nguyễn Tâm Thịnh – Chủ tịch HĐQT, ông Đặng Công Chuẩn – Phó Tổng giám đốc và ông Trần Đức Xuyên – Tổng giám đốc Công ty cổ phần Điện gió Trung Nam.

      Lễ ký kết hợp đồng giữa 2 đơn vị - Ảnh Minh Nguyên

      Nhà máy Điện gió Trung Nam do Công ty cổ phần Đầu tư Xây dựng Trung Nam làm chủ đầu tư được xây dựng tại xã Lợi Hải và Bắc Phong (huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận) có công suất 90 MW, được đấu nối tại đường dây 110 kV mạch kép từ TBA 110 kV Nhà máy Điện gió Trung Nam đến thanh cái 110 kV của TBA 220/110 kV Tháp Chàm.

      Qua quá trình đàm phán, 2 bên đã thống nhất hợp đồng mua bán điện, trong đó giá điện, hợp đồng mua bán điện được áp dụng theo các văn bản liên quan do Thủ tướng Chính phủ và Bộ Công Thương ban hành.

    • Phát triển nguồn điện từ NLTT theo Quy hoạch điện VII (điều chỉnh): Liệu có khả thi?

      Thực tế và mục tiêu

      Quy hoạch điện VII (điều chỉnh) yêu cầu đẩy nhanh tiến độ các dự án nguồn điện sản xuất từ năng lượng mặt trời (điện mặt trời), bao gồm cả nguồn tập trung lắp đặt trên mặt đất và các nguồn riêng lẻ lắp đặt trên nóc nhà, đưa công suất nguồn điện mặt trời từ mức không đáng kể hiện nay lên khoảng 850 MW năm 2020, khoảng 4.000 MW năm 2025. 

      Ông Nguyễn Đức Cường - Giám đốc Trung tâm Năng lượng tái tạo và Cơ chế phát triển sạch (Viện Năng lượng, Bộ Công Thương) cho biết, những năm trước đây, để phát triển nguồn điện mặt trời đòi hỏi suất đầu tư khá lớn. Song hiện nay, suất đầu tư điện mặt trời đã hấp dẫn hơn, dao động từ 1.400 - 1.800 USD/kW (tùy thuộc vào từng địa điểm) và có xu hướng giảm dần. Một số quốc gia sản xuất pin mặt trời còn đưa ra suất đầu tư chỉ còn từ 1.100 - 1.300 USD/kW. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đã giao cho các bộ, ngành hữu quan xây dựng cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện mặt trời, như biểu giá điện, kèm các ưu đãi về thuế (thuế thu nhập, thuế nhập khẩu thiết bị, kết cấu hạ tầng)…

      Hiện nay, Việt Nam có khoảng hơn 30 nhà đầu tư lớn (trong và ngoài nước) đã xúc tiến lập các dự án điện mặt trời công suất từ 20 MW đến trên 300 MW tại một số địa phương có tiềm năng, tập trung chủ yếu ở khu vực miền Trung. Một dự án điện mặt trời với công suất 19,2 MW đã khởi công tháng 8/2015 tại Mộ Đức, Quảng Ngãi. Khoảng 5 – 6 dự án khác đang hoàn thiện hồ sơ bổ sung quy hoạch điện và xin cấp phép đầu tư. 

      Đối với điện gió, khoảng 140 MW đã được lắp đặt và đang vận hành tại Việt Nam. Hơn 500 MW của gần 10 dự án đang xúc tiến đầu tư ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và Nam Trung bộ. 6 tỉnh đã có quy hoạch điện gió với tổng công suất dự kiến lắp đặt đến năm 2020 là trên 1.000 MW. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất đối với việc phát triển điện gió (cả trên đất liền và gần bờ) là biểu giá điện hiện hành chưa thực sự hấp dẫn các nhà đầu tư. 

      Ông Cường khẳng định: “Từ nay đến năm 2020, Việt Nam còn hơn 4 năm để phát triển các nguồn điện từ năng lượng tái tạo theo Quy hoạch điện VII (điều chỉnh). Trung bình mỗi năm có khoảng gần 400 MW (gồm cả điện gió và mặt trời) sẽ được lắp đặt. Tuy nhiên, nếu không sớm dỡ bỏ các rào cản và ban hành cơ chế, chính sách hỗ trợ thì việc đạt được các mục tiêu đề ra sẽ rất khó khăn”.

      Hệ thống pin mặt trời lắp đặt trên tòa nhà Viện MT&TN - Đại Học Quốc Gia TP HCM - Nguồn: Internet

      Cần sớm tháo dỡ những rào cản

      Bà Phạm Cẩm Nhung – Quản lý Chương trình Năng lượng bền vững của WWF Việt Nam cho biết, năng lượng tái tạo là yếu tố không thể thiếu để phát triển bền vững Việt Nam trong tương lai, giúp con người chung sống hài hòa với thiên nhiên. Việt Nam hoàn toàn có khả năng trở thành quốc gia phát triển năng lượng sạch và tái tạo mạnh mẽ, hiệu quả hơn. Mục tiêu vào năm 2050, điện mặt trời có thể cung cấp ít nhất 35%, năng lượng gió cung cấp khoảng 15% nhu cầu điện của Việt Nam.

      Để đạt được mục tiêu trên, theo ông Nguyễn Đức Cường, vấn đề mấu chốt nhất hiện nay là thiết kế và ban hành biểu giá điện phù hợp cho cả điện gió và điện mặt trời, hài hòa lợi ích của cả 3 bên, đó là: Chủ đầu tư (bên bán điện), EVN (người mua điện) và mục tiêu phát triển nguồn điện xanh - không phát thải khí nhà kính của Chính phủ. Theo đó, Chính phủ cần sớm ban hành các cơ chế hỗ trợ phát triển điện mặt trời. 

      Ngoài ra, phần lớn các nguồn điện gió, điện mặt trời chưa nằm trong quy hoạch của địa phương, chủ đầu tư phải mất nhiều thời gian hoàn thiện hồ sơ, làm thủ tục xin bổ sung vào Quy hoạch. Vì vậy, Chính phủ cần sớm ban hành quy hoạch phát triển năng lượng tái tạo của quốc gia và từng địa phương, tạo điều kiện thuận lợi phát triển các nguồn năng lượng này trong thời gian tới. 

      Cũng theo ông Nguyễn Đức Cường, mục tiêu phát triển nguồn điện gió và điện mặt trời vào năm 2030 theo Quy hoạch điện VII (điều chỉnh) còn có tham vọng lớn hơn nhiều so với năm 2020, với công suất 6.000 MW điện gió và 12.000 MW điện mặt trời. Điều này đồng nghĩa, điện gió tăng gần 8 lần và điện mặt trời tăng 15 lần. Đây là mục tiêu, nhưng cũng là thách thức rất lớn cho các cơ quan nhà quản lý nhà nước, EVN và các chủ đầu tư Vì vậy, Chính phủ và các bộ, ngành liên quan cần sớm nghiên cứu, xây dựng cơ chế ràng buộc đối với nhà đầu tư sản xuất điện từ nhiên liệu hóa thạch. Ví dụ, vào năm 2020, nhà đầu tư muốn phát triển nhiệt điện than với công suất 1.000 MW phải sở hữu ít nhất 5% nguồn điện từ năng lượng tái tạo. Tương ứng đến năm 2030, nhà đầu tư phải sở hữu ít nhất trên 10% nguồn điện gió hoặc điện mặt trời nếu muốn phát triển nhiệt điện than hoặc các nguồn điện khác... Có như vậy, mục tiêu phát triển năng lượng tái tạo theo đúng Quy hoạch điện VII (điều chỉnh) mới trở thành hiện thực. 

      Phát triển nguồn điện từ năng lượng tái tạo trong Quy hoạch điện VII (điều chỉnh):

      Năm

      Công suất (MW)

      Tỷ trọng trong tổng công suất đặt (%)

      Tổng sản lượng điện sản xuất (TWh)

      Tỷ trọng trong tổng sản lượng điện sản xuất (%)

      2015

      2.046

      5,2

      6.047

      3,7

      2020

      6.004

      9,9

      17.265

      6,5

      2025

      12.009

      12,5

      27.761

      6,9

      2030

      27.199

      21,0

      60.907

      10,7

      (Nguồn: Viện Năng lượng, Bộ Công Thương)

    • Tăng cường hợp tác phát triển năng lượng tái tạo giữa EVN và KfW

      Tham dự Hội thảo có ông Nguyễn Cường Lâm – Phó Tổng giám đốc EVN, ông Christian Haas - Giám đốc Văn phòng KfW tại Hà Nội, đại diện các đơn vị liên quan của EVN, đơn vị tư vấn là các chuyên gia đến từ Đại học Frankfurt (Đức).

      Phát biểu tại Hội thảo, ông Nguyễn Cường Lâm – Phó Tổng giám đốc EVN cho biết: Hiện nay EVN đang triển khai thực hiện Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 - 2020 có xét đến năm 2030 điều chỉnh.

      Quy hoạch dự báo tổng tiêu thụ điện năng trên toàn Việt Nam tăng trưởng ở mức 11,1%/năm trong giai đoạn 2016 - 2020 và 7,8%/ năm trong giai đoạn 2020 - 2030. Trong đó tổng công suất phát điện ước tính đạt 60.000 MW vào năm 2020 và 129.500 MW vào năm 2030.

      Trong Quy hoạch điện cũng nêu rõ công suất năng lượng tái tạo đưa vào vận hành (không kể các dự án đã có tên trong danh mục các nguồn điện trong Quy hoạch, thủy điện tích năng…) giai đoạn 2016 - 2020 là 2.060 MW, giai đoạn 2021 - 2025 là 5.990 MW và giai đoạn 2026 - 2030 là 15.190 MW.

      EVN tăng cường hợp tác với KfW về phát triển năng lượng tại Việt Nam - Ảnh Thu Hà

      Việc nghiên cứu phát triển, đầu tư xây dựng các dự án năng lượng tái tạo sẽ là một trong những điều kiện tích cực để Việt Nam đảm bảo thực thi chỉ tiêu về phát thải mà Việt Nam đã cam kết trong Hội nghị COP 21 vừa qua. Ngoài ra, việc phát triển năng lượng tái tạo sẽ đóng góp, bổ sung nguồn điện xanh cho đất nước.

      “Hiện nay EVN đã ký hợp đồng 6 dự án, tổng số vốn 527 triệu EUR với KfW và đang tiếp tục thu xếp cho khoảng 10 dự án với số vốn trên 1 tỷ EUR. Dự án điện gió Phú Lạc 1 công suất 24 MW là dự án điện gió đầu tiên do EVN thực hiện vay vốn KfW sẽ đưa vào vận hành thương mại trong tháng 9/2016. Tôi cho rằng Hội thảo này sẽ là một cơ hội tốt để các đại biểu, đơn vị thuộc EVN có thể trao đổi kinh nghiệm, cập nhật thông tin và học hỏi kinh nghiệm từ KfW”, Phó Tổng giám đốc EVN Nguyễn Cường Lâm nhấn mạnh.

      Ông Christian Haas - Giám đốc Văn phòng KfW tại Hà Nội cho rằng: Năng lượng sạch sẽ là nguồn năng lượng chủ yếu cung cấp cho toàn cầu trong thời gian tới. KfW đánh giá cao những nỗ lực của Chính phủ Việt Nam khi đưa phát triển năng lượng tái tạo vào chiến lược phát triển của mình. Tại Hội thảo này, ông Christian Haas hi vọng sẽ cùng với EVN trao đổi, tìm ra hướng có lợi cho cả 2 bên về phát triển năng lượng tái tạo.

      Tại Hội thảo các đại biểu đã được nghe đại diện EVN trình bày tổng quan về năng lượng tái tạo và nhu cầu đầu tư của EVN; các chuyên gia tư vấn của Đại học Frankfurt trình bày về ưu nhược điểm của từng dạng năng lượng tái tạo và chia sẻ kinh nghiệm quốc tế trong lĩnh lực năng lượng tái tạo; KfW trình bày về các hình thức thực hiện dự án năng lượng tái tạo KfW có thể hợp tác với EVN, một số dự án KfW đã làm tại các nước.

    • Xây dựng cơ chế hỗ trợ phát triển điện mặt trời

      Tại cuộc họp, Phó Thủ tướng nêu rõ, thực hiện quan điểm của Đảng, mục tiêu phát triển của Chính phủ trong chiến lược phát triển năng lượng, quy hoạch điện lực đất nước là ưu tiên, khuyến khích các nguồn năng lượng tái tạo sẵn có, tăng tỉ lệ sản xuất điện từ các nguồn năng lượng tái tạo với mức không đáng kể như hiện nay lên 5,6% và 9,4% công suất vào các năm 2020 và 2030.

      Điện mặt trời sẽ được ưu tiên phát triển trong thời gian tới - Ảnh Thu Hà

      Theo Quy hoạch điện VII, nhu cầu điện toàn quốc được dự báo sẽ tăng bình quân gần 10%/năm trong giai đoạn từ nay đến năm 2020; 7,2-8,1% trong giai đoạn 10 năm tiếp theo. Quá trình rà soát và cập nhật tiềm năng, trữ lượng tài nguyên và khả năng cung cấp nhiên liệu cho phát điện cho thấy, các nguồn điện năng hiện tại sẽ được khai thác tối đa và thiếu hụt so với nhu cầu. Sau năm 2020, Việt Nam sẽ chuyển thành nước nhập khẩu năng lượng lớn và mức độ phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu.

      Bộ Công Thương cho biết, tính đến nay, một số nguồn năng lượng tái tạo đã và đang được khai thác cho sản xuất điện, với tổng công suất 1.300 MW. Điện mặt trời cũng được xác định là một nguồn đáng kể, nhưng hiện chủ yếu mới là dự án thí điểm, không nối lưới, chưa có dự án thương mại do trở ngại lớn về giá thành, suất đầu tư lớn và chưa có cơ chế riêng về giá bán điện để thu hút đầu tư trong lĩnh vực này.

      Theo nghiên cứu, Việt Nam là nước có tiềm năng phát triển điện mặt trời với tổng số giờ nắng trong năm là 1.400-3.000 giờ, tổng lượng bức xạ trung bình khoảng 230-250 kcal/cm2 theo hướng tăng dần về phía Nam.

      Theo quy định của Chính phủ, công nghệ điện mặt trời là loại hình năng lượng sạch, nằm trong lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư, là công nghệ mới, các đặc thù riêng. Tuy nhiên, để cụ thể hóa chủ trương khuyến khích, ưu tiên này, cần thiết phải ban hành một quy chế pháp lý, minh bạch hóa thủ tục đầu tư, thúc đẩy các hoạt động phát triển nguồn điện mặt trời trong thời gian tới.

      Theo chỉ đạo của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải, Bộ Công Thương phối hợp với các bộ, ngành liên quan đang xây dựng dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, trong đó quy định rõ về quy hoạch và đầu tư xây dựng các dự án, việc đấu nối dự án vào hệ thống điện cho các đối tượng đầu tư.

      Cơ chế này cũng xác định rõ trách nhiệm mua điện từ các dự án điện mặt trời, hợp đồng mua bán điện, ưu đãi về vốn đầu tư và thuế, ưu đãi về đất đai. Đặc biệt là giá điện của các dự án và cả ưu đãi, hỗ trợ đối với các dự án không nối lưới.

      Theo đề xuất ban đầu, Tập đoàn Điện lực Việt Nam hoặc đơn vị phân phối điện, các tổ chức, cá nhân kinh doanh điện phải có trách nhiệm mua toàn bộ điện năng từ các dự án điện mặt trời, thời gian là 20 năm với dự án nối lưới, 10 năm với dự án lắp đặt trên mái nhà. Giá mua dự kiến xác định từ 2.352 đ/kWh đến 2.822 đ/kWh (chưa bao gồm thuế) tùy loại hình dự án.

      Các nhà hoạch định cũng sẽ tham khảo kỹ kinh nghiệm từ các quốc gia trên thế giới trong lĩnh vực này, cho thấy phần lớn các quốc gia này đều có chiến lược và chương trình phát triển các nguồn năng lượng tái tạo. Các chương trình, dự án trong lĩnh vực đều được cung cấp tài chính trực tiếp từ ngân sách Nhà nước hoặc thông qua các biện pháp ưu đãi như bù giá điện, miễn giảm thuế và các hình thức hỗ trợ khác. Một số quốc gia như Mỹ, Thái Lan, Trung Quốc... có xây dựng quỹ phát triển năng lượng tái tạo từ nguồn thu từ thuế, phí nhiên liệu hóa thạch.

      Dự thảo quyết định cơ chế này sẽ sớm được hoàn thiện, trình lên Thủ tướng xem xét, quyết định trong thời gian tới.

    • Xây nhà máy điện mặt trời đầu tiên tại Việt Nam

      Tham dự buổi lễ có Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải, lãnh đạo các bộ, ngành T.Ư, tỉnh Quảng Ngãi cùng đông đảo người dân trong vùng dự án.
      Dự án nhà máy điện mặt trời được xây dựng trên diện tích gần 30 ha, công suất 19,2 MW, tổng vốn đầu tư hơn 826 tỉ đồng. Dự kiến đến tháng 7/2016, nhà máy sẽ hoàn thành và đi vào hoạt động, hòa vào lưới điện quốc gia 28 triệu kWh điện/năm.
       

      Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải cùng lãnh đạo các bộ, ngành T.Ư và tỉnh Quảng Ngãi khởi công dự án

       
      Đây là dự án điện mặt trời có công suất lớn và đầu tiên của Việt Nam, sử dụng thiết bị và công nghệ hiện đại của Đức và Ấn Độ, không gây ô nhiễm môi trường kể cả bụi, tiếng ồn và nước thải.
      Phát biểu tại buổi lễ, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải cho rằng dự án có nhiều ý nghĩa về mặt kinh tế-xã hội, mở đầu cho làn sóng đầu tư mới trong việc khai thác, phát triển các nguồn năng lượng tái tạo ở Việt Nam, góp phần vì một hành tinh xanh hơn, vì một môi trường phát triển bền vững hơn.
    • ​Lập dự án nhà máy điện mặt trời tại Ninh Thuận

       

      Ảnh minh họa

      Dự án có diện tích 50 ha, công suất 25 MW, sử dụng công nghệ PV với tổng mức đầu tư khoảng 825 tỷ đồng.

      Ông Võ Đại, Phó chủ tịch UBND tỉnh cho biết, thời gian qua, chủ dự án đã lắp đặt hệ thống trạm quan trắc để đo đạc năng lượng bức xạ mặt trời bằng máy đo bức xạ “SOLAR-100” của hãng Amprobe tại khu vực dự kiến triển khai để có cơ sở đánh giá tính khả thi của dự án.

      Sau đó, chủ dự án đã có báo cáo số liệu thực tế đo được và kết quả cho thấy phù hợp với việc khai thác tiềm năng năng lượng mặt trời cung cấp nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng sạch cho tỉnh.

      Tuy nhiên, theo ông Đại, hiện UBND tỉnh đang chỉ đạo cho các sở, ngành liên quan yêu cầu phía chủ dự án phải chứng minh năng lực tài chính, thực hiện ký quỹ triển khai dự án, hoàn thiện các thủ tục bổ sung quy hoạch dự án điện mặt trời HBRE vào quy hoạch phát triển điện mặt trời tỉnh Ninh Thuận, sau đó UBND tỉnh mới có quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư, địa điểm đầu tư.

    • Ninh Thuận đề nghị bổ sung dự án điện gió vào quy hoạch

      Dự án này do Công ty cổ phần LandVille Energy, công ty con của Tập đoàn LandVille Inc (Hàn Quốc) làm chủ đầu tư và đã đề xuất với chính quyền tỉnh Ninh Thuận từ năm 2011. Sau một thời gian đề xuất, do chậm làm thủ tục đầu tư, tháng 4 năm ngoái, LandVille đã bị UBND tỉnh Ninh Thuận cảnh báo thu hồi chủ trương đầu tư. Tuy nhiên, đến nay, hồ sơ trình bổ sung Quy hoạch Dự án Điện gió LandVille đã đáp ứng các điều kiện theo hướng dẫn tại Thông tư 32/2012/TT-BTC của Bộ Công thương quy định thực hiện phát triển điện gió và hợp đồng mua bán điện mẫu cho các dự án điện gió, nên tỉnh Ninh Thuận đã đề nghị Bộ Công thương bổ sung Dự án vào Quy hoạch. Theo ông Võ Đại, Phó chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận, đây là căn cứ để nhà đầu tư triển khai các bước tiếp theo.

      Dự án được xây dựng với tổng công suất lắp đặt là 140,3 MW. Ảnh minh họa

      Thông tin chi tiết về dự án mà Ninh Thuận kiến nghị Bộ Công thương lần này chưa được tiết lộ. Tuy nhiên, theo ông Võ Đại, Dự án được xây dựng với tổng công suất lắp đặt là 140,3 MW, trên 3 lô đất khác nhau. Tổng diện tích đất để khảo sát dự án này lên đến 850 ha.

      Nếu được chấp thuận, LandVille sẽ có cơ hội hiện thực hóa kế hoạch đầu tư của mình tại Việt Nam. Tuy nhiên, một thực tế hiện nay tại Ninh Thuận là, tỉnh có 12 dự án điện gió nằm trong Quy hoạch, trong đó, nhiều dự án đã có chủ, như Nhà máy Điện năng lượng tái tạo Phước Nam - Enfinity, Nhà máy Điện gió Mũi Dinh…, song tình trạng chậm tiến độ diễn ra rất phổ biến.

      Nổi bật trong số đó là Nhà máy Phước Nam - Enfinity của nhà đầu tư Enfinity (Bỉ). Dự án này đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư từ tháng 3/2011, với tổng vốn đăng ký 266 triệu USD. Theo kế hoạch, Enfinity sẽ triển khai dự án để đến tháng 12/2012 có thể đưa dự án vào hoạt động. Tuy nhiên, đến nay, Dự án vẫn chưa hoàn tất các thủ tục theo quy định để tiến hành khởi công xây dựng.

      Cuối năm 2011, nhà đầu tư này đã từng cam kết rằng, tới cuối năm 2012, sẽ triển khai Dự án, nhưng đến nay vẫn giậm chân tại chỗ. Đó là lý do khiến UBND tỉnh Ninh Thuận rất sốt ruột và nhiều lần hối thúc nhà đầu tư khẩn trương tập trung nguồn lực để đẩy nhanh tiến độ triển khai Dự án. Hàng loạt dự án điện gió của Impsa (Argentina), Timur (Malaysia)… dù cam kết đầu tư lớn, song đến nay, có chủ đầu tư đã ra đi, trong khi những chủ đầu tư còn trụ lại thì cũng trong tình trạng chấp chới.

      Thực tế, đó là tình trạng chung không chỉ ở tỉnh Ninh Thuận, mà còn ở nhiều địa phương khác có dự án điện gió. Cơ chế, chính sách chưa rõ ràng đối với phát triển năng lượng tái tạo được cho là một trong những nguyên nhân chính khiến các dự án này chậm chạp trong triển khai. Tại Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam (VBF) giữa kỳ mới đây, Tiểu nhóm Công tác điện và năng lượng của VBF đã thẳng thắn bày tỏ quan điểm rằng, năng lượng tái tạo là phù hợp nhất để hỗ trợ nhu cầu năng lượng của Việt Nam trong tương lai gần nhờ khả năng mở rộng trong một thời gian ngắn. Bởi vậy, để phát triển năng lượng tái tạo, phải tạo ra một môi trường thu hút đầu tư trong lĩnh vực này.

      “Chúng tôi ủng hộ đề xuất của các cơ quan tư vấn cho Bộ Công thương về việc tăng mức giá bán cho điện sản xuất (FIT) từ năng lượng gió, đồng thời đơn giản hóa thủ tục đăng ký và triển khai”, đại diện Tiểu nhóm Công tác điện và năng lượng của VBF phát biểu.

      Liên quan vấn đề này, ông Sigmud Stromme, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Bắc Âu tại Việt Nam, Văn phòng TP.HCM cũng nêu quan điểm: “Hãy gia tăng FIT cho năng lượng gió và đơn giản hóa quy trình đầu tư”, đồng thời đề xuất rằng, các chính sách tương tự nên được áp dụng cho cả các hợp đồng mua bán điện đối với các nhà máy điện sinh khối và nhà máy sản xuất điện từ chất thải.

    • EU hỗ trợ Việt Nam phát triển năng lượng bền vững

      EU hỗ trợ 346 triệu Euro giúp Việt Nam phát triển năng lượng bền vững - Nguồn: Internet

      Việt Nam cần sự hỗ trợ để phát triển năng lượng

      Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050 đề ra mục tiêu phấn đấu đảm bảo cung cấp đủ năng lượng cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Cụ thể, đến năm 2020 đạt khoảng 100 – 110 triệu TOE (tấn dầu quy đổi) năng lượng sơ cấp và khoảng 310 – 320 triệu TOE vào năm 2050, tăng tỷ lệ các nguồn năng lượng mới và tái tạo lên khoảng 5% vào năm 2020.

      Mục tiêu phát triển năng lượng tái tạo cũng được đề cập trong Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 – 2020, có xét đến năm 2030 (Quy hoạch điện VII): “Ưu tiên phát triển nguồn điện từ năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối…), phát triển nhanh, từng bước gia tăng tỷ trọng của điện năng sản xuất từ nguồn năng lượng tái tạo. Sử dụng các nguồn năng lượng mới và tái tạo để cấp điện cho các khu vực vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo”…

      Thực tế, Việt Nam có lợi thế lớn với sự đa dạng nguồn năng lượng tái tạo. Theo tài liệu của Ngân hàng Thế giới (WB), tiềm năng điện gió của Việt Nam khoảng 2.099.333 MW, tổng diện tích có thể phát triển điện gió là 209.933 km2, chiếm 63% diện tích lãnh thổ.Về năng lượng mặt trời, theo báo cáo của Trung tâm Năng lượng - Môi trường và Công nghệ (CIEMAT) năm 2014, tổng xạ trung bình tại khu vực phía Bắc, ven biển miền Trung, phía Nam lần lượt là 3.4, 3.8, 4.8 kWh/m2/ngày. Đây là lượng bức xạ cao, đủ để khai thác điện mặt trời.

      Tuy nhiên, theo Viện Năng lượng Bộ Công Thương, dù có nguồn năng lượng tái tạo dồi dào, nhưng Việt Nam chưa khai thác một cách hiệu quả. Hiện cả nước chỉ có khoảng 52 MW điện gió. Còn điện mặt trời mới chỉ lắp đặt được 4 MW, chủ yếu ở dạng thí nghiệm. Với năng lượng sinh khối, Việt Nam có tổng công suất khoảng 150 MW, sản xuất điện chủ yếu từ bã mía tại các nhà máy đường.

      Viện Năng lượng cũng đưa ra những khó khăn, vướng mắc trong việc phát triển năng lượng tái tạo ở nước ta. Hiện nay, lợi nhuận từ việc khai thác điện gió, điện mặt trời chưa đủ sức hấp dẫn các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, giá thành các loại năng lượng tái tạo lại cao hơn giá năng lượng truyền thống. Một thách thức nữa là hiểu biết về năng lượng tái tạo của người dân nhìn chung còn hạn chế...

      Việt Nam ngày càng phụ thuộc nhiều vào các nguồn năng lượng truyền thống. Trong khi đó, nhu cầu năng lượng cho phát triển kinh tế - xã hội ngày càng gia tăng. Điều  này dẫn đến nguy cơ Việt Nam sẽ thiếu hụt năng lượng trong 10 năm tới. Tại Hội thảo Khởi động chương trình “Hỗ trợ của Liên minh Châu Âu cho phát triển năng lượng bền vững tại Việt Nam”, Thứ trưởng Bộ Công thương Hoàng Quốc Vượng cho biết, Việt Nam cần sự hỗ trợ hoạch định chiến lược phát triển ngành năng lượng, quy hoạch năng lượng, xây dựng thị trường năng lượng cạnh tranh để cải thiện hiệu quả và năng suất của ngành năng lượng, tăng tỷ trọng các nguồn năng lượng sạch và năng lượng tái tạo, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

      EU viện trợ 346 triệu Euro

      “EU muốn trở thành một đối tác chiến lược và thúc đẩy việc thực hiện chương trình hỗ trợ năng lượng một cách hiệu quả, thuận lợi, với các lợi ích bền vững cho người dân Việt Nam”, đó là khẳng định của Tiến sĩ Franz Jessen - Trưởng Phái đoàn EU tại Việt Nam.

      Giai đoạn 2011 – 2020, Việt Nam ưu tiên phát triển nguồn điện từ năng lượng tái tạo. Ảnh minh họa

      Ông Franz Jessen khẳng định, Hội thảo khởi động chương trình “Hỗ trợ của Liên minh Châu Âu cho phát triển năng lượng bền vững tại Việt Nam” là sự kiện đánh dấu việc chính thức hợp tác giữa EU và Việt Nam trong lĩnh vực năng lượng. Theo đó, giai đoạn 2014 – 2020, EU có kế hoạch sẽ viện trợ không hoàn lại 346 triệu Euro cho Việt Nam nhằm giúp Việt Nam sản xuất và tiêu thụ năng lượng một cách hiệu quả hơn; tăng tỉ lệ năng lượng sạch và năng lượng tái tạo trong tổng năng lượng sản xuất; mọi người dân được tiếp cận các dịch vụ năng lượng tin cậy và bền vững.

      Những mục tiêu này sẽ được chi tiết hóa thông qua việc hợp tác chặt chẽ với Chính phủ Việt Nam. Theo ông Franz Jessen, việc hỗ trợ phát triển năng lượng bền vững của EU sẽ được thực hiện thông qua các phương thức: Tiếp cận dự án hoặc hỗ trợ kỹ thuật, hỗ trợ ngân sách ngành, và các hoạt động tài chính.

      Theo Thứ trưởng Hoàng Quốc Vượng, chương trình Hỗ trợ của Liên minh châu Âu cho phát triển năng lượng bền vững tại Việt Nam sẽ góp phần giúp Việt Nam cải thiện hiệu quả sản xuất và tiêu thụ năng lượng tại Việt Nam, gia tăng tỷ trọng năng lượng sạch và năng lượng tái tạo trên tổng năng lượng sản xuất và mọi người dân được tiếp cận với các dịch vụ năng lượng tin cậy và bền vững.

      Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 – 2020, có xét đến năm 2030:

      “Ưu tiên phát triển nguồn điện từ năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối,…), phát triển nhanh, từng bước gia tăng tỷ trọng của điện năng sản xuất từ nguồn năng lượng tái tạo:

      - Đưa tổng công suất nguồn điện gió từ mức không đáng kể hiện nay lên khoảng 1.000 MW vào năm 2020, khoảng 6.200 MW vào năm 2030; điện năng sản xuất từ nguồn điện gió chiếm tỷ trọng từ 0,7% năm 2020 lên 2,4% vào năm 2030.

      - Phát triển điện sinh khối, đồng phát điện tại các nhà máy đường, đến năm 2020, nguồn điện này có tổng công suất khoảng 500 MW, nâng lên 2.000 MW vào năm 2030; tỷ trọng điện sản xuất tăng từ 0,6% năm 2020 lên 1,1% năm 2030”.

       

    • Góp ý cho dự thảo Thông tư quy định về phát triển dự án điện sinh khối và điện từ rác thải rắn

      Tham dự Hội thảo có lãnh đạo Vụ Năng lượng mới - Tổng Cục Năng lượng - Bộ Công Thương, ông Werner Kossmann - Cố vấn trưởng dự án GIZ/RESP, một số chuyên gia Việt Nam, nước ngoài và đại diện của các doanh nghiệp đang tham gia sản xuất điện sinh khối, điện từ chất thải rắn tại Việt Nam…

      Thực hiện nhiệm vụ của Chính phủ, Bộ Công Thương giao, Tổng cục Năng lượng xây dựng dự thảo: Thông tư quy định về thực hiện phát triển dự án điện sinh khối, biểu giá chi phí tránh được cho các dự án điện sinh khối và Hợp đồng mua bán điện mẫu cho các dự án điện sinh khối; Thông tư quy định về nội dung, trình tự, thủ tục lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch phát triển điện sinh khối; Thông tư quy định thực hiện phát triển các dự án phát điện từ chất thải rắn và Hợp đồng mua bán điện mẫu cho các dự án phát điện từ chất thải rắn.

      Tại hội thảo, nhiều đại biểu đã góp ý về quy tắc nối lưới, những vấn đề mang tính nguyên tắc chung cũng như một số nội dung cụ thể được đề cập đến trong các dự thảo thông tư.

      Ông Lê Hồng Linh, Cục Thẩm định và Đánh giá tác động môi trường, Bộ Tài nguyên Môi trường đề nghị: Phần giải thích thuật ngữ của Thông tư cần bám sát các văn bản pháp lý của Bộ Tài nguyên Môi trường, đưa ra phân biệt chất thải rắn khác gì các chất thải thông thường...

      Ông Nguyễn Hải – Tổng thư ký Hiệp hội mía đường Việt Nam đề nghị: Tiềm năng năng lượng tái tạo của ngành mía đường tại Việt Nam là rất lớn. Trên thế giới chưa có cây nào mà sinh khối tăng trưởng như cây mía. Rất mong Chính phủ, Bộ Công thương, Tổng cục Năng lượng quan tâm để có chính sách tốt hơn, kịp thời hơn cho sinh khối từ mía đường.

      Cũng tại Hội thảo, nhóm tư vấn từ GIZ đã đưa ra những tính toán dự kiến về chi phí tránh được cho điện sinh khối khoảng 11.97 US ct/ kWh, không bao gồm chi phí môi trường và xã hội. Giá trị này được xác định nằm trong mức giá FIT (giá bán điện năng sản xuất ra từ nguồn năng lượng tái tạo được cung cấp vào hoặc bán cho lưới điện) thực tế của các nước trong khu vực và đủ để xây dựng vận hành dự án điện sinh khối.

    • Hai nhà máy điện mặt trời lớn nhất thế giới

      Trang trại quang điện Topaz (công suất 550 MW)

      Chủ sở hữu Topaz (Công ty MidAmerican Renewables) đã đầu tư khoảng 2,5 tỷ USD và bắt đầu xây dựng trại quang điện này từ năm 2011. Topaz được hoàn thành, đi vào hoạt động vào tháng 11/2014. Có khoảng  hơn 400 công nhân tham gia lắp đặt gần 9 triệu tấm pin mặt trời trên diện tích gần 25 km2. Đây là loại pin quang năng Cadmium-telluride (CdTe) dạng mỏng, do Công ty First Solar (Mỹ) chế tạo.

      Không giống như các trang trại điện mặt trời tập trung, Topaz không sử dụng nước trong quá trình sản xuất điện. Năng lượng mặt trời được tổng hợp trên các tấm pin quang năng. Với sản lượng hàng năm ở mức 1,1 GWh, Topaz có thể cung cấp điện cho khoảng 160.000 hộ gia đình và cắt giảm 300.000 tấn CO2 mỗi năm, tương đương lượng khí thải của 73.000 xe ô tô.

      Topaz là nhà máy quang điện thương mại thứ hai được xây dựng tại bang California. Trước đó, Nhà máy California Valley Solar Ranch công suất 250 MW đã được hoàn thành năm 2011. Công ty First Solar sẽ tiếp tục đầu tư phát triển điện mặt trời tại bang California – nơi có 25% diện tích bang là sa mạc nắng nóng. Đây là điều kiện tự nhiên lý tưởng cho sản xuất điện mặt trời quy mô lớn.

      Nhà máy điện mặt trời Topaz công suất 550 MW - Nguồn: Internet

      Nhà máy sản xuất điện mặt trời tập trung Ivanpah (Công suất 392 MW)

      Nhà máy điện mặt trời Ivanpah có tổng vốn đầu tư khoảng 2,2 tỷ USD, được xây dựng trên diện tích khoảng 13km2, tại sa mạc Mojave, bang California. Chủ đầu tư dự án là Công ty Năng lượng NRG, BrighSource và Google. Nhà máy được khởi công xây dựng từ tháng 10/2010, đi vào vận hành từ tháng 2/2014.

      Ivanpah được trang bị khoảng 347.000 chiếc gương điều khiển bằng máy tính, mỗi chiếc cao khoảng 2,13m và rộng khoảng 3,05m. Hệ thống gương này được điều chỉnh để tập trung ánh sáng mặt trời vào 3 ngọn tháp cao gần 140m. Tại đây, nhiệt năng sẽ làm nước bốc hơi và chạy tuabin phát điện. Khi vận hành hết công suất, hệ thống  Ivanpah sẽ cấp điện đủ cho 140.000 hộ gia đình.

      Hơn 1.700 công nhân đã làm việc trong suốt hơn 3 năm để xây dựng hoàn thiện Nhà máy điện mặt trời tập Trung Ivanpah. Khi nhà máy đi vào hoạt động, có khoảng 80 lao động tham gia vận hành và bảo dưỡng hệ thống.

      Với việc sản xuất điện từ nguồn năng lượng sạch, Ivanpah giảm 400.000 tấn CO2 thải ra môi trường mỗi năm. Theo Bộ Năng lượng Mỹ, việc Ivanpah đi vào vận hành thương mại là một mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển của công nghệ điện mặt trời tập trung tại nước này.

      Hiện nay, năng lượng mặt trời được khai thác chủ yếu theo 2 công nghệ: Sử dụng pin quang điện (PV) và hệ thống điện mặt trời tập trung (CSP).

      - Nhà máy quang điện sử dụng các tấm pin quang điện để biến đổi năng lượng ánh sáng thành điện năng.

      - Nhà máy điện mặt trời tập trung sử dụng hệ thống điều khiển số lượng lớn các tấm gương, tập trung ánh sáng mặt trời vào một điểm, đốt nóng chất lỏng, tạo hơi nước chạy tuabin phát điện.

      Mỹ có 682 dự án năng lượng mặt trời đang hoạt động, đủ để cấp điện cho  1,7 triệu hộ dân. Tới năm 2017, khi có thêm một số dự án hoàn thành, khoảng 4 triệu hộ dân Mỹ sẽ được cấp điện từ năng lượng mặt trời.

       

    • Xây dựng cơ chế hỗ trợ phát triển điện mặt trời

      Những dự án điện mặt trời luôn nằm trong mục tiêu ưu tiên nhằm đảm bảo cung cấp đủ năng lượng với chất lượng cao, sử dụng nhiều nguồn tái tạo đi đôi với bảo đảm môi trường mà Chính phủ đã phê duyệt trong Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia.

      Mặc dù vậy, nguồn năng lượng này vẫn chưa được khai thác đáng kể khi các dự án chủ yếu mang tính thí điểm, không nối lưới và chưa có dự án thương mại. Nguyên nhân là do giá thành sản xuất điện mặt trời còn cao, suất đầu tư lớn, chưa có cơ chế riêng về giá bán điện từ các dự án này để thu hút nhà đầu tư.

      Với điểm chung của các kịch bản về sự thiếu hụt các nguồn năng lượng truyền thống tại Việt Nam trong tương lai đã đặt ra yêu cầu cần sớm tính toán đến những phương án đa dạng, huy động tối đa các hình thức năng lượng mới, trong đó có điện mặt trời.

      Do là nước nằm gần xích đạo, Việt Nam được coi là có tiềm năng điện mặt trời với 4 - 5 kWh/m2/ngày, tập trung ở miền Trung và miền Nam. Đánh giá gần đây của tư vấn quốc tế cho thấy, nếu quy mô nhà máy khoảng 50 MW sử dụng công nghệ CHP sẽ sản xuất được từ 60 - 100 triệu kWh/năm. Trong khi đó, một nhà máy với quy mô 1 MW sử dụng công nghệ solar PV sẽ sản xuất được 1,2 triệu kWh/năm.

      Tại buổi làm việc với Bộ Công Thương, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải tán thành quan điểm sớm xây dựng cơ sở pháp lý để khuyến khích hoạt động đầu tư phát triển điện từ năng lượng mặt trời tại Việt Nam. Trong đó, cần xác định rõ những vấn đề như bản đồ quy hoạch điện mặt trời; các mô hình triển khai cấp dự án, cấp hộ gia đình, dự án nối lưới và không nối lưới; trách nhiệm mua điện nối lưới; ưu đãi về đầu tư với từng loại dự án…

      Cơ quan soạn thảo cần chú ý quy định về giá bán điện của các dự án điện mặt trời nối lưới; trong đó có trách nhiệm bên mua, nguyên tắc bù trừ năng lượng giữa lượng điện phát và tiêu thụ ở các dự án lắp điện mặt trời trên mái nhà hộ gia đình.

      Đồng thời cần nghiên cứu, tham khảo kỹ kinh nghiệm phát triển của các quốc gia đi trước trong lĩnh vực này, để tính toán chọn lọc những quy định phù hợp với Việt Nam khi xây dựng cơ chế hỗ trợ.

    • Cuối tháng 5/2015, dự kiến đóng điện đợt 1 thuộc giai đoạn 2 Dự án nhà máy điện gió Bạc Liêu

      Ông Tô Hoài Dân - Tổng giám đốc Công ty TNHH Xây dựng - Thương mại - Du lịch Công Lý cho biết, sau 14 tháng vận hành, giai đoạn 1 của Dự án nhà máy điện gió Bạc Liêu gồm 10 trụ turbine đã hòa lưới điện quốc gia 58 triệu kWh. 

      Trên cơ sở đó, Công ty đã tiến hành triển khai đầu tư xây dựng giai đoạn 2 với tổng vốn đầu tư hơn 4.200 tỷ đồng, gồm 52 trụ turbine gió, chính thức khởi công từ tháng 11/2013. Hiện nay, các gói thầu thi công móng trụ turbin gió, thi công hạ tầng điện và cầu công tác đã được triển khai trên 65% khối lượng công việc.

      Đại diện Công ty TNHH Xây dựng - Thương mại - Du lịch Công Lý cam kết sẽ tăng cường mọi điều kiện kỹ thuật, nhân lực, thiết bị tổ chức thi công tốt nhất để sớm đưa dự án hoàn thành vừa đảm bảo tiến độ, chất lượng, vừa đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh môi trường và phát huy cao nhất hiệu quả đầu tư dự án.

      Phát biểu tại buổi ra quân, ông Lê Minh Khái - Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu cũng khẳng định, tỉnh luôn quan tâm, tạo mọi điều kiện thu hút đầu tư trên nhiều lĩnh vực và Dự án nhà máy điện gió Bạc Liêu là một điển hình. 

      Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Bạc Liêu cũng đề nghị chủ đầu tư tiếp tục giữ vững công tác quản lý, đầu tư của giai đoạn 1; đội ngũ kỹ sư, công nhân cần sáng tạo, cải tiến kỹ thuật trong quá trình lao động nhằm đảm bảo hoàn thành công trình đạt chất lượng, đúng tiến độ hòa lưới điện quốc gia.

      Theo kế hoạch, dự kiến quý II/2016 sẽ hoàn thành giai đoạn 2 của dự án, với 3 đợt đóng điện. Trong đó, dự kiến sẽ đóng điện đợt 1 vào ngày 29/5/2015, gồm 20 turbine gió, nâng công suất phát điện lên 48 MW, tăng thêm 28 triệu kWh điện so với giai đoạn 1; đợt 2 vào ngày 02/9/2015, gồm 16 turbine gió, nâng công suất phát điện lên 73,6 MW và đợt 3 vào ngày 30/4/2016, gồm 16 turbine gió, nâng công suất phát điện dự án là 99,2 MW.

    • Giới thiệu bản đồ bức xạ mặt trời tại Việt Nam

      Dự án hỗ trợ kỹ thuật “Thúc đẩy phát triển năng lượng mặt trời tại Việt Nam” do Chính phủ Tây Ban Nha tài trợ không hoàn lại, được thực hiện từ năm 2013 với tổng giá trị là 1 triệu Euro. Bao gồm 3 phần: Một là đánh giá tiềm năng phát triển năng lượng mặt trời và xây dựng bản đồ tiềm năng năng lượng mặt trời tại Việt Nam. Hai là xây dựng 2 dự án thí điểm năng lượng mặt trời, cụ thể tại trụ sở Bộ Công Thương (23 Ngô Quyền) và đảo Côn Đảo (Vũng Tàu). Cuối cùng là xây dựng mối quan hệ giữa các viện nghiên cứu, đối tác công tư tại Việt Nam và Tây Ban Nha.

      Ông Alfonso Tena García – Đại sứ Tây Ban Nha tại Việt Nam:

      Năng lượng là một trong những thách thức rất lớn đối với Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh nhu cầu sử dụng ngày càng tăng cao như hiện nay. Năng lượng tái tạo, trong đó có năng lượng mặt trời sẽ đóng vai trò quan trọng để đảm bảo an ninh năng lượng cho Việt Nam, tương tự như trường hợp của Tây Ban Nha. Tôi hy vọng rằng, với sự hợp tác, hỗ trợ của Chính phủ Tây Ban Nha, Việt Nam sẽ có thêm nhiều công cụ để thúc đẩy ngành năng lượng này phát triển. 

      Việc đánh giá tiềm năng phát triển và lập bản đồ tiềm năng năng lượng mặt trời tại Việt Nam là một hoạt động quan trọng trong khuôn khổ của Dự án. Do 3 viện nghiên cứu hàng đầu của Tây Ban Nha thực hiện, trên cơ sở số liệu đo tại gần 200 trạm và các loại vệ tinh do Trung tâm dịch vụ khí tượng thủy văn (thuộc Bộ Tài nguyên và môi trường) cung cấp. Từ đó thiết lập bản đồ tiềm năng năng lượng mặt trời tại Việt Nam.

      Theo ông Lê Tuấn Phong - Tổng cục phó Tổng cục Năng lượng, bản đồ tiềm năng năng lượng mặt trời tại Việt Nam là công cụ hiệu quả để xác định thông tin định lượng, chất lượng và tiềm năng khai thác năng lượng mặt trời tại Việt Nam. Đây cũng là cơ sở quan trọng giúp các cơ quan nhà nước xây dựng chính sách, quy hoạch phát triển năng lượng mặt trời, giúp các nhà đầu tư tìm ra địa điểm có số giờ nắng tốt để triển khai các dự án.

      Trong thời gian tới, bản đồ về tiềm năng lượng năng lượng mặt trời tại Việt Nam sẽ được công bố rộng rãi nhằm giúp cơ quan nhà nước và Chính phủ Việt Nam trong việc hoạch định chính sách để phát triển năng lượng mặt trời. 

    • Dự thảo quy chuẩn đấu nối điện gió vào hệ thống điện quốc gia

      Việt Nam đang nỗ lực đạt mục tiêu công suất điện gió 1.000 MW vào năm 2020 - Ảnh: H.Hiếu

      Trên cơ sở bản dự thảo, các bộ, ngành, đơn vị và đối tác tài chính trao đổi, đóng góp ý kiến để hoàn thiện Quy trình đấu nối điện gió vào hệ thống điện Việt Nam. Đây cũng là mục tiêu tại Hội thảo tư vấn nghiên cứu tích hợp điện gió vào hệ thống điện và bản thảo quy chuẩn đấu nối điện gió, do EVN và ICASEA tổ chức, ngày 8/1/2014.

      Theo Quy hoạch Điện VII, Việt Nam ưu tiên phát triển các nguồn năng lượng tái tạo, đưa tỷ trọng từ 3,5% (năm 2010) lên 4,5% (năm 2020) và đạt 6% vào năm 2030 trong tổng công suất nguồn điện của cả nước. Trong đó, điện gió sẽ được tập trung phát triển với mục tiêu đưa công suất lên 1.000 MW (tương đương 0,7% tổng công suất nguồn điện) vào năm 2020 và 6.200 MW (tương đương 2,4% tổng công suất nguồn điện) vào năm 2030.

      Để đạt được được mục tiêu này, thời gian qua Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi; Bộ Công Thương, Tập đoàn Điện lực Việt Nam cũng tiến hành nhiều biện pháp nhằm thúc đẩy điện gió nói riêng và năng lượng tái tạo nói chung phát triển.

      Năm 2012, Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Hiệp hội đồng quốc tế khu vực Đông Nam Á đã ký biên bản ghi nhớ hợp tác nghiên cứu đấu nối điện gió vào hệ thống điện Việt Nam và sự tham gia của điện gió vào thị trường điện.

      Kết thúc giai đoạn 1 của bản ghi nhớ (2012 – 2013), EVN và ICASEA đã xuất bản Sổ tay kỹ thuật về đấu nối điện gió vào hệ thống điện Việt Nam. Để nghiên cứu sâu hơn, EVN và ICASEA đã thống nhất tiếp tục thực hiện giai đoạn 2. Sau hơn một năm, EVN và ICASEA đã hoàn thiện Dự thảo quy chuẩn đấu nối điện gió vào hệ thống điện Việt Nam.

      Tại Hội thảo tư vấn nghiên cứu tích hợp điện gió vào hệ thống điện và bản thảo quy chuẩn đấu nối điện gió, các đơn vị tư vấn của EVN và ICASEA đã trình bày chi tiết kết quả nghiên cứu và giới thiệu bản thảo Quy chuẩn đấu nối điện gió. Trên cơ sở đó, các Bộ, ngành, tổ chức tài chính và đơn vị liên quan đóng góp ý kiến để hoàn thiện Dự thảo.

      Dự kiến đến tháng 4/2015, EVN và ICASEA sẽ nộp bản Dự thảo về quy chuẩn đấu nối điện gió cho Cục Điều tiết Điện lực và đến cuối năm 2015 sẽ xuất bản Quy chuẩn chính thức.

    • Quảng Ngãi sẽ đầu tư hơn 3.540 tỷ đồng để phát triển năng lượng tái tạo

      Việc đầu tư sẽ chia làm 2 giai đoạn, trong đó, giai đoạn từ năm 2013 – 2020 sẽ đầu tư 2.455,49 tỷ đồng, giai đoạn từ 2020 – 2030 sẽ đầu tư số vốn 1.085,36 tỷ đồng.

      Để đảm bảo nguồn vốn cho các dự án NLTT, tỉnh Quảng Ngãi huy động các tổ chức, thành phần kinh tế tham gia đầu tư, huy động tài chính từ các nguồn tài trợ của các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước, tăng đầu tư từ nguồn Ngân sách Nhà nước…

      Tương ứng với mức đầu tư trên, giai đoạn từ năm 2013 – 2020, tỉnh Quảng Ngãi định hướng phát triển 53,2 MW nguồn điện tái tạo nối lưới. Trong đó, thuỷ điện nhỏ là 19,8 MW; điện khí sinh học 4,0 MW; điện từ đốt chất thải rắn công nghiệp và đô thị 2 MW; điện bã mía 6,0 MW; điện địa nhiệt 21,4 MW.

      Trong giai đoạn từ năm 2020 - 2030, tỉnh Quảng Ngãi sẽ có thêm 23,8 MW nguồn điện tái tạo nối lưới. Trong đó, thuỷ điện nhỏ là 13,0 MW, điện từ đốt chất thải rắn công nghiệp và đô thị 1,5 MW, điện gió 3,3 MW , điện mặt trời 6 MW.

      Các dự án NLTT quy mô nhỏ sẽ góp phần đảm bảo mục tiêu điện khí hóa nông thôn, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở vùng sâu, vùng xa tỉnh Quảng Ngãi. Đồng thời, việc thay thế năng lượng hóa thạch bằng các nguồn NLTT sẽ góp phần giảm tác động xấu đến môi trường.

    • Đức: Năng lượng tái tạo là nguồn cung quan trọng nhất

      Tờ Thế giới (die Welt) của Đức cho biết trong 9 tháng năm 2014, lượng điện được sản xuất từ năng lượng gió, mặt trời, nước và năng lượng sinh học chiếm tới 27,7% tổng lượng điện tiêu thụ tại Đức.

      Than nâu chỉ còn chiếm 26,3%, tiếp theo là than đá (18,5%) và điện hạt nhân (16 %). Trong số các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng gió chiếm tỷ lệ cao nhất với 9,5%, tiếp đến là năng lượng sinh khối (8,1%) và năng lượng mặt trời (6,8%).

      Trong khi đó, lượng điện sản xuất từ các nhà máy điện chạy bằng khí đốt ghi nhận một mức giảm mạnh và hiện chỉ chiếm khoảng 10% tổng lượng điện tiêu thụ của Đức. Nguyên nhân là do lợi nhuận của các nhà máy điện khí đang có chiều hướng sụt giảm do giá khí đốt tăng và sự cạnh tranh mạnh từ các nguồn năng lượng mới.

      Sự tăng trưởng mạnh mẽ của lĩnh vực năng lượng sạch, cùng với việc các nhà máy nhiệt điện và điện hạt nhân của Đức vẫn duy trì sản lượng ổn định, khiến tình trạng dư thừa điện đã xuất hiện tại Đức.

      Tình hình này có thể dẫn đến những ảnh hưởng tiêu cực tới giá bán điện. Do đó, các tập đoàn năng lượng và Chính phủ Đức đang tính toán để giữ ổn định sản lượng điện và giá bán ở mức phù hợp.

      Đức hiện là một trong những nước dẫn đầu thế giới về phát triển các nguồn năng lượng sạch từ tự nhiên, đồng thời nắm giữ nhiều công nghệ nguồn trong lĩnh vực này.

    • Năng lượng tái tạo sẽ có triển vọng khả quan

      Phóng viên: Với vai trò Tân cố vấn cao cấp về Năng lượng tái tạo GIZ Đức, ông thấy sao về tình hình năng lượng tái tạo, trong đó có điện gió ở Việt Nam?

      Ông Ingmar Stelter: Nhìn vào bối cảnh toàn cầu, chúng ta có thể thấy rằng sự am hiểu về năng lượng tái tạo đã thay đổi đáng kể trong vòng 10 năm trở lại đây. Kế hoạch của Chính phủ Việt Nam trong việc gia tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo để phát điện là một cách tiếp cận phù hợp và sáng suốt, đảm bảo tương lai cho ngành năng lượng Việt Nam.

      Lý do vì sao tôi nói vậy? Đó là bởi nhu cầu điện của Việt Nam ngày càng tăng nhanh. Năng lượng tái tạo có thể triển khai  nhanh hơn so với các dạng năng lượng truyền thống. Bên cạnh đó, năng lượng tái tạo, đặc biệt là năng lượng mặt trời phù hợp với mô hình tiêu thụ điện của Việt Nam.

      Không những vậy, công nghệ năng lượng tái tạo ngày càng trở nên hoàn thiện hơn trong những năm gần đây. Trong khí đó, giá cả đang trong xu hướng ngày càng giảm.

      Lý do cuối cùng, đó là, năng lượng tái tạo đang đóng vai trò quan trọng trong phát triển công nghiệp, nông thôn và tạo công ăn việc làm tại Việt Nam. Với các lý do trên, tôi hoàn toàn tin tưởng ngành năng lượng tái tạo tại Việt Nam sẽ có một triển vọng khả quan. Và GIZ thay mặt cho Bộ hợp tác và phát triển kinh tế CHLB Đức đã sẵn sàng hỗ trợ chính phủ Việt Nam trong phát triển ngành năng lượng tái tạo.

      Theo ông Ingmar Stelter: Địa điểm dự án gió trên bờ tốt sẽ được ưu tiên phát triển trước vì có tiềm năng kinh tế và ít rủi ro hơn. Ảnh: Vương Thủy.

      Phóng viên: Trong hội thảo sửa đổi quyết định 37/ 2011/QĐ - TTg về phát triển điện gió gần đây, có một báo cáo: Ngân hàng Thế giới WB dự đoán Việt Nam có tiềm năng về điện gió vào khoảng 513.360 MW, nhưng con số thực tế khác quá xa với tiềm năng, ông đánh giá ra sao về sự khác biệt này?

      Ông Ingmar Stelter: Điều bạn đề cập mô tả tiềm năng khả thi kỹ thuật với tốc độ gió trên 6 m/s tại độ cao 65 m. Điều này chỉ là tiềm năng lý thuyết chứ không phải tiềm năng khả thi về mặt kinh tế. Tiềm năng khả thi về mặt kinh tế nói chung thường thấp hơn rất nhiều và sẽ là con số được các nhà đầu tư xem xét khi lập kế hoạch đầu tư dự án.

      Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra: Việt Nam có tiềm năng về điện gió vào khoảng 513.360 MW. Chúng ta cũng phải nhớ rằng nghiên cứu được đề cập ở trên được thực hiện vào năm 2001. Xem xét đến sự phát triển công nghệ từ năm 2001, con số về tiềm năng này có thể được giả định còn lớn hơn con số đã công bố.

      Phóng viên: Với địa hình của Việt Nam theo ông nên phát triển điện gió trên biển hay gần bờ sẽ tốt hơn?

      Ông Ingmar Stelter: Trong giai đoạn này, chúng ta cần tập trung hỗ trợ các nhà đầu tư phát triển dự án, đảm bảo nguồn tài chính phù hợp cho các dự án, thu hút các nhà sản xuất tuabin gió đến Việt Nam, tập huấn đào tạo đầy đủ đội ngũ nhân sự cho công tác dịch vụ, bảo trì,…

      Theo kinh nghiệm của chúng tôi, địa điểm dự án gió trên bờ tốt nhất nên được ưu tiên phát triển trước vì địa điểm này có tiềm năng kinh tế và ít rủi ro hơn.

      Phóng viên: Theo ông Lê Tuấn Phong, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Năng lượng: "Giá điện tiệm cận với giá thị trường là cơ hội tốt để phát triển điện gió". Còn theo ông, giá điện gió ở Việt Nam nên là mức bao nhiêu để nhà đầu tư hài lòng và người tiêu dùng chấp nhận ?

      Ông Ingmar Stelter: Việt Nam đã ban hành giá hỗ trợ điện gió là 7,8 cents/kWh vào năm 2011 nhưng giá hỗ trợ này chưa đủ hấp dẫn để khuyến khích đầu tư vào ngành điện gió. Cho đến nay chỉ mới có 50 MW công suất được lắp đặt trong khi công suất mục tiêu là 1 GW vào năm 2020.

      Trong nghiên cứu mà chúng tôi thực hiện hỗ trợ Tổng cục Năng lượng (Bộ Công thương), chúng tôi đề ra mức giá từ  9 – 12,5 cents/kWh cho dự án gió trên bờ và từ 10 – 13 cents/kWh cho dự án gió gần bờ. Mức giá này sẽ thu hút thêm nữa vốn đầu tư vào thị trường điện gió Việt Nam. Mức giá này tùy thuộc vào loại hình nhà đầu tư mà chính phủ muốn thu hút phát triển thị trường. Tuy nhiên, kinh nghiệm từ các quốc gia khác chỉ ra rằng việc tập trung khuyến khích một loại nhà đầu tư sẽ không khả thi để xây dựng thị trường điện gió và đạt mục tiêu tăng trưởng quốc gia.

      Ngoài ra, điều kiện khung được cải thiện sẽ giúp làm giảm rủi ro cho các đầu tư. Ví dụ như quy trình cấp phép, biên bản thỏa thuận về nối lưới và mua bán điện cần khẩn trương hơn hay các cơ hội nhận được miễn giảm thuế của các nhà đầu tư điện gió chẳng hạn.

      Xin cám ơn ông đã dành thời gian cho cuộc trò chuyện!

      Deutsche Gesellschaft für Internationale Zusammenarbeit (GIZ) là một tổ chức thuộc chính phủ Đức. Tổ chức hỗ trợ Chính phủ Đức hoàn thành các mục tiêu của mình trong lĩnh vực hợp tác quốc tế, hướng tới phát triển bền vững.

      Từ năm 1993, GIZ đã và đang triển khai tích cực các hoạt động tại Việt Nam trong các lĩnh vực ưu tiên của hợp tác phát triển: Phát triển kinh tế bền vững và đào tạo nghề, chính sách môi trường, nguồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển đô thị.

      Các hoạt động của GIZ được thực hiện dưới sự ủy quyền của Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển CHLB Đức (BMZ), Bộ Môi trường, Bảo tồn Thiên nhiên và An toàn Hạt nhân CHLB Đức (BMU).

      Bên cạnh đó, GIZ cũng hợp tác với Cơ quan Phát triển Quốc tế Australia (AusAID), Liên minh Châu Âu (EU) và Ngân hàng KfW của Đức.

       

    • Năng lượng tái tạo đắt hơn hạt nhân

      Đầu tư cho năng lượng tái tạo là một trong những vấn đề gây nhiều tranh cãi nhất đối với nhiều nước trên thế giới. Hàng tỷ USD đã được đầu tư vào ngành công nghiệp năng lượng Mặt trời và điện gió với hy vọng sẽ giảm thiểu sử dụng nhiên liệu hóa thạch gây ô nhiễm môi trường.

      Lâu nay, đa số quan điểm khoa học đều cho rằng có thể cắt bớt lượng khí thải carbon từ các nhà máy điện một cách tiết kiệm, đó là thay thế sản xuất điện từ than đốt bằng các lựa chọn xanh và sạch hơn, như năng lượng mặt trời, gió và khí gas tự nhiên. Tương lai của ngành công nghiệp năng lượng tái tạo dường như đang phát triển thuận lợi.

      Giá của tấm quang điện đã giảm một nửa từ năm 2008 và chi phí cho một nhà máy năng lượng Mặt trời giảm 22% trong 2010 - 2013. Ở một vài quốc gia, năng lượng Mặt trời cung cấp điện có chi phí tương đương các nhà máy than hoặc điện khí đốt thông thường.

      Nếu chi phí của tấm quang điện tính toán rất dễ dàng thì tính chi phí điện khó khăn hơn nhiều. Bởi vì, nó không chỉ phụ thuộc vào nhiên liệu được sử dụng, mà còn phụ thuộc chi phí xây dựng và vận hành nhà máy điện Mặt trời trong nhiều thập niên. Để tính toán, các nhà kinh tế sử dụng "chi phí được cấp bậc hóa" - giá trị của tất cả các chi phí (vốn và vận hành) của một đơn vị phát điện trên vòng đời của nó, chia cho số megawatt điện dự kiến sẽ cung cấp.

      Ấn Độ đang đẩy mạnh sử dụng năng lượng Mặt trời

      Paul Joskow của Viện Công nghệ Massachusetts đã chỉ ra, "chi phí cấp bậc hóa" đã không tính đến các chi phí gián đoạn. Năng lượng gió không được tạo ra vào những ngày lặng gió, cũng không thể tạo ra năng lượng Mặt trời vào ban đêm. Vì vậy, trong thời gian này, nhà máy phải được giữ ở chế độ chờ.

      Qua đó, Charles Frank, Viện Brookings, sử dụng một phân tích chi phí - lợi ích để xếp hạng các hình thức khác nhau của năng lượng. Phân tích này cho thấy năng lượng gió và năng lượng Mặt trời đắt đỏ nhất trong nỗ lực giảm thiểu khí thải.

      Các nhà máy điện nguyên tử, chạy khoảng 90% công suất, tránh thải khí carbon gần bốn lần so với một nhà máy điện gió chạy ở công suất khoảng 25%; sáu lần so với một nhà máy năng lượng Mặt trời. Nếu giả định mức giá carbon là 50 USD thì nhà máy điện năng lượng hạt nhân giảm được 400.000 USD carbon trên mỗi megawatt (MW) điện, so với chỉ 69.500 USD của nhà máy điện Mặt trời và 107.000 USD nhà máy điện gió.

      Theo The Economist, ngoài những lo ngại về lượng khí thải tất nhiên, có nhiều lý do khác để lựa chọn một hình thức năng lượng, bao gồm cả những rủi ro tai nạn hạt nhân, khí thải carbon gây nên nhiều tổn thất đối với kinh tế và sức khỏe con người... Biến đổi khí hậu đã và đang gây nên những ảnh hưởng tiêu cực đến con người như sóng thần, lũ lụt, hạn hán, cháy rừng và các trận siêu bão.

      Những hiện tượng thiên nhiên đó đã gây nên thiệt hại 140 tỷ USD chỉ riêng trong năm 2012. Theo bản báo cáo của NRDC đưa ra những người Mỹ nộp thuế phải chịu 100 tỷ USD vì những chi phí đó.

      Tuy nhiên, tính toán này có ý nghĩa sâu sắc về chính sách. Tại thời điểm này, hầu hết các nước giàu và đang phát triển như Trung Quốc đang đầu tư lớn cho năng lượng Mặt trời và gió để giúp ngăn chặn biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, thực tế đây lại là cách tốn kém nhất để giảm phát thải khí nhà kính.

      Trong khi đó Đức và Nhật Bản phát triển các công nghệ nhà máy điện hạt nhân có giá rẻ hơn. Ý nghĩa của nghiên cứu rõ ràng: chính phủ nên nhắm mục tiêu giảm phát khí thải từ nhiều nguồn chứ không phải chỉ tập trung vào việc thúc đẩy một số loại năng lượng tái tạo.

    • Cần cơ chế để tư nhân “mạnh tay” đầu tư

      Thời gian qua, các dự án đầu tư phát triển năng lượng tái tạo (NLTT) (ngoại trừ thủy điện nhỏ)… chủ yếu từ nguồn tài trợ không hoàn lại của một số quốc gia như Thụy Điển, Đan Mạch, Nhật Bản... hoặc vốn vay, vốn nhà nước nhưng rất hạn hẹp. Đồng thời, các dự án NLTT nhỏ lẻ được triển khai ở vùng nông thôn, miền núi, hải đảo, tuy mang lại một số lợi ích về văn hóa xã hội, nhưng còn chậm về tiến độ và hiệu quả không cao.

      Đối với nguồn năng lượng mặt trời: Khoảng 500 hệ thống pin mặt trời quy mô gia đình, 100 hệ thống quy mô cộng đồng đã được triển khai rải rác trên 35 tỉnh thành, trong đó có 5 dự án có công suất từ 100 - 150 kWp (có một dự án nối lưới). Hầu hết các dự án có quy mô nhỏ, suất đầu tư cao, giá điện khoảng 8.000 - 10.000 đồng/kWh.

      Đối với thủy điện nhỏ: Khoảng 10 năm trở lại đây do cơ chế mở cửa, nhiều nhà đầu tư tư nhân tham gia đầu tư xây dựng thủy điện nhỏ, góp phần cung cấp một lượng điện đáng kể cho phát triển kinh tế - xã hội, nhưng cũng đã phát sinh nhiều hệ lụy môi trường, xã hội. Các nhà đầu tư chính có thể kể tới là Tổng công ty Sông Đà, LILAMA, LICOGI, VINACONEX.... Tuy nhiên, nguốn vốn từ khu vực tư nhân chỉ chiếm khoảng 15 - 20%.

      Đối với điện gió: Cách đây 10 - 15 năm chủ yếu là các dự án điện gió thử nghiệm với công suất nhỏ 5 – 10 MW nhờ vốn tài trợ, như điện gió Hải Hậu, Bạch Long Vĩ, Cô Tô, Cù Lao Chàm… Gần đây, nhờ tiến bộ công nghệ, giá đầu tư giảm và đặc biệt Chính phủ Việt Nam đã có chính sách khuyến khích phát triển năng lượng gió từ trợ giá, tới các ưu tiên đất đai, thuế… hoạt động đầu tư điện gió sôi nổi, năng động hơn. Các công ty đã huy động nguồn vốn tự có, từ các tập đoàn kinh tế nhà nước, vay ngân hàng, nước ngoài với tổng số vốn ước tính 1 - 1,2 tỷ USD, như điện gió Bình Thuận (120 MW); điện gió Ninh Thuận (100 MW)… Đến nay, các dự án điện gió chỉ cung cấp được khoảng 15% so với công suất dự kiến.

      Việt Nam cần có cơ chế đặc thù để khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư phát triển NLTT. Ảnh minh họa

      Đối với nhiên liệu sinh học: Hiện nay có 6 nhà máy sản xuất nhiên liệu ethanol, với tổng công suất khoảng 600 triệu lít/năm, tổng vốn đầu tư ước tính khoảng 8.000 tỷ đồng, phần lớn được huy động từ các tập đoàn kinh tế nhà nước. Tuy nhiên, các cơ sở này hiện đang gặp nhiều khó khăn do giá thành sản phẩm cao, thị trường chưa chấp nhận sử dụng xăng pha ethanol, không tiêu thụ được sản phẩm, một số công ty đang trong cảnh nợ nần, ngừng sản xuất, một số công ty đang xây dựng dang dở.

      Đối với nhiên liệu khí sinh học (hầm biogas): Việt Nam phát triển và sử dụng khí sinh học đã khá lâu, từ thập niên 60,70 của thế kỷ trước, “phong trào” trải qua những lúc thăng trầm vì thiếu nhận thức, đầu tư, cơ chế, hỗ trợ. Tuy nhiên, thời gian gần đây, nhờ có chính sách khuyến khích và nguồn tài trợ quốc tế, đặc biệt là Hà Lan, các dự án khí sinh học đã phát triển hầu khắp các tỉnh trong toàn quốc. Đến nay, tổng sồ hầm khí sinh học lên tới trên 550.000 hầm, một số nơi còn phát triển các hầm quy mô cộng đồng kết hợp phát điện. Tuy nhiên, việc xây dựng các hầm khí sinh học tập trung chủ yếu ở các vùng nông thôn nghèo.

      Theo Quy hoạch điện VII (QHĐ VII), mục tiêu đến năm 2020 tỷ lệ điện sản xuất từ các nguồn NLTT là 4,5% và 6% vào năm 2030. Trong bối cảnh hiện nay và dự báo thời gian tới, đặc biệt với Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, cần phải nâng mức phát triển NLTT cao hơn nữa. Nếu tính tỷ trọng NLTT tăng lên 6% năm 2020; 10% năm 2030 và nhu cầu điện được hiệu chỉnh thấp hơn Quy hoạch điện VII, thì năm 2020 tổng công suất điện tái tạo dự kiến sẽ là 5.600 MW, sản xuất điện năng 14,1 tỷ kWh, đầu tư 10 tỷ USD, giảm 8,46 triệu tấn CO2; năm 2030 tương ứng công suất là 15.000 MW; sản xuất điện năng 42 tỷ kWh; đầu tư 21 tỷ USD; giảm 25 triệu tấn CO2.

      Nhằm mục đích thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo, mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý điều chỉnh cơ chế tài chính Hợp phần tín dụng Dự án Năng lượng tái tạo (REDP) vay vốn Ngân hàng Thế giới. Ước tính, khoảng 15 - 25 tiểu dự án đầu tư tư nhân sử dụng các nguồn NLTT sẽ được vay vốn từ Dự án REDP, thông qua các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, để NLTT thực sự phát triển, thiết nghĩ Chính phủ, Bộ Công Thương, Bộ TN&MT cần tổ chức nghiên cứu xây dựng quy hoạch phát triển NLTT có tỷ trọng cao hơn so với QHĐ VII và Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh; xây dựng quy hoạch, chính sách, cơ chế hợp lý, thuận lợi để đẩy mạnh phát triển và sử dụng NLTT, đặc biệt phát huy vai trò tư nhân, nội địa hóa công nghệ NLTT.

      Hiện nay, tổng công suất từ các nguồn NLTT khoảng 1.200 MW, cung cấp sản lượng điện khoảng 2 tỷ kWh/năm, tương đương 1,6% tổng sản lượng điện quốc gia:

      Thực trạng sử dụng NLTT đến năm 2012

      STT

      Loại nguồn

      Công suất (MW)

      1

      Thủy điện nhỏ

      1.000

      2

      Gió

      52

      3

      Mặt trời

      3

      4

      Sinh khối

      152

      5

      Rác thải sinh hoạt

      8

      Tổng cộng

      1.215

       

      Ông Nguyễn Đức Cường – Giám đốc Trung tâm Năng lượng tái tạo và Cơ chế phát triển sạch – Viện Năng lượng:

      Hiện nay, các dự án NLTT tại Việt Nam do tư nhân đầu tư còn có quy mô nhỏ lẻ, chưa có quy hoạch nên hiệu quả không cao. Bên cạnh đó, giá bán điện còn thấp và các thủ tục cấp phép phức tạp, do vậy chưa thực sự thu hút khu vực tư nhân “mạnh tay” đầu tư với quy mô lớn. Thiết nghĩ, để khu vực tư nhân có thể khẳng định được vai trò của mình trong lĩnh vực này, bên cạnh việc điều chỉnh về giá bán điện cần có một quy hoạch cụ thể, trong đó chỉ rõ những khu vực có tiềm năng phát triển về NLTT để định hướng, thu hút đầu tư.

      Ông Phạm Cương – Chủ tịch kiêm Giám đốc Công ty TNHH MTV Năng lượng tái tạo Điện lực Dầu khí Việt Nam:

      Nếu tiếp tục tình trạng như hiện nay, Việt Nam sẽ “bỏ ngỏ” nguồn năng lượng tái tạo rất dồi dào, trong bối cảnh các nguồn năng lượng hóa thạch đang ngày càng cạn kiệt. Tuy nhiên, nguồn NLTT ấy cũng không thể phát triển nếu các cơ chế, chính sách, ưu đãi không có sự thay đổi. Hiện nay rất nhiều nhà đầu tư, doanh nghiệp tư nhân ở nước ngoài như Bỉ, Đan Mạch, Hà Lan muốn đầu tư vào các dự án điện gió, điện mặt trời tại Việt Nam nhưng họ còn e ngại do vướng chính sách.

       

    • Tham vấn ý kiến về hướng dẫn đầu tư điện sinh khối tại Việt Nam

      Sản xuất điện từ nhiên liệu sinh khối tại nhà máy đường Maharashtra - Ấn Độ

      Ông Werner Kossmann – Cố vấn trưởng kỹ thuật của Dự án RESP (thuộc GIZ) cho biết: “Điện sinh khối là công nghệ thân thiện với môi trường, góp phần đảm bảo cân bằng năng lượng ở Việt Nam đồng thời giảm thiểu phát thải khí CO2. Những nhận xét và thảo luận của các bên liên quan tại hội thảo sẽ cho thấy bức tranh toàn cảnh về quá trình đầu tư vào điện sinh khối ở Việt Nam, sau đó sẽ được phản ánh cụ thể trong hướng dẫn đầu tư. Đây sẽ là tài liệu hữu ích cho các nhà đầu tư, hạn chế rủi ro trong quá trình đầu tư vào điện sinh khối ở Việt Nam”.

      Theo Quy hoạch điện VII, tỷ lệ điện sinh khối dự kiến chiếm khoảng 0,6% vào năm 2020 và đến năm 2030 là 1,1% sản lượng điện, với công suất lắp đặt tương ứng là 500 MW và 2.000 MW.

      Để tạo điều kiện cho điện sinh khối phát triển, ngày 24/3/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 24/2014/QĐ-TTg về cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện sinh khối ở Việt Nam. Đây được xem là động lực thúc đẩy đầu tư công và tư trong lĩnh vực điện sinh khối ở Việt Nam. Tuy nhiên, các kinh nghiệm quốc tế cho thấy Việt Nam cần tiếp tục hỗ trợ chính sách và thủ tục để tăng cường sản xuất điện từ sinh khối một cách bền vững.

      Hội thảo là một trong những hoạt động thuộc khuôn khổ Dự án hỗ trợ phát triển năng lượng tái tạo do Bộ môi trường, Bảo tồn tự nhiên, Xây dựng và An toàn hạt nhân CHLB Đức (BMUB) tài trợ và đã được Tổ chức hợp tác phát triển Đức (GIZ) triển khai tại Việt Nam với sự hợp tác của Tổng cục Năng lượng từ năm 2012, nhằm cải thiện khung pháp lý cho năng lượng sinh khối nối lưới ở Việt Nam tập trung vào năng lượng sinh khối, khí sinh học và chất thải rắn sinh hoạt.

    • Dự án điện gió: Sôi động đăng ký, chấp chới triển khai

      Mới đây, UBND tỉnh Ninh Thuận đã quyết định gia hạn cho nhà đầu tư LandVille Energy tới ngày 30/8/2014 phải hoàn tất và nộp các hồ sơ cấp giấy chứng nhận đầu tư, cũng như hồ sơ xin bổ sung vào quy hoạch phát triển điện gió Ninh Thuận.

      “Nếu quá thời gian trên, UBND tỉnh sẽ hủy bỏ chủ trương đầu tư đối với Dự án”, Phó chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận, ông Đỗ Hữu Nghị kiên quyết.

      Điện gió đang được khuyến khích đầu tư tại Việt Nam

      LandVille được chấp thuận về chủ trương đầu tư dự án điện gió tại Ninh Thuận từ tháng 8/2013 và theo yêu cầu của tỉnh Ninh Thuận khi đó, nhà đầu tư phải hoàn tất các thủ tục đăng ký đầu tư và bổ sung quy hoạch sau 6 tháng.

      Tuy nhiên, từ đó tới nay, mọi việc vẫn rất chậm trễ. Tháng 4/2014, tỉnh Ninh Thuận đã yêu cầu chủ đầu tư tới hết tháng 6/2014 phải hoàn tất các thủ tục cần thiết.

      Song yêu cầu này chưa được thực thi rốt ráo, nên thêm một lần nữa, tỉnh Ninh Thuận lại phải gia hạn. Điều đó chứng tỏ, LandVille Energy chưa có những động thái tích cực liên quan đến việc chuẩn bị hồ sơ dự án điện gió với vốn đầu tư khoảng 500 triệu USD này.

      Đáng nói hơn, cùng với việc một lần nữa ra “tối hậu thư” cho LandVille, thì Phó chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận Đỗ Hữu Nghị cũng đã yêu cầu các sở, ngành địa phương đôn đốc các chủ đầu tư đã có giấy chứng nhận đầu tư các dự án điện gió khẩn trương khởi công dự án; còn với các dự án chưa hoàn thành thủ tục, phải nhanh chóng hoàn tất hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận đầu tư theo quy định.

      “Trước mắt, không giới thiệu, kêu gọi đầu tư các khu vực có tiềm năng phát triển điện gió, nhưng chưa có trong quy hoạch phát triển điện gió đã được quy hoạch”, ông Đỗ Hữu Nghị chỉ đạo.

      Hiện nay, theo Quyết định số 2574/QĐ-BCT ngày 23/4/2013, tỉnh Ninh Thuận có 12 dự án điện gió nằm trong Quy hoạch. Trong số này, nhiều dự án đã có chủ, như Nhà máy Điện năng lượng tái tạo Phước Nam - Enfinity, Nhà máy Điện gió Mũi Dinh, Nhà máy Điện gió Công Hải… Tuy nhiên, tình trạng chậm tiến độ diễn ra rất phổ biến.

      Mới đây nhất, trung tuần tháng 5/2014, Nhà máy Điện gió Công Hải 1 đã chính thức được khởi công xây dựng, với công suất 3 MW, vốn đầu tư 191 tỷ đồng. Phát biểu tại lễ khởi công Dự án, ông Đỗ Hữu Nghị cũng cho biết, Điện gió Công Hải 1 được cấp phép sau hơn 10 dự án điện gió khác ở Ninh Thuận, nhưng lại là dự án điện gió đầu tiên được khởi công xây dựng.

      Trong khi đó, hàng loạt dự án điện gió lớn, nhỏ khác ở Ninh Thuận vẫn đang trong tình trạng nằm chờ. Một trong số đó là Nhà máy Phước Nam - Enfinity của nhà đầu tư Enfinity (Bỉ). Dự án này đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư từ tháng 3/2011, với tổng vốn đăng ký 266 triệu USD. Theo kế hoạch, Enfinity sẽ triển khai dự án để đến tháng 12/2012 có thể đưa dự án vào hoạt động. Tuy nhiên, đến nay, Dự án vẫn chưa hoàn tất các thủ tục theo quy định để tiến hành khởi công xây dựng.

      Cuối năm 2011, nhà đầu tư này đã từng cam kết rằng, tới cuối năm 2012, sẽ triển khai Dự án, nhưng Dự án nay vẫn dậm chân tại chỗ. Đó là lý do khiến UBND tỉnh Ninh Thuận rất sốt ruột và nhiều lần thúc nhà đầu tư khẩn trương tập trung nguồn lực để đẩy nhanh tiến độ triển khai Dự án.

      Đồng “cảnh ngộ”, nhà đầu tư Impsa (Argentina) cũng đã nhiều lần “được” UBND tỉnh Ninh Thuận nhắc nhở. Từ tháng 7/2011, nhà đầu tư này đã được UBND tỉnh Ninh Thuận chấp thuận chủ trương để khảo sát, lập thủ tục đầu tư Dự án Nhà máy Phong điện, cũng như nhà máy sản xuất cánh quạt tua-bin gió và trụ gió, với vốn đầu tư có thể lên tới 3 tỷ USD, nhưng đến nay, tình hình chưa có gì khả quan.

      Một dự án quy mô lớn khác, của nhà đầu tư Timur (Malaysia), ký thỏa thuận đầu tư từ tháng 5/2012, cũng không có gì sáng sủa hơn.

      Sôi động dự án đăng ký đầu tư, nhưng chấp chới triển khai, đó chính là lý do vì sao, cách đây ít ngày, UBND tỉnh Ninh Thuận đã có một cuộc họp với chủ đầu tư các dự án điện gió. Quyết định đã được đưa ra, đó là giao Sở Kế hoạch và Đầu tư tham mưu văn bản thông báo vi phạm tiến độ thực hiện, đủ điều kiện chấm dứt hoạt động dự án điện gió đối với Công ty cổ phần Năng lượng tái tạo Việt Nam và Công ty cổ phần Năng lượng Thương Tín.

      Trong khi đó, đối với các dự án điện gió của Công ty TNHH Đầu tư phát triển điện gió Phước Hữu và Enfinity Ninh Thuận, thì phải khẩn trương xác lập tiến độ thực hiện chi tiết và ký quỹ bảo đảm thực hiện Dự án trong tháng 8/2014, làm cơ sở để UBND tỉnh xem xét giãn tiến độ thực hiện Dự án.

      Yêu cầu đẩy nhanh tiến độ dự án cũng đã được đặt ra với các dự án Điện gió Mũi Dinh của Công ty TNHH Điện gió Mũi Dinh; Điện gió Công Hải 1 của Tổng công ty Phát điện 2...

    • Lấy ý kiến về việc sửa đổi cơ chế hỗ trợ phát triển điện gió

      Việt Nam đã đặt ra mục tiêu đến năm 2020 tổng công suất điện gió đạt 1000 MW, điện sinh khối đạt khoảng 500 MW, và đến năm 2030 tổng công suất điện gió đạt khoảng 6200 MW, điện sinh khối đạt khoảng 2000 MW. Với công suất như vậy, điện năng từ sản xuất từ nguồn điện gió sẽ chiếm tỷ lệ 0,7% vào năm 2020 và tăng lên khoảng 2,4% năm 2030 và điện sinh khối sẽ chiếm tỷ trọng từ 0,6% năm 2020 tăng lên 1,1 % vào năm 2030.

      Khai thác nguồn năng lượng tái tạo có ý nghĩa vô cùng quan trọng với Việt Nam - Ảnh st

      Trong bối cảnh đó, ngày 29/6/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 37/2011/QĐ-TTg về cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện gió tại Việt Nam cũng như cơ chế về giá phát điện cho điện gió cũng được ban hành. Theo tinh thần Quyết định 37, Bộ Công Thương đã trình Thủ tướng chính phủ về quy hoạch phát triển điện gió quốc gia và phối hợp với ủy ban nhan dân các tỉnh tổ chức xây dựng và phê duyệt phát triển quy hoạch điện gió của các tỉnh: Ninh Thuận, Bình Thuận và Sóc Trăng.

      Theo ông Lê Tuấn Phong, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Năng lượng: Thị trường năng lượng Việt Nam đang phụ thuộc nhiều vào giá năng lượng của thế giới. Trong bối cảnh này, việc xem xét khai thác nguồn năng lượng tái tạo có ý nghĩa vô cùng quan trọng với Việt Nam cả về mặt kinh tế, xã hội và môi trường. Chính vì vậy, sau hơn 3 năm thực hiện Quyết định 37/2011/QĐ -TTg, Tổng cục Năng lượng, các cơ quan liên quan cùng với sự hỗ trợ của các chuyên gia đã thực hiện được việc đánh giá triển khai cơ chế hỗ trợ điện gió tại Việt Nam. Đồng thời, đây cũng là cơ hội nghiên cứu, đề xuất, điều chỉnh cơ chế hỗ trợ, nhằm đảm bảo giá điện gió đủ bù đắp chi phí và lợi nhuận phù hợp với nhà đầu tư.

      Trong khuôn khổ Hội thảo, nhóm tư vấn của Cơ quan hợp tác quốc tế Đức và Viện Năng lượng đã đưa ra mục đích, phạm vi của Báo cáo nghiên cứu đề xuất sửa đổi Quyết định 37 cũng như phương pháp tiến hành, các kiến nghị và đề xuất sửa đổi cơ chế hỗ trợ điện gió tại Việt Nam. Bộ Công Thương, Tổng cục Năng lượng đã ghi nhận nhiều ý kiến phản hồi của các bên liên quan nhằm xây dựng chính sách điện gió của Việt Nam ngày càng hiệu quả.

    • Bình Định cấp phép dự án nhà máy điện gió 109 triệu USD

      Tổng công suất các dự án điện gió đang vận hành tại Việt Nam mới chỉ đạt 52 MW - Ảnh minh họa

      Ông Nguyễn Ngọc Toàn, Phó trưởng Ban quản lý khu Kinh tế Nhơn Hội cho biết, dự án do Công ty TNHH Quản lý và Đầu tư Viettracon (Đức) hợp tác với Công ty Green Venture Invest AG (Thụy Sĩ) đầu tư tại khu vực sườn phía Tây núi Phương Mai thuộc khu kinh tế Nhơn Hội, với quy mô diện tích khoảng 600 hecta.

      Theo thiết kế, nhà máy có công suất 61,1 MW, giai đoạn 1 công suất là 30,55 MW vận hành năm 2016 và giai đoạn 2 nâng tổng công suất lên 61,1 MW vào năm 2020. Nhà  máy được đấu nối vào hệ thống điện ở cấp điện áp 110 KV, chuyển tiếp trên đường dây 110 KV Nhơn Hội – Phước Sơn.

      Trước đó, Bộ Công Thương cũng đã có quyết định phê duyệt điều chỉnh, bổ sung dự án nhà máy điện gió Nhơn Hội vào Quy hoạch phát triển điện lực tỉnh Bình Định giai đoạn năm 2011 - 2015, có xét đến năm 2020.

      Như vậy, hiện tại Khu kinh tế Nhơn Hội đã có ba dự án điện gió được cấp phép đầu tư với tổng công suất hơn 111 MW.

      Theo ông Toàn, đây là dự án điện gió đầu tư bằng nguồn vốn nước ngoài đầu tiên trên địa bàn tỉnh được cấp phép. Trước đó, tỉnh Bình Định đã cấp giấy phép đầu tư cho hai dự án phát triển điện gió là Nhà máy điện gió Phương Mai 1 với diện tích 143 hecta của Công ty Phong điện Phương Mai và Nhà máy Điện gió Phương Mai 3 với diện tích 140 hecta của Công ty cổ phần Phong điện miền Trung. Hai nhà máy này có tổng công suất hơn 50 MW.

      So với các địa phương khác, Khu kinh tế Nhơn Hội là địa bàn sớm được các nhà đầu tư quan tâm và đăng ký nhiều dự án điện gió bởi vì đây là một trong những địa phương có tiềm năng điện gió lớn nhất nước. Tỉnh Bình Định cũng từng xác định lấy các dự án điện gió làm tiền đề để tạo bước đột phá trong phát triển sản xuất năng lượng sạch.

      Tuy nhiên trong quá trình triển khai, các dự án đã gặp khá nhiều yếu tố bất lợi như khủng hoảng kinh tế thế giới, giá mua điện thấp, các chính sách hỗ trợ phát triển điện gió chưa bắt kịp điều kiện thực tế… nên đến nay vẫn chưa có dự án nào được hoàn tất đưa vào hoạt động.

      Theo quy định của Chính phủ, hiện nay, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đang mua điện từ các dự án điện gió trên bờ với mức giá 7,8 UScents/kWh và 9,8 UScents/kWh đối với dự án điện gió trên biển. Theo một số nhà đầu tư, nếu muốn khuyến khích các nhà đầu tư mạnh dạn triển khai dự án thì giá điện gió trên biển phải ở mức 13,5 UScents/kWh.

      Chính phủ đã phê duyệt quy hoạch phát triển năng lượng tái tạo; theo đó đến năm 2020 Việt Nam đặt mục tiêu đạt công suất điện gió 1.000 MW và đến năm 2030 đạt 6.200 MW. Tuy nhiên, hiện nay tổng công suất các dự án điện gió đang vận hành trên cả nước mới chỉ đạt 52 MW.

    • Sóc Trăng kêu gọi đầu tư 13 dự án điện gió

      Vùng 1 là  khu vực bãi bồi ven biển thị xã Vĩnh Châu, huyện Trần Đề và huyện Cù Lao Dung với diện tích 21.900 ha, công suất dự kiến 860 MW, vận tốc gió trung bình 6,4m/s;

      Vùng 2 là khu vực đất liền ven biển thị xã Vĩnh Châu và huyện Trần Đề với diện tích 7.500 ha, công suất dự kiến 295 MW, vận tốc gió 6m/s;

      Vùng 3 là khu vực đất liền thi xã Vĩnh Châu với diện tích 7.940 ha, công suất dự kiến 315 MW, vận tốc gió 6,2m/s. Riêng giai đoạn đến năm 2020, công suất lắp đặt lũy kế đạt khoảng 200 MW với sản lượng điện gió tương ứng là 470 triệu KWh.

      Việc quy hoạch phát triển điện gió tỉnh Sóc Trăng giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 nhằm tạo điều kiện thuận lợi để huy động vốn từ các thành phần kinh tế, khai thác lợi thế so sánh về tài nguyên gió, đất đai, góp phần đầu tư phát triển ngành công nghiệp điện gió, tăng thêm nguồn điện góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và phục vụ mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương.

      Hiện nay, Sóc Trăng đang khuyến khích các thành phần kinh tế trong nước và nước ngoài đến khảo sát, nghiên cứu tham gia đầu tư các dự án điện gió theo quy hoạch trên địa bàn tỉnh.

       

    • Xây dựng bản đồ tài nguyên năng lượng tái tạo Việt Nam

      Bản đồ tài nguyên năng lượng gió Việt Nam sẽ được hoàn thiện trong thời gian tới - Ảnh minh họa

      Dự án xây dựng bản đồ tài nguyên năng lượng tái tạo tại Việt Nam được phê duyệt tháng 3/2013, với mục tiêu lập bản đồ tài nguyên ở cấp chiến lược để hỗ trợ Chính phủ trong công tác lập kế hoạch và phát triển thương mại các nguồn năng lượng sinh khối, thủy điện nhỏ, gió và mặt trời tại Việt Nam.

      Sau một thời gian triển khai (từ tháng 11/2013), đến nay, Trường Đại học Kỹ thuật Đan Mạch và các viện nghiên cứu của Tây Ban Nha đã cơ bản hoàn thiện cơ sở dữ liệu phục vụ việc xây dựng bản đồ gió và bức xạ mặt trời tại Việt Nam. Tuy nhiên, tại Hội thảo công bố “Kết quả giai đoạn 1 xây dựng bản đồ tài nguyên gió và mặt trời tại Việt Nam", một số ý kiến cho rằng, kết quả nghiên cứu giai  đoạn 1 còn khá xa , chưa gắn liền với thực tế của Việt Nam.

      Ông Jens Carsten Hansen – Ban Năng lượng gió, Trường Đại học Kỹ thuật Đan Mạch cho rằng, đây là cơ sở dữ liệu bước đầu và sẽ tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện trong thời gian tới.

      Dự án Xây dựng bản đồ tài nguyên năng lượng tái tạo đầu tiên được triển khai tại Việt Nam. Trên cơ sở ý kiến, góp ý của các chuyên gia tại Hội thảo, Bộ Công Thương - WB và các đơn vị tư vấn sẽ thiết lập một bản đồ hợp lý, là tài liệu quan trọng để các nhà đầu tư có thể dễ dàng tiếp cận với năng lượng tái tạo của Việt Nam.

       

    • Mở cửa cho điện sinh khối

      Mở ra hành lang pháp lý

      Ông Nguyễn Hải – Tổng thư ký Hiệp hội Mía Đường Việt Nam khẳng định: “Cơ chế hỗ trợ phát triển điện sinh khối tại Việt Nam được ban hành là tín hiệu vui cho chúng tôi khi hành lang pháp lý đầu tiên được hình thành, hứa hẹn tạo động lực phát triển năng lượng sinh khối tại Việt Nam”.

      Theo ông Hải, hiện nay cả nước có 41 nhà máy sản xuất đường, trong đó 40 nhà máy sản xuất đường từ mía, còn lại Nhà máy đường Biên Hòa là sản xuất từ đường thô. Tuy nhiên, chỉ có khoảng 6 - 7 nhà máy tận dụng nguồn nhiên liệu tại chỗ là bã mía để sản xuất điện, với tổng công suất lắp đặt khoảng 140 MW và tổng công suất phát điện hơn 70 MW. Nguyên nhân là do chưa có chính sách hỗ trợ giá bán điện sinh khối nối lưới, các nhà máy mía đường phát điện lên lưới với mức giá rất thấp không thể thu hồi vốn đầu tư (giá điện sinh khối chỉ dao động từ 600 – 900 đồng/kWh).

      Các dự án đồng phát nhiệt – điện sử dụng nhiên liệu từ bã mía chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ, chủ yếu phục vụ nhu cầu sản xuất của nhà máy. Với Quyết định số 24/2014/QĐ-TTg, bên mua điện là Tập đoàn Điện lực Việt Nam (hoặc đơn vị thành viên được ủy quyền) có trách nhiệm mua toàn bộ sản lượng điện dư từ các dự án đồng phát nhiệt – điện sử dụng năng lượng sinh khối, với giá điện tại thời điểm giao nhận là 1.220 đồng/kWh (chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng, tương đương 5,8 UScents/kWh). Giá bán điện được điều chỉnh theo biến động của tỷ giá VNĐ/USD. Đối với các dự án điện sinh khối khác, giá bán điện được áp dụng theo biểu giá chi phí tránh được do Bộ Công Thương xây dựng và ban hành hằng năm. Bên cạnh đó, các dự án điện sinh khối tại Việt Nam còn được hưởng những ưu đãi về vốn đầu tư, thuế nhập khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp, đất đai.

      Ông Nguyễn Đức Cường – Giám đốc Trung tâm Năng lượng tái tạo và Cơ chế phát triển sạch, Viện Năng lượng, Bộ Công Thương nhận định: “Chưa thể khẳng định được mức giá này cao hay thấp. Với mức giá 5,8 UScents/kWh (chưa kể VAT) cộng với khoảng hơn 1 UScent/kWh gồm các hỗ trợ khác về thuế nhập khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp, huy động vốn đầu tư, đất đai…Như vậy, tổng giá bán điện đối với các dự án đồng phát nhiệt – điện có thể lên đến gần 7 UScents/kWh”. Đối với các nhà máy đã có công nghệ, thiết bị phù hợp, suất tiêu hao bã mía thấp, hiệu suất chuyển hóa cao, hệ thống giao thông, đấu nối lưới điện, cứu hỏa, cấp nước… thuận lợi thì với mức giá này chắc chắn sẽ mang lại lợi nhuận tốt cho doanh nghiệp.

      Sản xuất điện từ nhiên liệu sinh khối tại nhà máy đường Maharashtra - Ấn Độ. Ảnh: internet

      Cần sớm ban hành thông tư hướng dẫn

      Thống kê của Hiệp hội Mía Đường Việt Nam cho thấy, hiện nay tổng công suất ép mía của 40 nhà máy mía đường Việt Nam là 142.200 tấn/ngày, với khả năng sản xuất khoảng 2 triệu tấn đường/năm. Tuy nhiên, do sản lượng mía chưa đáp ứng được nên trung bình các nhà máy chỉ có thể sản xuất được 1,6 triệu tấn đường/năm. Từ đó, khoảng 30% lượng bã mía sẽ được thải ra, song mới chỉ có một phần trong số này được dùng để sản xuất điện, còn lại là dư thừa gây lãng phí nguồn tài nguyên.

      Theo Quy hoạch điện VII, đến năm 2020, phát triển điện sinh khối, đồng phát điện tại các nhà máy đường với tổng công suất khoảng 500 MW và nâng lên 2.000 MW vào năm 2030; tỷ trọng điện sản xuất tăng từ 0,6% năm 2020 lên 1,1% năm 2030. Như vậy, trung bình 1 năm, năng lượng sinh khối phải tăng công suất khoảng 70 MW. Cũng theo ông Nguyễn Đức Cường, trong trường hợp các nhà máy mía đường phát huy được tối đa công suất, cùng với việc sử dụng toàn bộ lượng bã mía dư thừa, sẽ có thể nâng công suất sản xuất điện lên gấp đôi, thậm chí gấp ba.

      Tuy nhiên, ngoài việc điều chỉnh biểu giá, còn có rất nhiều yếu tố tác động đến đầu tư sản xuất điện từ năng lượng sinh khối như lãi suất vay, đầu tư vốn, chi phí vận hành, bảo dưỡng, lựa chọn địa điểm, vận chuyển nhiên liệu… Vì vậy, “sau khi có cơ chế hỗ trợ chung, Chính phủ cần tiếp tục ban hành thông tư hướng dẫn thực hiện, quy hoạch phát triển điện sinh khối, trước mắt để các nhà máy đang nối lưới có thể tiếp cận, thứ nữa đến các nhà máy đầu tư mới” - ông Nguyễn Đức Cường khẳng định. Do đó, để đạt được được mục tiêu trên về phát triển năng lượng sinh khối, ngoài quyết tâm của Chính phủ còn phụ thuộc rất nhiều vào các nhà đầu tư.

      Bã mía là nguyên liệu dồi dào cho sản xuất điện

      Theo ông Nguyễn Đức Cường, đối với những nguồn năng lượng mới tại Việt Nam, để đầu tư phát triển cần có những bước đi mang tính thăm dò và phải nghiên cứu một cách tổng thể. Thời gian qua, nếu như điện gió chưa phát triển do bị tác động bởi các yếu tố như giá bán điện, tốc độ gió, suất đầu tư, lãi suất vay… thì năng lượng sinh khối lại bị chi phối bởi giá bán điện, kết cấu hạ tầng giao thông, đấu nối lưới điện… Giải quyết đồng loạt các vướng mắc trên, năng lượng tái tạo và năng lượng sinh khối tại Việt Nam mới có thể phát triển mạnh trong thời gian tới.
       

      Năm 2013, năng lượng sinh khối chiếm khoảng 10% năng lượng toàn cầu, trong đó 2/3 được sử dụng ở các nước phát triển để nấu ăn và sưởi ấm. Theo báo cáo của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA)

       

    • Hợp tác Việt - Pháp về năng lượng tái tạo

      Năng lượng tái tạo ngày càng được quan tâm tại Việt Nam - Ảnh: H.Hiếu

      Phát biểu tại Hội thảo ông Lê Dương Quang - Thứ trưởng Bộ Công Thương cho biết: "Hiện tại, giá điện, cơ chế chính sách, trình độ áp dụng công nghệ… đang hạn chế việc triển khai các dự án năng lượng tái tạo tại Việt Nam. Tuy nhiên, nhu cầu năng lượng của Việt Nam trong mười năm gần đây tăng bình quân 15%/năm. Trong bối cảnh nhiên liệu hóa thạch nội địa cạn kiệt, giá dầu thế giới tăng cao (dự báo đến năm 2015 Việt Nam sẽ phải nhập khẩu than để phục vụ cho phát điện), việc xem xét khai thác nguồn năng lượng tái tạo như: năng lượng mặt trời, gió... có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm đảm bảo an ninh năng lượng cũng như hướng tới sự phát triển bền vững."

      Cũng tại Hội thảo, Đại sứ Pháp tại Việt Nam, Jean - Noel Poirier nhấn mạnh: Lĩnh vực năng lượng tái tạo là trục ưu tiên trong chính sách hợp tác năng lượng và công nghiệp giữa Pháp và Việt Nam. Các doanh nghiệp Pháp sẽ cung cấp những thông tin mới nhất về phát triển năng lượng tái tạo, việc ứng dụng công nghệ mới cũng như khả năng chuyển giao công nghệ của Pháp cho Việt Nam cũng như các nguồn tài chính hỗ trợ phát triển trong lĩnh vực này.

      Hội thảo đã góp phần tăng cường quan hệ hợp tác năng lượng giữa hai nước Pháp - Việt Nam. Đại diện 7 doanh nghiệp Pháp đã tham gia chia sẻ tại Hội thảo.

    • Công nghệ mới cho Nhà máy Điện gió Công Hải 1

      Theo chủ đầu tư, công nghệ tua bin gió (YnS-W) hai hệ cánh đồng trục do Liên bang Nga sản xuất lần đầu tiên đưa vào dự án.

      Ưu điểm của công nghệ này là giá thành thấp, công suất tạo điện cao gấp 2,5 lần so với tua bin gió hiện tại và có thể hoạt động hết công suất với sức gió trung bình chỉ đạt từ 7 - 8 m/s (sức gió phổ biến tại Việt Nam).

      Tần số âm thanh của tuabin YnS-W phát ra từ 20 - 40Hz, không gây tổn hại đến sức khỏe con người và môi trường. Nếu thành công, đây sẽ là triển vọng lớn cho năng lượng điện gió Việt Nam.

      Dự kiến 3 tổ máy của giai đoạn 1 (công suất 1 MW/tổ máy) sẽ đưa vào vận hành thương mại vào đầu năm 2015.

    • Dự án điện gió không dễ gọi vốn vì giá bán thấp

      Ảnh minh họa

      "Dự kiến, vào cuối năm nay, chúng tôi sẽ khởi công dự án đầu tiên này (công suất 24 MW). Theo kế hoạch, nếu cuối năm nay, chúng tôi đấu thầu xong, ký được hợp đồng tổng thầu EPC, thì vào giữa năm 2015, tổ máy đầu tiên có thể sẽ hòa lưới điện quốc gia. Trên cơ sở rút kinh nghiệm từ dự án này, chúng tôi mới tính đến việc triển khai các dự án tiếp theo”, ông Thịnh cho biết.

      Được biết, đây là một trong số rất ít dự án trong lĩnh vực điện gió có cơ hội thuận lợi để triển khai.

      Là doanh nghiệp đã đầu tư vào lĩnh vực thủy điện, nên 5 năm trước, CTCP Đầu tư HD (có trụ sở tại Hà Nội) đã tìm hiểu và “lấn sân” sang lĩnh vực điện gió. Hiện tại, Công ty có 1 dự án điện gió ở tỉnh Ninh Thuận, với công suất 97 MW (đã được cấp giấy phép đầu tư) và 1 dự án đang chờ cấp giấy phép đầu tư ở tỉnh Bình Thuận (công suất gần 50 MW). “Các dự án này vẫn đang trong quá trình chuẩn bị thực hiện. Chúng tôi đang chờ đợi giá bán điện gió tăng lên, có sinh lời thì mới có thể bắt tay vào triển khai Dự án”, ông Hồ Ngọc Duy, Giám đốc Công ty cổ phần Đầu tư HD nói.

      Theo HHĐGBT, cả nước có 10 dự án điện gió đang hoàn chỉnh hồ sơ xin cấp chứng nhận đầu tư và đã có 2 trong số 3 dự án điện gió đầu tiên  đi vào vận hành. Đó là Dự án Điện gió Phong Điện 1 (công suất 30 MW) của Công ty Năng lượng tái tạo Việt Nam trên đất liền tại Tuy Phong (Bình Thuận) và Dự án Nhà máy Điện gió Phú Quý (6 MW) của Tổng công ty Điện lực Dầu khí nằm ở huyện đảo Phú Quý (Bình Thuận).

      Đại diện HHĐGBT nhận xét, hoạt động của hai dự án điện gió trên đang trong tình trạng rất khó khăn về mặt tài chính. Nguyên nhân chủ yếu do giá thành sản xuất điện cao hơn giá bán điện (được Chính phủ quy định ở mức 7,8 UScent/kWh, tương đương 1.614 đồng/kWh).

      Thực tế cho thấy, giá bán điện gió trên đã được Chính phủ ưu đãi, bởi giá bán điện bình quân của cả nước hiện chỉ là 7,2 UScent/kWh. Tuy nhiên, nếu xét trên bình diện chung toàn thế giới, thì giá bán điện gió ở Việt Nam thuộc dạng thấp nhất thế giới, trong khi các nhà đầu tư Việt Nam hoàn toàn phải nhập khẩu thiết bị và công nghệ của nước ngoài.

      Ông Duy cho rằng, riêng giá thành điện gió còn bị nhiều yếu tố chi phối, do phụ thuộc vào vị trí dự án, tốc độ gió; lưới điện truyền tải… “Chúng tôi trực tiếp đầu tư, nên nhận thấy giá bán điện gió như hiện nay là quá thấp, chưa bù đắp được chi phí đầu tư, vì thế chưa thể triển khai dự án được”, ông Duy nói và cho rằng, giá bán điện gió phải ở mức trung bình trên 10 UScent/kWh, thì nhà đầu tư mới mặn mà triển khai dự án.

      Ở góc độ khác, ông Nguyễn Đặng Anh Thi, Giám đốc Môi trường và Tiết kiệm năng lượng, Quỹ Tài nguyên tái tạo Indochina Capital cho biết, hiện Quỹ Indochina Capital đang tìm kiếm những dự án điện gió để đầu tư, nhưng do nhiều nguyên nhân, trong đó có chuyện tỷ suất lợi nhuận của dự án điện gió còn quá thấp, nên chưa đầu tư.

      Đại diện HHĐGBT cho hay, Hiệp hội đã tính toán và trình lên Chính phủ đề xuất về lộ trình giá bán điện gió. Theo đó, từ nay đến năm 2015, giá điện gió 10 UScent/kWh và sau năm 2017, sẽ tăng lên 12 UScent/kWh.           

    • Doanh nghiệp Đức sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam phát triển năng lượng tái tạo

      PV: Ông có thể cho biết rõ hơn mục tiêu của Chính phủ Đức về việc sử dụng 100% năng lượng tái tạo vào năm 2050?

      Ông Berthol Breid – Giám đốc Học viện Năng lượng tái tạo Đức (RENAC)

      Ông Berthol Breid: Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, sự thiếu hụt về năng lượng và những tác động tới bầu khí quyển đã buộc Chính phủ Đức “suy nghĩ” tới việc sử dụng năng lượng tái tạo. Bên cạnh đó, mức độ phụ thuộc ngày càng nhiều vào việc nhập khẩu nhiên liệu cho sản xuất điện và sinh hoạt cũng khiến cho Chính phủ “đau đầu”. Tuy nhiên, mãi tới năm 1990, các kỹ sư Đức mới bắt đầu nghiên cứu để khai thác các nguồn năng lượng mới.

      Cũng như bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, trong những bước đi đầu tiên để phát triển năng lượng tái tạo, Đức không tránh khỏi vấp ngã. Đến năm 2004, Bộ Luật đầu tiên về năng lượng tái tạo của Đức được ban hành thực sự là “đòn bẩy” đưa năng lượng tái tạo phát triển lên tầm cao mới. Trong vòng 10 năm (2004 - 2014), năng lượng tái tạo đã chiếm 25% tổng nguồn điện trên toàn nước Đức.

      Cách đây 3 năm, sau sự cố tại Nhà máy Điện hạt nhân Fukushima (Nhật Bản), Chính phủ Đức đã yêu cầu đóng cửa 8 trong số 17 nhà máy điện hạt nhân và yêu cầu lập kế hoạch dừng hoạt động toàn bộ các nhà máy điện hạt nhân còn lại vào năm 2025. Đồng thời, Đức cũng đặt mục tiêu đến năm 2050 sử dụng 100% NLTT. Bên cạnh các chính sách ưu đãi của Chính phủ, các doanh nghiệp tư nhân tại Đức trong đó có RENAC đang “chạy đua” để đạt được mục tiêu này.

      PV: Cụ thể, RENAC đã có "hành động" nào để thúc đẩy năng lượng tái tạo phát triển?

      Ông Berthol Breid: Được thành lập vào năm 2007, RENAC là một doanh nghiệp chuyên cung cấp các khóa đào tạo nhằm nâng cao năng lực trong lĩnh vực năng lượng tái tạo và tiết kiệm năng lượng, trụ sở chính đặt tại thủ đô Berlin. Khách hàng của RENAC bao gồm cả thành viên làm việc trong khu vực nhà nước và tư nhân. Trong vòng 6 năm qua (2007 - 2013), RENAC đã đào tạo cho hơn 4.000 người, đến từ 130 quốc gia trên thế giới.

      PV: Vì sao RENAC lại chọn Việt Nam là một trong 7 quốc gia đối tác  hỗ trợ phát triển năng lượng tái tạo?

      Ông Berthol Breid: Việt Nam không chịu sức ép về việc nhập khẩu năng lượng. Tuy nhiên trong 30 năm trở lại đây, Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ, trong đó có lĩnh vực xây dựng kết cấu hạ tầng , sản xuất. Nếu tiếp tục phát triển với tốc độ như hiện nay, tương lai không xa, Việt Nam dần dần cũng phải nhập khẩu năng lượng. Một câu hỏi tương tự đã từng đặt ra đối với Đức đó là, làm thế nào để giảm thiểu việc sử dụng năng lượng, vừa thỏa mãn nhu cầu sử dụng điện.

      Thực tế trong những năm qua, CHLB Đức đã tài trợ và triển khai một số dự án về năng lượng tái tạo tại Việt Nam, trong đó tập trung vào các nội dung chính như hỗ trợ xây dựng chính sách, nâng cao năng lực và tăng cường hợp tác với khối tư nhân. Từ năm 2014, một loạt các dự án mới về năng lượng tái tạo đã được Bộ Môi trường, Bảo tồn tự nhiên, xây dựng và an toàn hạt nhân CHLB Đức (BMUB) phê duyệt thực hiện, trong khuôn khổ "Sáng kiến khí hậu quốc tế" (IKI). Một trong những dự án đó là “Nâng cao năng lực trong lĩnh vực năng lượng tái tạo và hòa lưới điện (CapREG)”.

      Với những kinh nghiệm tích lũy được, kết hợp với tiềm năng sẵn có của Việt Nam, RENAC mong muốn được chia sẻ, hỗ trợ Việt Nam phát triển năng lượng tái tạo, hạn chế thấp nhất những thất bại và rủi ro mà Đức đã vấp phải.

      PV: Ông cho biết rõ hơn mục đích chính của chương trình nâng cao năng lực trong lĩnh vực năng lượng tái tạo và hòa lưới điện?

      Ông Berthol Breid: Chương trình nâng cao năng lực trong lĩnh vực năng lượng tái tạo và hòa lưới điện (CapREG) là chương trình đào tạo, xây dựng mạng lưới và trao đổi kinh nghiệm cho các bên liên quan ở khu vực công và tư trong ngành NLTT. Từ đó, thúc đẩy năng lượng tái tạo phát triển và giảm lượng phát thải khí CO2.

      Tại Việt Nam, đây là chương trình đang trong giai đoạn đầu triển khai, vì vậy đối tượng chính là các nhà xây dựng chính sách từ các bộ ngành, Cục Điều tiết Điện lực, phân phối và truyền tải điện, cho đến các tổ chức tài chính, Hiệp hội công thương nghiệp, các tổ chức chính phủ và báo chí.

      Trước mắt, chương trình sẽ tìm hiểu, nắm bắt nhu cầu tại Việt Nam, từ đó tập trung đào tạo nâng cao năng lực và hòa lưới điện đối với một nguồn năng lượng tái tạo cụ thể, có thể là điện gió hoặc điện mặt trời.

      PV: Xin cảm ơn ông!

      Chương trình nâng cao năng lực trong lĩnh vực năng lượng tái tạo và hòa lưới điện (CapREG):

      - Do Bộ Môi trường, Bảo tồn tự nhiên, xây dựng và an toàn hạt nhân (BMUB) CHLB Đức tài trợ, với nguồn vốn hỗ trợ từ Sáng kiến Khí hậu quốc tế Đức (IKI)

      - Được thực hiện trong 3 năm (2014 - 2016)

      - 7 quốc gia đối tác gồm: Việt Nam, Philippines, Indonesia, Thái Lan, Mexico, Ecuador và Peru.

       

    • Nhật Bản đứng đầu thế giới về thu hút đầu tư cho năng lượng tái tạo

      Báo cáo hàng năm của Quỹ Tín thác Pew Charitable Trusts công bố ngày 3/4 cho biết, Nhật Bản đầu tư 28,6 triệu USD cho các dự án nghiên cứu và phát triển năng lượng tái tạo, chủ yếu trong lĩnh vực năng lượng mặt trời. 

      Đất nước Mặt trời mọc đang có kế hoạch đa dạng hóa các nguồn năng lượng sau sự cố rò rỉ phóng xạ tại Nhà máy Điện hạt nhân Fukushima trong trận động đất - sóng thần hồi năm 2011. 

      Tuy nhiên, xét về tổng số vốn đầu tư, Nhật Bản lại xếp thứ ba sau Trung Quốc và Mỹ. Theo báo cáo, Trung Quốc tiếp tục giữ vững vị trí đầu bảng về đầu tư cho năng lượng tái tạo, với 54,2 tỷ USD trong năm vừa qua, giảm 6% so với một năm trước đó.

      Trong khi đó, vốn đầu tư cho năng lượng tái tạo của các nước thành viên Liên minh châu Âu (EU) giảm mạnh trong năm thứ hai liên tiếp, chủ yếu do tác động của các biện pháp kinh tế khắc khổ. 

      Cụ thể, Đức giảm 55%, Pháp giảm 42%, Italy giảm 75% và Tây Ban Nha giảm 84%. Anh là nước EU duy nhất đi ngược xu hướng, với tổng vốn đầu tư tăng 13% lên 12,4 tỷ USD, trong đó hơn 50% dành cho phát triển năng lượng gió.

      Canada và các nước không thuộc Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới (G-20) cũng nằm trong số các quốc gia thành công trong việc thu hút đầu tư vào năng lượng tái tạo, với mức tăng lần lượt 45% và 15%.

      Cũng theo báo cáo của Pew, các nước ngày càng chú trọng đầu tư vào nghiên cứu và sản xuất năng lượng mặt trời hơn so với năng lượng gió. Riêng trong năm 2013, công suất điện năng từ năng lượng mặt trời tăng 20%, công suất năng lượng gió giảm 40%. Ngoài ra, năng lượng mặt trời sẽ trở thành lĩnh vực đi đầu trong đầu tư và phát triển năng lượng tái tạo trong những năm tới.

    • 1.200 tỷ đồng xây dựng Nhà máy Điện gió Cốc Hải 1

      Dự án có tổng kinh phí gần 1.200 tỷ đồng, chia làm hai giai đoạn. Giai đoạn 1 sẽ được triển khai từ đầu tháng 6/2014 có tổng mức đầu tư 190 tỷ đồng, xây dựng tổ máy phát điện thử nghiệm gồm 3 trụ điện gió (1 MWh/trụ). Dự kiến, tổ máy sẽ hoàn thành vào cuối năm 2014 và đưa vào vận hành từ đầu năm 2015.

      Dự án Điện gió Cốc Hải 1 sử dụng công nghệ tuabin 2 lớp cánh đồng trục, được phát triển từ ý tưởng cánh quạt hai lớp trong máy bay quân sự tại Nga. Công nghệ có ưu điểm như giá thành thấp, công suất tạo điện cao hơn gấp 2,5 lần so với công nghệ tuabin gió hiện tại…

      Ông Ngô Việt Hải - Tổng giám đốc Công ty Phát điện 2 cho biết, nếu Dự án thành công sẽ giúp tăng sản lượng điện tái tạo. Ngoài ra, công nghệ tuabin 2 lớp cánh đồng trục sẽ có cơ hội được chuyển giao công nghệ, tổ chức sản xuất và ứng dụng đại trà tại Việt Nam, thông qua Tổng công ty Công nghiệp Sài Gòn.

    • Sản xuất điện từ rác: Cần gỡ bỏ các rào cản

      Còn nhiều rào cản

      Theo thống kê hiện nay, tổng lượng chất thải rắn đô thị (CTRĐT) ở Việt Nam khoảng 12,8 triệu tấn/năm. Dự báo đến năm 2015, con số này sẽ khoảng 13,5 triệu tấn/năm, đến 2020 sẽ là 22 triệu tấn/năm.

      Riêng Hà Nội giai đoạn 2015 - 2020 sẽ thải ra trung bình 7.000 - 8.000 tấn rác/ngày, TP. Hồ Chí Minh (10.000 - 12.000 tấn/ngày), Hải Phòng và Đồng Nai (5.000 - 6.000 tấn/ngày)… Đây là nguồn cung cấp nhiên liệu ổn định cho các nhà máy điện từ rác thải công suất 300 tấn/ngày, tương đương sản lượng gần 350 MW điện.

      Tuy nhiên, đến thời điểm này, Việt Nam mới có dự án Xây dựng hệ thống xử lý chất thải công nghiệp công suất 75 tấn/ngày tại khu liên hợp xử lý chất thải Nam Sơn, Hà Nội có thể phát điện với công suất 1930 kW, dự kiến hoàn thành vào cuối năm 2014. Trước đó, năm 2006, TP. HCM cũng đưa vào hoạt động công trình xử lý rác Gò Cát công suất 2,4 MW. Tuy nhiên, lượng điện sản xuất ra rất nhỏ.

      Ông Lê Anh Tùng - Chủ tịch HĐQT Công ty Ecotech Việt Nam - cho biết, CTRĐT ở Việt Nam hiện nay gần như chưa được phân loại từ nguồn, thành phần hữu cơ dễ phân hủy lên tới > 60%. Hàm lượng nước trong rác cao (50 - 55%). Vì vậy, nhiệt trị của CTRĐT ở Việt Nam rất thấp, chỉ từ 1.200 – 1.500 kcal/kg. Đây là một trong những yếu tố cản trở lớn nhất cho phát triển các nhà máy Điện từ rác thải ở Việt Nam, nếu như không tìm được công nghệ phù hợp và hiệu quả. Trong đó, phải làm tốt việc phân loại rác thải: Loại bớt độ ẩm trong rác, chỉ chọn những loại rác thải có nhiệt trị cao.

      Ngoài ra, ông Nguyễn Đức Cường - Giám đốc Trung tâm Năng lượng tái tạo thuộc Viện Năng lượng (Bộ Công Thương) - cho rằng, giá điện sinh khối lâu nay còn thấp khiến việc kêu gọi đầu tư vào các dự án NLTT rất khó. Ngoài ra, các nhà đầu tư cũng rất băn khoăn về thủ tục cấp phép. Bởi vì, với lộ trình chuẩn bị thủ tục 2 năm như hiện nay là quá dài. Ngoài ra còn chính sách thuê đất, bài toán đầu ra cho điện từ rác...

      Còn các địa phương băn khoăn khi suất đầu tư của các dự án quá cao trong khi hiệu quả kinh tế còn hạn chế.

      Rác thải có thể cung cấp một nguồn điện rất lớn

      Sẽ có cơ chế riêng cho điện rác

      Theo GS. TS. Đặng Kim Chi, Chủ tịch Hội đồng KHKT (VACNE), hiệu quả lớn nhất của các nhà máy điện từ rác thải là giữ gìn môi trường, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng cho đất nước.

      Dự kiến, năm 2014, Thủ tướng Chính phủ sẽ ban hành Quyết định về “Cơ chế hỗ trợ  phát triển các dự  án phát điện từ chất thải rắn tại Việt Nam”. Trong đó, dự kiến quy định giá mua bán điện tại điểm giao nhận đối với các dự án đốt chất thải rắn trực tiếp là 2.160 đồng/kWh (tương đương 10,05 USD/kWh). Mức giá này sẽ giúp nhà đầu tư có lãi, bước đầu khuyến khích được việc phát triển loại điện này tại Việt Nam

      Theo ông Lê Anh Tùng, chủ tịch Ecotech Việt Nam, để tiếp cận công nghệ xử lý rác thải kết hợp phát điện ở Việt Nam, Ecotech đang đề xuất hợp tác ở 3 dự án: Dự án PPP 5.525 tấn/ngày tại Khu xử lý chất thải công nghệ cao  xã Bắc Sơn (Sóc Sơn - Hà Nội), tổng mức đầu tư dự kiến là 3.150 tỷ đồng; Dự án BOT 1.000 tấn/ngày tại Khu xử lý rác thải tập trung ở xã Vĩnh Tân (Vĩnh Cửu - Đồng Nai); Dự án FDI 500 - 1.000 tấn/ngày tại Khu xử lý Láng Dài (Đất Đỏ - Bà Rịa Vũng Tàu). Theo ông Tùng, điều Việt Nam nên quan tâm hiện nay là lựa chọn công nghệ thích hợp để vừa đạt hiệu quả kinh tế, vừa đảm bảo mục tiêu giữ gìn môi trường.

      Theo Thứ trưởng Bộ Công Thương Lê Dương Quang, sản xuất điện từ rác thải là vấn đề khá mới mẻ ở Việt Nam. Ðể kêu gọi đầu tư, các địa phương cần phối hợp cùng các cơ quan chức năng sớm tháo gỡ những rào cản, có chính sách ưu đãi, hỗ trợ hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực này. Bộ Công Thương sẵn sàng cùng các bên tìm kiếm giải pháp, xây dựng cơ chế chính sách cụ thể để sớm có nhà máy xử lý chất thải rắn, đặc biệt là các nhà máy từ rác này. Chắc chắn điện từ rác thải sẽ có cơ chế riêng về giá, có những có chế khuyến khích ưu đãi liên quan về thuế, thuê đất,... Việc đầu tư sản xuất điện từ rác thành công sẽ góp phần đảm bảo thực hiện đúng định hướng phát triển điện tại Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia.

      Quy hoạch điện VII đặt ra mục tiêu  đến năm 2030 điện gió đạt 6.200 MW, điện sản xuất từ chất thải rắn 2.000 MW, các loại năng lượng khác như địa nhiệt, điện sản xuất từ rác thải sinh hoạt, khí sinh học… đạt khoảng 6.000 MW.

       

       

       

    • Đồng bằng sông Cửu Long: Cần hơn 7.600 tỷ đồng phát triển điện sinh khối

      Theo đó, đến năm 2020, ĐBSCL có điện được sản xuất từ bã mía (50 MW), trấu (140 MW), gỗ (24 MW) với tổng nhu cầu vốn khoảng 7.664 tỷ đồng. Giai đoạn từ năm 2021 đến năm 2030 có thêm điện được sản xuất từ rơm rạ 90 MW, nâng tổng công suất điện sinh khối của toàn vùng lên 304 MW.

      Theo đánh giá của Viện Năng lượng, nguồn sinh nhiên liệu khối ở Việt Nam hơn 100 triệu tấn/năm. Đây là nguồn nguyên liệu khá lớn để phát triển năng lượng tái tạo trong điều kiện năng lượng hóa thạch và thủy điện đã cơ bản khai thác hết.

      Việc quy hoạch phát triển điện sinh khối vùng ĐBSCL nhằm khai thác và sử dụng các nguồn sinh khối cho sản xuất điện mà vùng đang rất giàu tiềm năng. Tổng cục Năng lượng sẽ phối hợp với UBND và sở công thương các tỉnh vùng ĐBSCL hướng dẫn, theo dõi và giám sát việc thực hiện quy hoạch này.

    • Google chi 80 triệu USD cho lĩnh vực năng lượng tái tạo

      Đây đã là lần  thứ 14 Google đầu tư trong lĩnh vực năng lượng tái tạo. Từ tháng 4/2010, “gã khổng lồ tìm kiếm” đã đầu tư tới hơn 1 tỷ USD cho các dự án năng lượng gió và mặt trời.

      Theo thông tin từ Google, các dự án của họ có tổng công suất điện là 106 MW.

      Hiện 33% nguồn năng lượng của Google đến từ các nguồn tái tạo, nhưng hãng này hy vọng họ sẽ đạt tới mức 100% trong tương lai.

    • Hà Nội thử nghiệm mô hình xử lý rác thải công nghiệp: Biến rác thành điện

      (Ảnh minh họa)

      Sau gần 2 năm đầu tư nghiên cứu, Công ty TNHH MTV Môi trường đô thị  Hà Nội (URENCO) và Công ty Hitachi Zosen - Nhật Bản  đã khởi công dự án “Hệ thống xử  lý chất thải công nghiệp để phát điện tại Nam Sơn" (huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội). Dự án do Tổ chức phát triển công nghệ công nghiệp và năng lượng mới Nhật Bản (NEDO) tài trợ. Đây là mô hình kiểu mẫu đầu tiên tại Việt Nam, áp dụng công nghệ lò đốt tiên tiến, tái sử dụng nguyên liệu chất thải, biến thành điện năng.

      Theo URENCO, Dự án này sử dụng công nghệ đốt chất thải tiên tiến, có thu hồi năng lượng để sản xuất điện năng. Đây là một trong những công nghệ tiên tiến của Nhật Bản nhằm xử lý chất thải công nghiệp triệt để, phát triển năng lượng thay thế và giảm thiểu khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Một số loại rác thải mà dự án có khả năng xử lý gồm: Cao su, nhựa và vải... kể cả chất thải đòi hỏi nhiệt trị cao và kích thước lớn.

      Theo dự án,công suất xử lý rác thải là 75 tấn/ngày, đồng thời tận dụng lượng nhiệt để phát điện với công suất 1.930 kW (ở chế độ định mức). Dự án sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và bảo vệ môi trường thông qua việc xây dựng các hệ thống lò đốt và xử lý làm sạch khí thải, thu hồi nhiệt và máy phát điện sử dụng công nghệ tuabin hơi nước để sản xuất điện năng.

      Dự án sẽ góp phần giảm áp lực về diện tích đất đổ thải cho Hà Nội, đồng thời, xử lý một cách hiệu quả khối lượng chất thải công nghiệp của Thủ đô và khu vực lân cận. Ngoài ra, dự án còn góp phần tận dụng lượng nhiệt từ việc xử lý chất thải công nghiệp để sản xuất điện năng, góp phần làm giảm gánh nặng về việc thiếu hụt điện năng của Thành phố.
      Theo ông Phạm Ngọc Hải - Chủ tịch HĐTV URENCO, dự án góp phần vào việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, phù hợp với chiến lượng quốc gia về bảo vệ môi trường của Chính phủ Việt Nam.

      Ông Đoàn Ngọc Dương – Giám đốc Trung tâm Tư vấn nhiệt điện, Điện hạt nhân và Môi trường – Viện Năng lượng (Bộ Công Thương) đơn vị tư vấn cho dự án khẳng định, dự án có 2  mục đích chủ yếu là, giải quyết vấn đề môi trường và tạo ra điện năng phục vụ cho nhu cầu sử dụng điện tại chỗ.

      Có thể nói, những chất thải có nhiệt trị cao như cao su, da, nhựa, vải… ở  Việt Nam hiện nay rất nhiều. Nếu mô hình này thử nghiệm thành công, chúng ta hoàn toàn có thể nhân rộng ra các địa phương khác, góp phần xử lý chất thải công nghiệp một cách hiệu quả nhất, đồng thời có thêm nguồn  điện phục vụ nhu cầu xã hội.

      Dự án “Xây dựng hệ thống xử lý chất thải công nghiệp để phát điện tại Nam Sơn”

      - Đơn vị chủ quản: Bộ Tài nguyên và Môi trường.UBND thành phố Hà Nội, Tổ chức NEDO Nhật Bản
      - Đơn vị thực hiện dự án: Công ty URENCO, Công ty Hitachi Zosen
      - Địa điểm thực hiện dự án: Khu Liên hợp xử lý chất thải Nam Sơn, Sóc Sơn, Hà Nội.
      - Thời gian thực hiện: 1 năm (Dự kiến đưa vào vận hành quý 4/2014)
      - Tổng mức đầu tư: 612,236 tỉ đồng
      - Sản lượng điện hằng năm: 15 triệu kWh
      - Thời gian hoạt động của dự án: 30 năm

       

    • VDB cho vay 2.070 tỷ đồng thực hiện dự án đầu tư nhà máy điện gió Bạc Liêu giai đoạn II

      Giai đoạn II của Dự án Đầu tư xây dựng Nhà máy Điện gió Bạc Liêu có tổng mức đầu tư 4.070 tỷ đồng, trong đó Ngân hàng Phát triển Việt Nam cho vay vốn tín dụng  2.070 tỷ đồng, với thời hạn vay 12 năm. Sau khi ký hợp đồng tín dụng, chủ đầu tư sẽ ký  hợp đồng thương mại nhập khẩu thiết bị từ Hoa Kỳ, làm cơ sở để Ngân hàng Phát triển Việt Nam tiến hành thủ tục vay vốn Ngân hàng J.P Mocrgan, dưới sự bảo lãnh của Ngân hàng Xuất nhập khẩu Hoa Kỳ.

      Được biết, Dự án Nhà máy Điện gió Bạc Liêu (do Công ty TNHH Xây dựng-Thương mại-Du lịch Công Lý làm chủ đầu tư) là dự án điện gió thứ hai tại Việt Nam và là dự án đầu tiên, lớn nhất tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, với 300 trụ tua bin, tổng công suất 500 MW.

      Giai đoạn I của Dự án được khởi công từ tháng 9/2010, với 10 trụ tua bin gió hoàn thành vào tháng 5/2013, tổng công suất 16 MW. Tính đến thời điểm hiện tại, Nhà máy Điện gió Bạc Liêu đã hòa vào lưới điện quốc gia 10 triệu kWh điện, dự kiến công suất phát điện đạt trên 55 triệu kWh/năm.

      Triển khai giai đoạn II của Dự án có qui mô công suất 83,2 MW, đưa tổng công suất toàn Dự án lên 99 MW, với 62 trụ tua bin dự kiến sẽ hoàn thành đưa vào sử dụng vào cuối tháng 12/2014, đóng góp vào sản lượng điện của cả nước thêm 320 triệu kWh mỗi năm.

       

       

    • Tăng giá mua điện từ rác thải đầu năm 2014

      Vỏ cà phê được xem là nguồn nguyên liệu sản xuất điện - Ảnh: Nguồn tư liệu của TBKTSG Online

      Đây là thông tin được ông Nguyễn Đức Cường, Giám đốc Trung tâm Năng lượng tái tạo thuộc Viện Năng lượng (Bộ Công Thương) cho biết trong Hội thảo về tiềm năng phát triển các dự án năng lượng tái tạo tại An Giang tổ chức ở Thành phố Hồ Chí Minh.

      Theo đó, giá bán điện sản xuất từ bã mía sẽ ở mức 6,1 cent/kWh (hiện nay là 4 cent/kWh), điện từ trấu khoảng 7,3 cent/kWh (hiện nay khoảng 4 cent/kWh), điện từ đốt rác thải 10 cent/kWh và điện từ chôn lấp rác sẽ có giá khoảng 7,3 cent/kWh (hiện khoảng 4 cent/kWh).

      Cũng theo ông Cường, khi có cơ chế hỗ trợ và biểu giá điện sản xuất từ chất thải rắn nói trên, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) bắt buộc phải mua toàn bộ lượng điện từ bã mía, trấu, rác thải theo dạng hợp đồng không thương thảo và thời gian mua điện theo cơ chế giá mới sẽ kéo dài cả đời dự án khoảng 20 năm.

      Hiện tại, Bộ Công Thương đang soạn thảo dự thảo cơ chế hỗ trợ các dự án phát điện từ chất thải rắn tại Việt Nam.

      Ông Cường cho rằng, giá điện sinh khối lâu nay còn thấp khiến các nhà đầu tư không muốn đầu tư vào các dự án năng lượng tái tạo. Với giá điện theo cơ chế hỗ trợ dự kiến nói trên thì trong tương lai có thể sẽ giúp nhà đầu tư có lãi, bước đầu khuyến khích được việc phát triển loại điện này tại Việt Nam.

      Một yếu tố được ông Cường lưu ý các địa phương là nguồn nguyên liệu cho các dự án điện sản xuất từ chất thải rắn cần được quy hoạch hợp lý để ổn định nguồn nguyên liệu cho cả đời các dự án có tuổi thọ 20 -30 năm.

      Nếu các nhà máy điện sản xuất từ chất thải rắn gần nhau quá sẽ dẫn đến tình trạng tranh mua nguyên liệu, thiếu hụt nguyên liệu dẫn đến lãng phí trong đầu tư.

      Hiện nay tổng công suất nguồn điện tại Việt Nam khoảng 26.000 MW. Trong đó các nguồn điện năng lượng tái tạo như điện rác thải, điện gió, điện bã mía, điện mặt trời chiếm khoảng 3,7%.

      Theo ông Cường, hiện tại Việt Nam có 40 dự án điện bã mía, nhưng  chỉ có 5 nhà máy đường bán điện lên lưới điện quốc gia cho EVN do giá bán điện còn thấp. Ngoài ra tại Cần Thơ có một dự án điện trấu đã lắp đặt xong lò hơi phát điện, nhưng do giá điện còn thấp nên nhà đầu tư bán hơi cho khu công nghiệp Trà Nóc để sấy cá tra, cá basa xuất khẩu.

      Tiềm năng nguồn điện sản xuất từ chất thải rắn tại Việt Nam khá dồi dào với hơn 100 triệu tấn nguyên liệu được tạo ra hàng năm. Trong đó có 40 triệu tấn rơm rạ, 8 triệu tấn trấu, 6 triệu tấn bã mía, 0,3 triệu tấn vỏ cà phê, phế thải gỗ, vỏ lạc, điều, phế thải dừa với trên 50 triệu tấn.

      Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2020 đạt công suất điện sản xuất từ chất thải rắn là 500 MW, đến năm 2030 đạt công suất 2.000 MW, đồng nghĩa với việc từ nay đến 2020 trung bình mỗi năm phải phát triển 100 MW công suất điện sản xuất từ chất thải rắn.

      Theo Viện Năng lượng, mục tiêu đến năm 2030 sẽ phát triển năng lượng tái tạo chiếm 9,4% tổng công suất điện cả nước. Trong đó, điện gió đạt 6.200 MW, điện sản xuất từ chất thải rắn 2.000 MW, các loại năng lượng khác như địa nhiệt, điện sản xuất từ rác thải sinh hoạt, khí sinh học… đạt khoảng 6.000 MW.

       

    • Hậu Giang: Xây nhà máy nhiệt điện đốt bằng vỏ trấu

      Những hợp đồng này gồm Hợp đồng Tổng thầu EPC, Hợp đồng liên doanh hợp tác giữa Công ty C.H.E (Malaysia) và Công ty cổ phần Nhà máy Điện Hậu Giang, Hợp đồng Tư vấn Giám sát Dự án giữa Công ty cổ phần Nhà máy Điện Hậu Giang với Công ty Tư vấn xây dựng Điện 2.

      Nhà máy Nhiệt điện đốt bằng vỏ trấu Hậu Giang, dự kiến khởi công vào cuối tháng 12 năm nay, có tổng công suất 10 MW, được xây dựng trên tổng diện tích 9 ha, tại thị trấn Long Mỹ, (Long Mỹ, Hậu Giang) với tổng vốn đầu tư 32 triệu USD do Ngân hàng Exim-bank Malaysia và Ngân hàng Phát triển Việt Nam hỗ trợ. Đây là công trình trọng điểm chào mừng kỷ niệm 10 năm tái lập tỉnh Hậu Giang (1/1/2004 - 1/1/2014). Thời gian thi công nhà máy khoảng 2 năm.

      Kỹ thuật, thiết bị dự án được cung cấp bởi 2 đơn vị chính là Torftech LTD (Vương quốc Anh) và ERK EckRohrkessel GmbH (Đức) thông qua nhà thầu chính là Công ty C.H.E cùa Malaysia, đơn vị ký tổng thầu với Công ty. Công ty cũng ký hợp đồng vận hành, bảo dưỡng với Công ty CHE Group Sdn Bhd của Malaysia.

      Theo ông Phạm Trọng Thực, Vụ trưởng Vụ Năng lượng tái tạo, Bộ Công Thương, Nhà máy Nhiệt điện đốt bằng vỏ trấu Hậu Giang là dự án đầu tiên nằm trong kế hoạch xây dựng 20 nhà máy nhiệt điện đốt bằng vỏ trấu trên cả nước. Trong đó, đồng bằng sông Cửu Long được đầu tư xây dựng tại 5 tỉnh gồm: An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang, Đồng Tháp và Cần Thơ với tổng công suất 200 MW.

      Ông Nguyễn Thành Nhơn, Phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Hậu Giang, nhấn mạnh, Nhà máy Nhiệt điện đốt bằng vỏ trấu Hậu Giang sau khi hoàn thành, đưa vào sử dụng không chỉ cung cấp nguồn năng lượng sạch cho khu vực, mà còn góp phần quan trọng trong bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu, bởi lượng trấu dư thừa từ lúa gạo ở khu vực này khá lớn, đang đe dọa môi trường, cuộc sống người dân, đồng thời góp phần giải quyết việc làm cho người dân địa phương.

    • Tập đoàn Enercon (CHLB Đức) huy động vốn cho Dự án điện gió Sóc Trăng

      Sóc Trăng là tỉnh thứ 2 tại ĐBSCL phát triển điện gió

      Dự án có vốn đầu tư khoảng 1 tỉ euro, công suất dự kiến 2.600 MW.

      Trong chuyến khảo sát này, Đoàn đã đến nghiên cứu tại các vị trí dự kiến đầu tư điện gió do Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng quy hoạch, khảo nghiệm, đánh giá tiềm năng phát triển điện gió để các nhà đầu tư xem xét. 

      Theo nhận định của Tập đoàn Enercon, đây là địa bàn có tiềm năng đầu tư điện gió rất thuận lợi, đặc biệt là bờ biển Sóc Trăng dài và rộng, tiềm năng điện gió lớn hơn các tỉnh duyên hải trong khu vực, điều kiện đầu tư thuận lợi.

      Ông Nguyễn Trung Hiếu, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng cam kết sẽ tạo điều kiện tốt nhất về quan hệ đối tác với các nhà đầu tư và sẽ tổ chức bàn giao đất khi dự án tiến hành. Đây là địa bàn đã được quy hoạch, có đánh giá về điều kiện, các thông số kỹ thuật cần thiết, để các nhà đầu tư thuận lợi hơn khi tiến hành triển khai dự án.

      Các tài liệu Atlas về tài nguyên gió khu vực Đông Nam Á (theo đánh giá tài nguyên gió tại các vị trí lựa chọn từ bản đồ của Ngân hàng Thế giới ở Việt Nam) đều cho thấy, tỉnh Sóc Trăng là một trong những tỉnh của Việt Nam có tiềm năng gió thuộc loại lớn và rất thuận lợi cho xây dựng các dự án điện gió quy mô lớn. 

      Trong đó, tổng diện tích khu vực có tiềm năng gió lý thuyết là 120.000 ha, chiếm khoảng 37% diện tích cả tỉnh. Thực tế, đã có nhiều nhà đầu tư quan tâm và có ý định đầu tư vào lĩnh vực điện gió tại Sóc Trăng trong thời gian tới.

      Theo đề án Quy hoạch điện gió của tỉnh Sóc Trăng đến năm 2020 và tầm nhìn 2030, Sóc Trăng có thuận lợi để đầu tư các nhà máy điện gió tập trung ở các vùng bãi bồi ven biển thuộc địa bàn 3 huyện, thị là Cù Lao Dung, Trần Đề và thị xã Vĩnh Châu. 

      Tổng mức đầu tư cho các dự án điện gió theo quy hoạch của tỉnh Sóc Trăng đến năm 2020 là gần 8.300 tỷ đồng. Dự kiến sơ bộ, tổng diện tích đất chiếm dụng vĩnh viễn cho quy hoạch phát triển điện gió tỉnh Sóc Trăng là 490 ha, chủ yếu là mặt nước, bãi bồi ven biển của tỉnh. 

      So với các công trình khác, diện tích đất thu hồi cho xây dựng dự án không ảnh hưởng lớn đến đời sống kinh tế - xã hội của người dân địa phương.

    • Tháng 10 sẽ khởi công Dự án Cấp điện năng lượng mặt trời tại Quảng Bình

      Dự án cung cấp điện bằng năng lượng mặt trời tỉnh Quảng Bình do Chính phủ Hàn Quốc tài trợ. Dự án có tổng nguồn vốn đầu tư gần 14 triệu USD. Sau khi hoàn thành sẽ cung cấp điện cho gần 100 đơn vị dịch vụ công và 55 thôn, bản của 10 xã chưa có hệ thống điện lưới quốc gia đi qua, gồm các xã: Ngân Thủy, Kim Thủy, Lâm Thủy (huyện Lệ Thủy), Trường Xuân, Trường Sơn (huyện Quảng Ninh), Thượng Trạch, Tân Trạch, Sơn Trạch (huyện Bố Trạch), Trọng Hóa, Dân Hóa (huyện Minh Hóa).

      Cũng liên quan đến hợp tác triển khai các Dự án điện của Hàn Quốc, vừa qua Tập đoàn Samsung và đơn vị tư vấn là Viện Năng lượng đã có buổi làm việc với UBND tỉnh Quảng Bình. Tại buổi làm việc,Tập đoàn Samsung rất mong muốn được khảo sát thực địa để đầu tư xây dựng Nhà máy Nhiệt điện tại Trung tâm Nhiệt điện Quảng Trạch trong thời gian tới.

       

    • Hà Nội đầu tư 600 tỷ đồng để đốt rác thành điện

      Dự kiến cuối năm 2014, hệ thống xử lý chất thải công nghiệp, phát điện tại Nam Sơn sẽ đi vào hoạt động

      Dự án có tổng mức đầu tư hơn 600 tỷ đồng, trong đó Tổ chức Phát triển công nghệ công nghiệp và năng lượng mới Nhật Bản (NEDO) viện trợ không hoàn lại hơn 470 tỷ đồng, vốn đối ứng của Việt Nam là hơn 140 tỷ đồng.

      Khi hoàn thành, nhà máy có công suất xử lý 75 tấn/ngày chất thải công nghiệp và nguy hại, đồng thời tận dụng nhiệt phát điện với công suất 1.930 kW.

      Đây là hệ thống xử lý chất thải công nghiệp áp dụng công nghệ lò đốt tiên tiến của Nhật Bản nhằm tái sử dụng nguyên liệu chất thải biến thành điện năng.

      Khi được đưa vào sử dụng, dự án sẽ góp phần bảo vệ môi trường; sản xuất và sử dụng hiệu quả năng lượng trên địa bàn thành phố.

    • Cơ hội mới từ dự án năng lượng tái tạo

      Nhiều cơ hội mới

      Ông Phạm Mạnh Thắng - Tổng cục trưởng Tổng cục Năng lượng (GDoE) - cho biết, hợp phần hỗ trợ đầu tư các dự án NLTT theo hình thức cho vay lại từ nguồn vốn của WB thông qua 6 ngân hàng thương mại với những dự án thủy điện nhỏ công suất dưới 30 MW.

      Bộ Công Thương là cơ quan điều phối thực hiện với mục đích nhằm tăng cung cấp điện vào lưới điện quốc gia từ các nguồn NLTT trên cơ sở bền vững về tài chính, môi trường, và xã hội. Sau hơn 3 năm thực hiện, đến nay đã có 9 dự án (tổng công suất lắp đặt 127,2 MW, tổng vốn đầu tư 132,6 triệu USD) đã được phê duyệt vay vốn từ dự án REDP, tổng lượng vốn được vay là 78 triệu USD, trong đó đã giải ngân trên 54 triệu USD. Hiện có 5 dự án (tổng công suất 68 MW) đã hoàn thành và phát điện, còn 4 dự án tổng công suất 58 MW đang thi công, dự kiến sẽ hoàn thành từ nay đến năm 2014.

      Theo ông Thắng, nhìn chung các dự án đều đảm bảo tiến độ và hoạt động khá hiệu quả. Tuy nhiên, tiến  độ giải ngân các dự án còn chậm, mới đạt 39%. Nguyên nhân là do điều kiện cho vay lại của các ngân hàng chưa hợp lý, biên độ tính lãi suất cho vay quá rộng, mức lãi suất cho vay chưa hấp dẫn chủ đầu tư…

      Để việc sử dụng vốn vay cho dự án REDP có hiệu quả, ngày 9/8/2013, Chính phủ đã có văn bản 6597 cho phép điều chỉnh cơ chế tài chính Hợp phần tín dụng của dự án REDP vay vốn WB. Theo đó, các chủ đầu tư sẽ được vay vốn trong thời hạn 12-15 năm, được hỗ trợ 1,5% lãi suất. Gia hạn thực hiện dự án thêm 2 năm (đến 30/6/2016). Hạn mức áp dụng thông lệ thương mại cho mua sắm hàng hóa tăng từ 1 triệu USD lên 3 triệu USD, áp dụng cho xây lắp tăng từ 7 lên 15 triệu USD. Đồng thời, các ngân hàng thương mại được xem xét mở tài khoản ủy quyền tại ngân hàng để tạo thuận lợi cho chủ đầu tư. Đặc biệt, chủ đầu tư được bồi hoàn 50% chi phí tư vấn để chuẩn bị các báo cáo an toàn của dự án.

      Các dự án điện gió cũng có thể tham gia chương trình REDP

      Đặc biệt, các dự án NLTT tham gia REDP sẽ được tham gia chương trình tài chính carbon (mua bán khí phát thải CO2) tới năm 2020 trên cơ sở thỏa thuận tự nguyện với giá cố định 4 EUR/tấn CO2 (giá thị trường hiện nay là 0,5 EUR/tấn CO2). Đơn vị tài chính các bon của WB sẽ mua lại 100% CERs từ các chủ đầu tư thông qua ban quản lý dự án với chi phí giao dịch thấp hơn so với phát triển dự án CDM đơn lẻ.

      Cũng theo ông Thắng, ngoài các dự án thủy điện nhỏ, các dự án NLTT khác như điện gió, biomas, rác thải đều có thể tham gia chương trình REDP.

      Băn khoăn chuyện giá, vốn

      Một trong những băn khoăn của các nhà đầu tư là suất đầu tư NLTT khá cao trong khi giá bán điện chưa đủ bù chi phí. Mặc dù, Chính phủ đã có chủ trương ưu tiên cho các nguồn điện được sản xuất từ NLTT, song đến nay, chỉ có điện gió được hỗ trợ giá mua với mức 7,8 cent/kWh (6,8 cent là EVN trả, 1 cent nhà nước trợ giá). Vì chưa có cơ chế khuyến khích nên các nhà đầu tư vẫn còn e dè với việc đầu tư cho điện từ NLTT. Có nhà đầu tư băn khoăn vì giá điện tăng quá chậm trong khi các chi phí như lương, xăng dầu, vật tư tăng rất nhanh. Vì vậy, có những dự án điện hiệu quả ở giai đoạn trước nhưng đến giai đoạn này đã trở nên không hiệu quả.

      Mặt khác, cơ chế vay vốn hiện nay vẫn còn nhiều bất cập. Nhiều ngân hàng không đủ điều kiện đánh giá năng lực kỹ thuật công trình nên rất ngại cho các nhà đầu tư thủy điện vay tiền. Về vấn đề này, ông Thắng khẳng định, GDoE có thể cử chuyên gia tham gia thẩm định số liệu thủy văn, dòng chảy, độ an toàn của công trình … Ban quản lý dự án cũng sẽ có cơ chế giám sát lãi suất nhằm đảm bảo lợi ích giữa ngân hàng và nhà đầu tư. Tuy nhiên, quyết định cuối cùng vẫn là ngân hàng và chủ đầu tư tự thỏa thuận.

      Dự án REDP vay vốn WB bao gồm ba hợp phần: Đầu tư xây dựng các dự án NLTT, xây dựng khung chính sách và phát triển các dự án NLTT tương lai. Tổng nguồn vốn của dự án là 318,05 triệu USD. Ước tính có khoảng 15 - 30 tiểu dự án đầu tư vào các nguồn NLTT sẽ được vay vốn từ dự án REDP.

       

    • Thẩm định năng lực chủ đầu tư dự án Nhà máy Điện gió Lợi Hải

      Việc đầu tư Dự án Nhà máy Điện gió Lợi Hải sẽ cung cấp nguồn năng lượng sạch cho địa phương và cả nước - Ảnh: H.Hiếu

      Theo đó, Phó Thủ tướng giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương và các cơ quan liên quan thẩm định phương án tài chính, năng lực tài chính và khả năng hoàn trả vốn vay ODA của Chủ dự án, báo cáo kết quả lên Thủ tướng Chính phủ trước khi xem xét, phê duyệt danh mục Dự án.

      Trước đó, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý cho phép Công ty Cổ phần Phong điện Thuận Bình thay cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam làm chủ đầu tư dự án thí điểm Nhà máy sản xuất điện gió tại xã Lợi Hải, huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận.

      Theo nhận định của Bộ Công Thương, nước ta có tiềm năng phát triển điện gió với 8,6% diện tích cả nước có vận tốc gió cao, tập trung tại các tỉnh Bình Định, Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Đồng, Trà Vinh, Sóc Trăng...

      Nếu so với các nguồn năng lượng như nhiệt điện hay thủy điện, thì điện gió mang lợi ích về môi trường, chưa kể đến việc tiết kiệm được rất nhiều diện tích đất xây dựng.

      Việt Nam có chiều dài bờ biển trên 3.000km nên rất thuận lợi cho việc phát triển nguồn điện năng từ sức gió. Tuy nhiên thực tế thời gian qua nước ta vẫn còn bỏ phí nguồn năng lượng tái tạo từ sức gió rất dồi dào này.

       

    • Tây Ban Nha tài trợ 1 triệu Euro để Việt Nam phát triển năng lượng mặt trời

      Dự án "Thúc đẩy phát triển năng lượng mặt trời tại Việt Nam" gồm 3 cấu phần chính với tổng vốn tài trợ 1 triệu Euro.

      Việt Nam ưu tiên phát triển năng lượng mặt trời trong thời gian tới - Ảnh: CTV

      Cấu phần 1: Đánh giá tiềm năng phát triển NLMT ở Việt Nam. Phía Tây Ban Nha cử 3 viện nghiên cứu hàng đầu về năng lượng của mình là CIEMAT, CENER, IDEA phối hợp với Viện Năng lượng của Bộ Công Thương Việt Nam tiến hành nghiên cứu này.

      Từ dữ liệu do Trung tâm Khí tượng - Thủy văn Quốc gia cung cấp, các chuyên gia của các viện nghiên cứu Tây Ban Nha cùng với các chuyên gia của Viện Năng lượng của Bộ Công Thương Việt Nam sẽ tiến hành lập bản đồ tiềm năng phát triển NLMT của Việt Nam.

      Cấu phần 2: Xây dựng, vận hành từ  1 đến 2 dự án điện mặt trời thí  điểm. Phía Tây Ban Nha sẽ thiết kế, cung cấp thiết bị. Thông qua hoạt động này, các chuyên gia, cán bộ Việt Nam sẽ được tiếp cận công nghệ, kinh nghiệm từ các chuyên gia Tây Ban Nha.

      Dự án thí điểm cũng được sử dụng cho mục đích đào tạo, nghiên cứu cho các sinh viên từ các trường đại học. Số liệu thu thập từ các dự án thí điểm sẽ được sử dụng để phân tích, đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án điện mặt trời nối lưới và không nối lưới, từ đó xây dựng Báo cáo đề xuất cơ chế hỗ trợ cần thiết để phát triển điện mặt trời ở Việt Nam.

      Cấu phần 3: Xây dựng mối quan hệ giữa các viện nghiên cứu, đối tác công - tư của Việt Nam và Tây Ban Nha thông qua việc tổ chức các hội thảo chuyên đề về năng lượng mặt trời tại Việt Nam, thông qua các chuyến làm việc, tham quan tại Tây Ban Nha để học hỏi kinh nghiệm phát triển điện mặt trời của Tây Ban Nha.

      Theo kế hoạch, Dự án sẽ kết thúc vào tháng 1/2015.

       

    • Điện gió Bạc Liêu hòa 3 triệu KWh vào lưới điện quốc gia

      Tập đoàn Điện lực Việt Nam cũng đã ký hợp đồng mua điện của nhà máy.

      Hiện nay, các đơn vị đang tiếp tục thi công 52 trụ tua bin còn lại của công trình và phấn đấu sẽ sẽ hoàn thành đưa vào sử dụng công trình này vào cuối tháng 12/2014.

      Dự án công trình điện gió Bạc Liêu tại xã ven biển Vĩnh Trạch Đông, thành phố Bạc Liêu (tỉnh Bạc Liêu) là dự án điện gió thứ hai tại Việt Nam và là dự án đầu tiên tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long. 

      Dự án có tổng công suất 99 MW, tổng vốn đầu tư 5.200 tỷ đồng, gồm 62 trụ tuabin điện gió, công suất mỗi tuabin 1,6 MW. 

      Tổng công suất phát điện của công trình là 320 triệu KWh/năm. Giai đoạn 1 công suất phát điện đạt trên 55 triệu KWh/năm.

    • USTDA hỗ trợ phát triển điện gió cho Việt Nam

      Thời gian thực hiện dự án này là 12 tháng (từ tháng 8/2013 – tháng 8/2014). Nguồn vốn tài trợ không hoàn lại của USTDA cho dự án là 287.917 USD.

      Hiện nay mới chỉ có hai nhà máy điện gió với tổng công suất 60 MW ở tỉnh Bình Thuận và Bạc Liêu đã đấu nối vào lưới điện quốc gia. Việc tích hợp một lượng lớn nguồn điện gió vào lưới điện quốc gia đặt ra những thách thức lớn về vấn đề kỹ thuật do tính chất không ổn định của nguồn điện gió.

      Do đó, dự án này rất cần thiết cho việc đánh giá ảnh hưởng của việc tích hợp nguồn điện gió vào hệ thống điện, xác định quy mô và xây dựng các quy định về việc tích hợp nguồn điện gió, đánh giá ảnh hưởng tới việc vận hành thị trường điện và hệ thống điện nhằm đảm bảo an ninh cung cấp điện.

       

    • Cần khuyến khích các dự án sản xuất điện từ rác

      Mỗi ngày, thành phố thải ra 7.500 tấn rác sinh hoạt, trong đó hơn 90% lượng rác được xử lý bằng biện pháp chôn lấp

      Mới đây, TP Hồ Chí Minh lại tiếp tục kêu gọi các nhà đầu tư có tiềm lực tham gia đầu tư xây dựng nhà máy đốt rác phát điện công suất 2.000 tấn/ngày và nhà máy xử lý chất thải nguy hại công suất 2.000 tấn/ngày.

      Ðây là hai dự án trong tổng số 41 chương trình, dự án ưu tiên triển khai giai đoạn 2013 - 2015 thuộc kế hoạch ứng phó với biến đổi khí hậu trên địa bàn thành phố đến năm 2015 đã được UBND thành phố phê duyệt.

      Theo Tiến sĩ Nguyễn Trung Việt, Chánh Văn phòng Biến đổi khí hậu TP Hồ Chí Minh, chỉ tính riêng trên địa bàn thành phố mỗi ngày đã thải ra 7.500 tấn rác sinh hoạt (trong đó hơn 90% lượng rác được xử lý bằng biện pháp chôn lấp, 10% còn lại làm phân compost).

      Nếu phân loại rác tại nguồn thành công, thành phố sẽ tái sử dụng 90 - 95% khối lượng chất thải rắn, trong đó khoảng 70% dành để tái sinh năng lượng (đốt phát điện) và sản xuất phân compost, phân vi sinh giúp giảm đáng kể ô nhiễm môi trường. Thế nhưng hiện thành phố vẫn chưa có nhà máy đốt rác phát điện nào.

      Trước đó, vào tháng 2/2013, đại diện Công ty Hitachi Zosen (Nhật Bản) cho biết, đang nghiên cứu khả thi để đầu tư xây dựng nhà máy đốt rác phát điện với quy mô đốt 1.000 tấn rác/ngày, có công suất phát điện 25 MW tại TP Hồ Chí Minh. Nếu được UBND thành phố cấp phép xây dựng (dự kiến vào năm 2014) thì dự án sẽ được triển khai xây dựng tại Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Tây Bắc (huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh) với tổng vốn đầu tư ước khoảng 100 triệu USD.

      Ðây không phải là lần đầu một doanh nghiệp nước ngoài có ý định đầu tư vào sản xuất điện từ rác ở TP Hồ Chí Minh. Trước đó khoảng một năm, Công ty Trisun International Development (Ô-xtrây-li-a) đã đề xuất với chính quyền thành phố một dự án nhà máy xử lý rác thải bằng công nghệ Plasma (khí hóa rác thải) để sản xuất điện với vốn đầu tư lên tới 400 triệu USD. Tuy nhiên đến nay dự án này vẫn chưa được triển khai.

      Do việc đầu tư nhà máy điện rác là lĩnh vực tiềm năng, nên từ khá lâu TP Hồ Chí Minh đã kêu gọi đầu tư từ các doanh nghiệp nước ngoài. Ngoài hai dự án trên, hiện có Công ty TNHH Xử lý chất thải rắn Việt Nam (VWS, 100% vốn nước ngoài) cho biết, khoảng đầu năm 2014 nhà máy điện chạy bằng khí thải từ rác sẽ hoàn thành và đi vào hoạt động tại Khu Liên hợp xử lý chất thải rắn Ða Phước (huyện Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh). Dự án này cũng chậm hơn so với dự kiến ban đầu là vào cuối năm 2013. Hiện nay VWS tiếp nhận 3.000 tấn rác để xử lý với chi phí khoảng 17 USD/tấn. Số rác này được xử lý bằng cách chôn lấp để lấy khí gas chạy nhà máy phát điện nói trên.

      Nhiều năm trước đây đã có một số nhà đầu tư nước ngoài bày tỏ ý định xây dựng dự án đầu tư nhà máy sản xuất điện từ rác thải ở TP Hồ Chí Minh. Thế nhưng, đến nay vì nhiều lý do khách quan lẫn chủ quan, nên hầu như vẫn chưa có dự án nào được thực hiện. Một số dự án được cấp giấy phép bốn, năm năm trước nhưng đa phần đã xin rút giấy phép hoặc có nhà đầu tư ngừng dự án mà không thông báo.

      Có nhận định cho rằng, một trong những lý do chính là tính hiệu quả kinh tế không cao vì những dự án đầu tư nhà máy điện rác đòi hỏi vốn đầu tư rất lớn, không cho lợi nhuận ngay trong thời gian đầu, trong khi khả năng hoàn vốn lại kéo dài từ 10 đến 20 năm và sinh lợi thấp. Ðó là chưa kể nhà đầu tư thiếu vốn để thực hiện dự án trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế nên gặp khó khăn về vốn vay. Hơn nữa, việc thương lượng về giá bán điện rác cũng còn nhiều điểm chưa thống nhất (với mức giá theo mặt bằng chung áp dụng cho năng lượng tái tạo là 7,8cent/kWh thì nhiều nhà đầu tư sẽ khó thu hồi vốn). Mặt khác, công nghệ xử lý rác, số lượng rác thu gom để sản xuất điện cũng còn nhiều vấn đề bàn cãi. Riêng bài toán đầu ra cho điện rác cũng còn những ý kiến băn khoăn là sẽ bán điện cho ai, nguồn điện dư sẽ như thế nào, trong khi, cơ chế bán điện lại chưa rõ ràng.

      Ngoài ra, một rào cản khác cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc thu hút đầu tư công nghệ đốt rác thải phát điện tại TP Hồ Chí Minh là giá thành xử lý rác được các nhà đầu tư đưa ra còn rất cao nên chính quyền thành phố thường phải cân nhắc với những dự án này. Ðơn cử như Keppel từng đề xuất mức giá xử lý rác đến 32 USD/tấn, còn Tâm Sinh Nghĩa thì khoảng 26 USD/tấn. Ðối với nhà máy điện rác theo công nghệ plasma thì mức giá đề xuất là 26,8 USD tấn (áp dụng cho năm năm đầu) cũng được cho là khá cao vì đối với công nghệ chôn lấp cổ điển thì TP Hồ Chí Minh áp dụng mức giá chỉ 17 - 18 USD/tấn (như đối với bãi rác Ða Phước).

      Riêng đối với các doanh nghiệp trong nước, ngoài vấn đề về vốn, chi phí xử lý rác thì trình độ công nghệ thua kém cũng là lý do khiến họ không mặn mà khi đầu tư vào lĩnh vực này.

      Trên thực tế, việc tận dụng nguồn rác thải để sản xuất điện năng đã từng hình thành từ năm 2006, khi TP Hồ Chí Minh đưa vào hoạt động công trình xử lý rác Gò Cát (quận Bình Tân, TP Hồ Chí Minh) do Công ty Môi trường Ðô thị thành phố làm chủ đầu tư (được xây dựng trên diện tích 25 ha, với tổng vốn đầu tư 262 tỷ đồng, do Chính phủ Hà Lan viện trợ không hoàn lại 60%). Trong đó, riêng hạng mục xây dựng nhà máy sản xuất điện từ rác ở Gò Cát được đầu tư hơn ba triệu USD với công suất 2,4 MW.

      Mặc dù nhà máy trên hoạt động gần bảy năm nay, nhưng theo đánh giá của Phó Giám đốc Công ty TNHH một thành viên Môi trường Ðô thị TP Hồ Chí Minh Trần Ðại Ðồng thì lượng điện sản xuất ra từ nhà máy với phương thức ủ rác tạo khí gas, từ khí gas đem chạy máy phát điện là cực kỳ nhỏ và không có hiệu quả kinh tế. Cho nên hướng đi lâu dài của Công ty Môi trường Ðô thị TP Hồ Chí Minh là xây dựng hệ thống xử lý rác thải không chôn lấp, tái chế hoàn toàn nguồn rác thải để tạo thành các sản phẩm bán ra thị trường.

      Rõ ràng những vướng mắc trong việc đầu tư nhà máy sản xuất điện từ rác thải ở TP Hồ Chí Minh sẽ còn nhiều vấn đề phải giải quyết thấu đáo. Ðể có thể giảm ô nhiễm môi trường từ nguồn rác thải và có thêm nguồn năng lượng tái tạo thì đòi hỏi chính quyền thành phố phối hợp cùng các cơ quan chức năng cần sớm tháo gỡ những rào cản, có chính sách ưu đãi, hỗ trợ hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi thì mới hy vọng thu hút các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực này.

    • Điện gió ở hải đảo

      Ở hai hòn đảo trên, một nơi có nhà máy điện gió thì người dân vẫn chưa được cấp điện 24/24, một nơi vẫn mòn mỏi chờ điện gió. Theo ông Huỳnh Kim Tước, Giám đốc Trung tâm Tiết kiệm Năng lượng TP.HCM (ECC-HCMC), dự án điện gió nếu đầu tư ở những vùng hải đảo, những nơi không thể kéo điện lưới quốc gia, những nơi người dân đang trả tiền điện với giá cao, thì đầu tư điện gió sẽ hiệu quả hơn so với phát điện bằng dầu diesel.

      Còn theo thạc sĩ Nguyễn Hoàng Dũng, Trưởng phòng Dự án lưới điện - Công ty CP Tư vấn Xây dựng điện 3 (EVN PECC3) đơn vị được Bộ Công Thương chỉ định thực hiện việc lập quy hoạch điện gió trên toàn quốc, đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận là nơi tốt nhất để phát triển điện gió trong các đảo của Việt Nam và cũng là nơi có tốc độ gió trung bình cao nhất Việt Nam (trên 10 m/giây).

      Trên đảo Phú Quý trước đây chỉ có nguồn điện duy nhất là từ máy chạy dầu diesel có công suất 3 MW của Công ty điện lực Bình Thuận. Tháng 9.2012, Tổng công ty điện lực dầu khí đã đưa vào khai thác nhà máy điện gió với 3 trụ tua bin có tổng công suất 6 MW.

      Điện gió trên đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận - Ảnh: Thọ Châu

      Trên lý thuyết, khi có thêm nhà máy điện gió, cộng với điện phát từ máy diesel thì trên đảo sẽ không thiếu điện. Nhưng thực tế, người dân trên đảo hiện nay chỉ được sử dụng điện 16 tiếng/ngày. Theo một chuyên gia về điện, 3 tua bin điện gió ở đảo Phú Quý có tổng công suất 6 MW là quá lớn, lẽ ra chỉ nên đầu tư nhiều tua bin có công suất nhỏ, mỗi tua bin có công suất chừng vài trăm KW, chia làm nhiều giai đoạn đầu tư theo nhu cầu sử dụng điện trên đảo thì tốt hơn. Chứ như hiện nay, lúc gió mạnh, 3 tua bin này chạy hết công suất thì phụ tải trên đảo sẽ không tiêu thụ hết, lượng điện dư không biết làm sao vì nơi đây đâu có lưới điện quốc gia để tải vào.

      Côn Đảo mòn mỏi chờ điện gió

      Từ nhiều năm qua, không ít nhà đầu tư đến H.Côn Đảo để xin đầu tư nhà máy phong điện và đã được tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu chấp thuận, nhưng đến nay chưa có nhà máy nào hình thành. Năm 2011, Công ty CP năng lượng Mặt Trời Đỏ (TP.HCM) báo cáo UBND tỉnh đầu tư dự án điện gió, điện mặt trời tại H.Côn Đảo.

      Trước đó, năm 2007, UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu chấp thuận đề nghị của Tập đoàn Aerogie.Plus (Thụy Sĩ) về việc triển khai nghiên cứu và chuẩn bị các thủ tục để thực hiện lập dự án điện gió cho H.Côn Đảo. Thế nhưng, do việc triển khai dự án chậm chạp, năm 2012, UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã thu hồi dự án, thu hồi giấy phép đầu tư của công ty. Sở Kế hoạch - Đầu tư tỉnh cho biết mặc dù đã thu hồi dự án nhưng nếu công ty này vẫn muốn tiếp tục xin chủ trương đầu tư lại thì tỉnh vẫn cấp phép.

    • Điện sạch về đảo Thiềng Liềng

      (Ảnh minh họa)

      Thiềng Liềng là đảo thuộc huyện Cần Giờ TPHCM, nhưng để có thể đến được đảo, đoàn công tác đi qua hai lần đò mất khoảng hơn hai tiếng đồng hồ. Thuở Thiềng Liềng chưa có điện, sau 18 giờ là nhà dân chìm vào bóng tối. Người lớn thì đi ngủ rất sớm, còn trẻ em phải ngồi học bên những ánh đèn dầu tù mù.

      Đời sống vật chất của người dân quanh năm còn đối diện với cái nghèo do điều kiện vị trí địa lý cách trở, giao thông đi lại không thuận lợi. Hơn 40% số hộ thuộc diện nghèo, với nghề chính là làm muối.

      Nghề còn lại là đánh bắt thủy sản cũng chỉ có thể phát triển ở mức tương đối vì điều kiện còn thiếu thốn. Đất đai phần lớn bị nhiễm mặn, thiếu nước ngọt nên không thể trồng trọt.

      Với mong muốn cải thiện chất lượng sống của người dân, một dự án điện sạch đã được triển khai lắp đặt. Hơn 80 tấm pin mặt trời có công sức sản xuất 160 kWh/ngày đủ để có thể cung cấp điện cho 169/216 hộ dân và các trạm y tế, kiểm lâm, hải quan, ban kiểm soát biên phòng, ban quản lý ấp, đặc biệt là Trường Tiểu học Thiềng Liềng.

      Ông Nguyễn Văn Yên, tổ 37 Ấp Thiềng Liềng cho biết, từ ngày có điện, nhiều hộ gia đình đã mua ti vi về để đến tối có thể nghe thêm thời sự, xem phim, ca nhạc. Riêng các em học sinh cũng đỡ phải chịu cảnh học bài với ánh sáng leo lét…

      Gần đây, chính quyền địa phương lên kế hoạch đem internet về cho ấp đảo (qua 3G) để giúp các em học sinh có điều kiện học tập từ xa, đồng thời hướng dẫn người dân sử dụng máy tính để tiếp cận thông tin bên ngoài vùng đất hẻo lánh này. Bà Trần Diệu Hồng, phụ trách truyền thông Công ty Kim Eng May Bank cho biết, số máy tính vận động được để đem tặng người dân đảo Thiềng Liềng đợt này là 6 máy.

      Toàn bộ số máy này sẽ dùng để mở các khóa học hướng dẫn các em học sinh cũng như người dân trên đảo biết cách sử dụng máy tính cơ bản và có thể sử dụng internet tìm hiểu thông tin. Tuy nhiên, theo trung úy Minh Tiến, Trạm trưởng Trạm biên phòng Thiềng Liềng, làm thế nào để có đủ điện chạy máy tính là một vấn đề nan giải.

      Hiện lượng điện chỉ đáp ứng một phần nhu cầu sử dụng cho mục đích sinh hoạt, vào mùa mưa, điện phục vụ sinh hoạt vẫn còn thiếu. Do vậy, để có đủ điện sử dụng cho hệ thống máy vi tính chắc chắc phải sử dụng thêm máy phát điện chạy bằng xăng mà như thế thì chi phí rất tốn kém. Và đó cũng là lý do chung khiến cho đời sống người dân nơi đây dù đã có cải thiện đáng kể nhưng vẫn còn tồn tại nhiều hộ nghèo. Các em trong lứa tuổi đi học cũng bỏ học rất nhiều.

      Đơn cử, cứ khoảng 90 em học các cấp từ mẫu giáo đến cấp hai nhưng đến cấp ba thì chỉ còn khoảng 10 em theo đuổi việc học. Trường học ở quá xa, phải mất hơn 3 tiếng để di chuyển đi và về. Gia đình lại nghèo, thu nhập không ổn định từ nghề muối và đánh bắt thủy sản là hai lý do chính khiến các em không đủ điều kiện để theo đuổi việc học.

      Được sử dụng internet là hình thức giúp cho các em học sinh nơi đây có cơ hội phát triển kiến thức, cải thiện chất lượng cuộc sống thông qua hình thức học từ xa. Song sự thiếu hụt nguồn điện đã một lần nữa khiến cơ hội này của các em trở nên chật vật.

       

    • “Chung tay” vì năng lượng tái tạo

      Năng lượng gió đóng góp một phần quan trọng trong cơ cấu ngành năng lượng tái tạo

      Từ bài học của những cường quốc
       
      Tiến sỹ Cary Bloyd - Chuyên viên khoa học cao cấp Phòng thí nghiệm quốc gia Tây Bắc Thái Bình Dương (Hoa Kỳ) cho biết: Kinh nghiệm của các nước phát triển mạnh về các nguồn NLTT cho thấy, vai trò của Chính phủ rất quan trọng trong việc phát triển các dự án NLTT, đặc biệt trong việc thu hút đầu tư tư nhân. Chính phủ có thể đóng vai trò bảo trợ giúp DN vay vốn. Chính phủ cũng cần ban hành những ưu đãi về thuế, tiền thuê đất để giúp DN có thêm thuận lợi khi đầu tư vào các dự án này.
       
      Cụ thể, tại Cộng hòa Liên bang Đức, chính sách hỗ trợ của Chính phủ được dành cho cả nhà đầu tư (sản xuất) lẫn người sử dụng điện mặt trời. Người dân khi sử dụng pin năng lượng mặt trời (NLMT) trong vòng 20 năm sẽ nhận được giá cả ưu đãi.
      Các nhà sản xuất điện mặt trời có thể được đảm bảo về đầu ra khi có thể bán điện với giá 50 cent/kWh (trong khi giá điện ở Đức là 20 cent/kWh). Sau khi Luật về NLTT của Đức có hiệu lực, nhà sản xuất càng trở nên an tâm hơn vì họ được nhiều ưu đãi. Theo đó, điện tái tạo được ưu tiên đưa vào điện lưới quốc gia; người sản xuất điện được bán điện với giá ổn định, cao hơn giá thị trường trong thời gian tối thiểu 20 năm để đảm bảo có lãi. Thậm chí, nếu tư nhân đầu tư điện tái tạo càng sớm thì nhà nước hỗ trợ càng nhiều và cứ sau mỗi năm, số tiền hỗ trợ sẽ giảm đi. Điều này kích thích các nhà đầu tư tư nhân tham gia rất sớm vào lĩnh vực này.
       
      Ở một số địa phương của Trung Quốc, để hỗ trợ phát triển điện mặt trời, Chính phủ trợ giúp DN và người dân bằng cách hỗ trợ chi phí nghiên cứu, sản xuất máy nước nóng NLMT nhằm giảm giá thành loại máy này sao cho bằng với loại máy nước nóng chạy điện bình thường. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng hỗ trợ chi phí tuyên truyền, quảng bá máy nước nóng. Sau cùng, Chính phủ yêu cầu tất cả các tòa nhà phải sử dụng loại máy nước nóng này. Nhờ những giải pháp “mạnh tay”, tỷ lệ “phổ cập” máy nước nóng NLMT ở một số địa phương của Trung Quốc đã lên đến trên 90%.
       
      Đến thành công bước đầu của Việt Nam
       
      Tại Việt Nam, những bước đầu tiên trong việc đẩy mạnh sản xuất và sử dụng NLTT đã được “khởi động” bằng việc Chính phủ đưa ra những mục tiêu và lộ trình cụ thể cho loại năng lượng này trong Quy hoạch điện VII. Theo đó, năng lượng gió được xem là nguồn phát điện quan trọng nhất, sẽ được phát triển từ mức không đáng kể như hiện nay lên khoảng 1.000 MW vào năm 2020 và 6.200 MW vào năm 2030. Điện năng sản xuất từ nguồn điện gió chiếm từ 0,7% năm 2020 lên 2,4% vào năm 2030. Bên cạnh đó, điện gió hiện cũng là nguồn điện tái tạo duy nhất được Chính phủ hỗ trợ giá mua với mức 7,8 cent/kWh (trong đó 6,8 cent được Tập đoàn Điện lực Việt Nam trả, 1 cent được Nhà nước trợ giá từ Quỹ Môi trường Việt Nam).
       
      Bên cạnh đầu ra, đầu vào của các dự án điện gió cũng đã bắt đầu nhận được sự quan tâm và trợ giúp của Chính phủ. Ông Nguyễn Đức Cường - Giám đốc Trung tâm Năng lượng tái tạo và cơ chế phát triển sạch - Viện Năng lượng cho biết: Để hỗ trợ cho nhà đầu tư tư nhân, Nhà máy điện gió Bạc Liêu đã nhận được sự bảo lãnh của Chính phủ để vay vốn từ Ngân hàng Xuất nhập khẩu Mỹ đầu tư xây dựng dự án. Theo đó, trong giai đoạn 1, dự án đã được vay khoảng 70% tổng mức đầu tư. Bước sang giai đoạn 2, dự kiến, mức vay sẽ vào khoảng 85% tổng mức đầu tư của dự án. Cuối tháng 5 vừa qua, giai đoạn 1 của dự án này đã hoàn thành, đưa những dòng điện gió đầu tiên hòa lưới.
       
      Cần nhiều giải pháp mạnh hơn
       
      Tuy nhiên, ông Cường cũng cho biết: Tính đến thời điểm hiện tại, Bạc Liêu là dự án điện gió đầu tiên nhận được sự bảo lãnh này. Là một nước mới phát triển NLTT, sự hỗ trợ từ Chính phủ là điều vô cùng quan trọng trong thu hút đầu tư tư nhân, đặc biệt trong hoàn cảnh vốn đầu tư cho các dự án NLTT rất lớn, không thể chỉ trông chờ vào sự đầu tư của Nhà nước. “Thời gian tới, chúng tôi hy vọng sẽ có nhiều dự án được Chính phủ hỗ trợ vay vốn như dự án Bạc Liêu” - ông Cường cho hay.
       
      Bên cạnh đó, theo ý kiến của các chuyên gia, “rào cản” lớn nhất hiện nay là cơ chế giá khi trợ giá cho than, điện quá nhiều. Do đó, bên cạnh việc xây dựng một cơ chế giá thuận lợi cho các dự án NLTT, kiên định mục tiêu đưa giá năng lượng vận hành theo giá thị trường, tạo một thị trường năng lượng minh bạch chính là “chìa khóa” dẫn dắt các nhà đầu tư tư nhân tham gia mạnh mẽ hơn vào thị trường NLTT Việt Nam.

      Được biết, sau điện gió, một số nguồn NLTT khác như sinh khối, khí sinh học, điện mặt trời… cũng đang được Bộ Công Thương xây dựng cơ chế ưu đãi. Tuy nhiên, những “cường quốc” về NLTT kể trên đã mất vài chục năm để có được thành quả như hiện nay, cho nên, thời gian tới, thiết nghĩ cần có những hỗ trợ mạnh hơn, nhanh hơn nữa từ Chính phủ để có nhiều hơn những dự án như Bạc Liêu nhằm đưa nguồn năng lượng quý giá này vào đời sống.

    • Điện tái tạo - Bài học từ các quốc gia đi trước

      Những thành công bước đầu của điện gió ở Việt Nam hiện nay mở ra cánh cửa hy vọng cho cuộc chinh phục nguồn năng lượng tái tạo dồi dào này. Tuy nhiên, nếu nhìn sang Đông-Tây thì điện tái tạo tại Việt Nam không thấm vào đâu so với tiềm năng hiện có. Mô hình hợp tác công-tư (PPP) được đánh giá là “cứu cánh” cho điện tái tạo Việt Nam vẫn còn gặp nhiều khó khăn do khả năng xây dựng chính sách và kinh nghiệm quản lý còn hạn chế. Thế nên những bài học thực tế từ các quốc gia đi trước sẽ rất cần thiết để Việt Nam tham khảo.

      Thu hút đầu tư kiểu Đan Mạch

      Đan Mạch được biết đến như cường quốc số một về điện gió. Năm 2010, có đến 21,9% lượng điện của Đan Mạch được sản xuất từ năng lượng gió trên mặt đất và trên biển. Năm 2011, con số này đã tăng lên 28% và chỉ tính đến hết tháng 7/2012, điện gió chiếm 33,8% tổng lượng điện quốc gia Đan Mạch. Thành tựu gần nhất là vào năm 2013, Đan Mạch dự kiến hoàn thành một công viên năng lượng gió trên biển lớn nhất thế giới với tổng công suất gần 400 MW.

      Nhìn lại quá trình chuẩn bị, phát triển hệ thống điện gió của Đan Mạch, ta sẽ không ngạc nhiên về những thành tựu hiện nay của họ. Đan Mạch đã mất trọn 40 năm để tập trung nghiên cứu kiến thức tua bin gió, 20 năm tích lũy kinh nghiệm, toàn cầu hóa và hoàn thành chuỗi giá trị năng lượng gió, thường xuyên giám sát, kiểm tra toàn diện cơ sở máy móc thiết bị… Điều đáng chú ý là Đan Mạch đã sớm hướng đến các nhà đầu tư tư nhân thông qua những chính sách khuyến khích đầu tư rất thuyết phục.

      Trước hết là hợp tác công - tư qua mô hình hợp tác xã điện gió quy mô nhỏ (tối đa ba tua bin/cụm). Theo đó, các hộ gia đình được miễn thuế trong hoạt động sản xuất phân phối hoặc tự sản xuất để sử dụng năng lượng gió. Thường thì các gia đình đóng góp cổ phần cho các hợp tác xã tuabin gió nhằm đầu tư tuabin gió cho cộng đồng chung. Như vậy, mô hình hợp tác xã nhỏ lẻ sẽ giúp nước này dễ dàng trong việc đầu tư và quản lý.

      Dạng mở rộng của hợp tác xã điện gió loại nhỏ cũng được Đan Mạch chú trọng đầu tư thông qua các chính sách khuyến khích, kêu gọi các công ty tiện ích khác cùng tham gia. Sẽ không ít người ngạc nhiên khi đến thăm Middelgrunden - trang trại điện gió “khủng” nhất thế giới giai đoạn đầu thế kỷ 20 với 20 tuabin, được sở hữu bởi khoảng 10.000 nhà đầu tư, chiếm 50% vốn, phần còn lại do các công ty tiện ích lớn rót vốn. Bên cạnh các chính sách hỗ trợ giá điện, thuế điện…, Đan Mạch còn tập trung xây dựng tính bền vững cho các dự án điện gió thông qua các biện pháp hỗ trợ cho người dân về phương diện cư trú, sở hữu cổ phần đầu tư…

      Từ năm 2009, những trụ điện gió ở Tuy Phong (Bình Thuận) đã phát điện và hòa vào lưới điện quốc gia - Ảnh: HTD

      Đức hỗ trợ toàn diện cho nhà đầu tư

      Tại Cộng hòa Liên bang Đức, chính sách hỗ trợ của chính phủ mang tính toàn diện hướng đến cả nhà đầu tư (sản xuất) lẫn người tiêu dùng điện mặt trời. Người dân khi sử dụng pin năng lượng mặt trời (NLMT) trong vòng 20 năm sẽ nhận được giá cả ưu đãi. Bên cạnh đó, các nhà sản xuất điện mặt trời có thể được đảm bảo về đầu ra khi có thể bán điện với giá 50 cent/kWh (trong khi giá điện ở Đức là 20 cent/kWh).

      Sau khi Luật về nguồn năng lượng tái tạo của Đức có hiệu lực năm 2000 (và được sửa đổi liên tục đến năm 2012), người sản xuất điện mặt trời càng trở nên an tâm hơn vì họ được nhiều ưu đãi. Theo đó, điện tái tạo được ưu tiên đưa vào điện lưới quốc gia; người sản xuất điện được bán điện với giá ổn định, cao hơn giá thị trường trong thời gian tối thiểu 20 năm để đảm bảo có lãi.

      Một ví dụ rất cơ bản, một nông dân Đức được trang bị 10.000 tấm pin mặt trời ở trang trại heo của mình. Nguồn điện sinh ra cung cấp năng lượng cho khoảng 1.500 ngôi nhà gần đó. Vì vậy, người nông dân vừa có thể chăn nuôi heo và vừa trở thành nhà sản xuất điện. Chi phí cho toàn bộ hệ thống được cài đặt là khoảng 5 triệu USD. Đặc biệt, ở Đức nông dân được nhà nước ưu tiên, bảo lãnh để ngân hàng cho vay vốn đầu tư sản xuất điện mặt trời. Với mức giá 50 cent/kWh, người nông dân thu vào khoảng 600.000 USD mỗi năm, sau khi trừ thuế và chi phí, lợi nhuận còn lại khoảng 60.000 USD mỗi năm.

      Nếu tư nhân đầu tư NLMT càng sớm thì nhà nước hỗ trợ càng nhiều. Và cứ sau mỗi năm, số tiền hỗ trợ so với năm trước sẽ giảm đi 5%. Điều này kích thích các nhà đầu tư tư nhân tham gia rất sớm vào lĩnh vực này, giúp công suất điện NLMT của Đức mỗi năm tăng hàng trăm %. Tính theo giá điện năm 2009, nhà nước mua lại điện mặt trời với giá 0,43 euro/kWh. Theo số liệu từ Bộ KHCN Đức, tính đến năm 2007, có đến 3.500 GWh điện được sản suất từ NLMT trên toàn lãnh thổ nước này .

      Việt Nam và những gợi ý PPP

      Trước hết, Việt Nam cần chú ý hoàn thiện chính sách thu hút đầu tư trong khuôn khổ PPP. Theo đó, Nhà nước nhất thiết phải chia sẻ trách nhiệm đảm bảo nguồn điện quốc gia của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), kèm theo những nguồn lợi nhất định bằng cách cho phép các doanh nghiệp tư nhân tham gia vào thị trường năng lượng điện. Như vậy, rủi ro trong việc cung ứng điện sẽ được chia đều đến các doanh nghiệp tham gia PPP, đồng thời mang lại nguồn lợi không chỉ cho doanh nghiệp mà còn cho cả cộng đồng.

      Cụ thể, cần có những chính sách ưu tiên về giải phóng mặt bằng, cấp đất xây dựng nhà máy điện tái tạo để đổi lấy nguồn công nghệ mới; Nhà nước thông qua EVN đưa ra cam kết về giá cả từng nguồn năng lượng, giải quyết đầu ra trong việc phân phối điện thành phẩm. Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước cần có những chính sách ưu đãi trong việc vay vốn đầu tư ngành năng lượng tái tạo.

      Đặc biệt, Nhà nước cần “thể chế hóa” PPP để đưa các bên liên quan vào khuôn khổ của mô hình. Theo kiến nghị của TS Trần Du Lịch, Phó Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội TP.HCM, Việt Nam nhất thiết phải ban hành Luật Đối tác công tư một cách nhanh chóng. Luật này cần bảo đảm những nội dung về lĩnh vực hợp tác cũng như quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia đầu tư PPP. Theo đó, phía Nhà nước cần có một cơ sở pháp lý chắc chắn để ràng buộc nghĩa vụ của tư nhân, cũng như đảm bảo được những lợi ích cần thiết mà tư nhân có thể chấp nhận được và đồng ý tham gia vào hợp đồng hợp tác PPP. Khi đó, nếu có tranh chấp xảy ra, nhà đầu tư tư nhân sẽ có thể tìm tới trọng tài, tòa án để giải quyết. Điều này giúp các nhà đầu tư an tâm, không sợ thiệt thòi khi tham gia đầu tư vào điện tái tạo.

      Trung Quốc: Hỗ trợ tối đa người tiêu dùng

      Với 350.000 dân, TP Rizhao (Nhật Chiếu) - TP ở phía bắc Trung Quốc - đang sử dụng NLMT để chiếu sáng và đun sôi nước. Bắt đầu từ những năm 1990, trong một chương trình trang bị máy móc của chính quyền địa phương, TP này đã yêu cầu tất cả tòa nhà phải lắp đặt các máy đun nước bằng NLMT. Sau 15 năm thực hiện, 99% các hộ gia đình ở trung tâm đã sử dụng các máy đun nước bằng NLMT.

      Để làm được điều đó, chính quyền địa phương, cộng đồng và các nhà sản xuất pin mặt trời đã có “quyết tâm chính trị” rất cao để tiếp nhận và áp dụng công nghệ này. Chính quyền tỉnh Sơn Đông đã trợ cấp và tài trợ cho nghiên cứu và phát triển ngành công nghiệp sưởi ấm bằng nước. Chi phí cho máy đun nước bằng NLMT đã được giảm bằng với chi phí của một máy đun nước bằng điện, khoảng 190 USD. (Số tiền này tương đương 4%-5% thu nhập hằng năm của một hộ gia đình trung bình ở Nhật Chiếu và khoảng 8%-10% thu nhập của một hộ gia đình ở nông thôn). Các tấm pin mặt trời được gắn đơn giản vào bề ngoài các căn hộ và TP có trách nhiệm giúp đỡ việc lắp đặt này.

      Cạnh đó, TP Nhật Chiếu còn giúp đỡ các nhóm nghiên cứu vấn đề này và hỗ trợ việc quảng cáo sử dụng NLMT trên truyền hình. Đặc biệt, TP này còn ủy thác việc lắp đặt các tấm pin mặt trời cho tất cả tòa nhà mới xây dựng, đồng thời giám sát quá trình xây dựng để đảm bảo việc lắp đặt được diễn ra đúng và phù hợp.

       

    • Điện gió Việt Nam: Ba cái khó và bài học từ quốc gia đi trước

      Ba cái khó

      Việc sản xuất điện gió cũng tuân theo một quy luật thị trường cơ bản, chính là tính cân bằng giữa yếu tố cung và yếu tố cầu. Như vậy, với vai trò trung tâm, Nhà nước cần hướng vào hai đối tượng chính để có thể vận hành được những tuabin gió.

      Thứ nhất, Nhà nước cần xem xét và cân đối giá điện đối với người dân sử dụng. Giá điện gió quá cao có thể khiến người dân khó có khả năng sử dụng trong bối cảnh nhu cầu nguồn năng lượng ngày càng tăng nhưng việc sản xuất gặp nhiều khó khăn do tình trạng suy thoái kinh tế kéo dài. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần đảm bảo quyền lợi của người sản xuất thông qua một lộ trình đưa điện gió tự sản xuất vào lưới điện quốc gia với mức giá đảm bảo lợi nhuận cho nhà đầu tư.

      Như vậy, để đảm bảo được quyền lợi của “ông bán – bà mua” thì Nhà nước cần phải có đủ nguồn lực, bao gồm ba yếu tố chính: i) nguồn vốn, ii) chính sách quản lý, thu hút nguồn lực, và iii) khả năng, kinh nghiệm quản lý hệ thống. Tuy nhiên hiện nay Việt Nam lại “quá khổ” với cả ba thách thức vừa nêu.

      Phát triển điện gió tại Việt Nam còn nhiều khó khăn - Ảnh minh họa

      Việc đầu tư vào điện gió đòi hỏi nguồn vốn lớn và dài hạn. Trong bối cảnh kinh tế “nợ xấu” như hiện nay, vốn là yếu tố nhạy cảm và vẫn chưa được ưu tiên chuyển hướng sang ngành năng lượng xanh. Mặt khác, chính sách quản lý và thu hút nguồn lực của Việt Nam hiện nay còn nhiều bất cập.

      Nói về vấn đề chính sách, theo ông Preben Hjortlund, chủ tịch Eurocham: “Chính phủ vẫn tiếp tục thể hiện sự lưỡng lự đối với việc định giá theo thị trường tự do, trong một số ngành, như năng lượng, việc điều chỉnh giá vẫn cần sự phê duyệt (của cơ quan nhà nước)”. Dù hiện nay điện gió đã được ưu tiên mua giá cao hơn, tuy nhiên các nhà đầu tư dường như vẫn rụt rè do những rủi ro xung quanh vấn đề chính sách vẫn còn không ít, đặc biệt là vấn đề minh bạch trong lộ trình chuyển giao năng lượng. Cuối cùng, khả năng và kinh nghiệm quản lý hệ thống điện gió vẫn còn là thách thức khi hệ thống giáo dục ngành này còn khá hạn chế, các chương trình nâng cao quản lý ngành điện gió vẫn chưa được phổ biến nhiều nơi.

      Trước tình hình đó, giải pháp dường như vẫn là số một trong ưu tiên chính sách hiện nay với ngành điện gió vẫn là mô hình hợp tác công – tư (gọi tắt là PPP). Mô hình PPP thực tế đã được rất nhiều quốc gia áp dụng trong quá trình phát triển hạ tầng và xây dựng ngành công nghiệp lẫn dịch vụ, trong đó ngành năng lượng xanh là một trong những ưu tiên đầu tiên. Việc áp dụng PPP có thể phân tán gánh nặng về nguồn vốn, chia sẻ và giảm thiểu rủi ro đầu tư, tận dụng nguồn lực quản lí, tăng cường tính minh bạch trong chính sách… Từ đó mang về hiệu quả cao nhất.

      PPP nhìn từ cường quốc số 1 về điện gió

      Theo AFP, năm 2010 Đan Mạch trở thành cường quốc năng lượng gió số một thế giới khi sản lượng điện gió nước này chiếm 24% điện gió cả thế giới. Có khoảng 86% số người Đan Mạch coi năng lượng gió là ưu tiên số một trong các nguồn năng lượng tái tạo. Năng lượng gió không chỉ đáp ứng tiêu dùng mà còn góp phần thu về ngoại tệ cho nước này.

      Để có được thành công đó, Đan Mạch đã bỏ không ít công sức: 40 năm nghiên cứu kiến thức tuabin gió, 20 năm tích luỹ kinh nghiệm năng lượng gió, toàn cầu hoá và hoàn thành chuỗi giá trị năng lượng gió, thường xuyên giám sát, kiểm tra toàn diện cơ sở máy móc thiết bị…

      Chính phủ và Quốc hội Đan Mạch đã có những thoả thuận nhằm kết nối “công – tư” vào các dự án công viên gió. Trước hết, các hộ gia đình được miễn thuế trong việc sản xuất điện gió cho gia đình sử dụng hoặc các vùng lân cận. Từ đó, hình thức hợp tác xã tuabin gió ở các địa phương trở nên rất phổ biến tại quốc gia này, chiếm 1/4 số lượng trang trại tuabin gió cả nước. Đặc biệt, để dễ dàng trong việc đầu tư và quản lý, Đan Mạch chú trọng phát triển các trang trại tuabin gió nhỏ lẻ (tối đa ba tuabin một cụm) thay vì xây dựng phát triển các trang trại tuabin gió lớn.

      Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là các trang trại lớn không được khuyến khích. Với dạng này, Đan Mạch không chỉ dùng mô hình hợp tác xã mà còn cho phép, kêu gọi thêm các công ty tiện ích khác tham gia cùng. Điển hình như trang trại gió biển Middelgrunden với 20 tuabin (là trang trại gió lớn nhất thế giới tại thời điểm nó được xây dựng năm 2000) có 50% vốn thuộc sở hữu của 10.000 nhà đầu tư trong hợp tác xã, và 50% từ các công ty tiện ích lớn.

      Trong quá trình thực hiện, Đan Mạch liên tục hoàn thiện hệ thống pháp lý của quốc gia trong lĩnh vực điện gió. Năm 1978, Đan Mạch thành công khi ban hành luật cho phép các nhà đầu tư tư nhân bán điện gió được sản xuất cho lưới điện quốc gia. Tiếp sau đó là các gói hỗ trợ 30% cho việc lắp đặt sản xuất năng lượng gió, cũng như luật hỗ trợ giá bán điện cho nhà sản xuất.

      Đồng thời, nhà nước ban hành luật cư trú, luật cổ phần… khi cá nhân có nhu cầu tham gia hợp tác đầu tư sản xuất điện gió ở các khu vực. Nhà đầu tư sản xuất tại Đan Mạch nhận được ba yếu tố thuận lợi: Quyền được kết nối với lưới điện quốc gia, các nghĩa vụ của các cơ quan thu mua điện gió và người sản xuất được nhận một mức giá ưu đãi, công bằng.

    • Năng lượng gió Việt Nam có thể đạt hơn 500.000 MW

      Tại Diễn đàn kinh tế Biển tổ chức ở Hà Tĩnh cuối tuần trước, TS Nguyễn Bách Phúc - Chủ tịch Hội Tư vấn Khoa học Công nghệ và Quản lý Tp.HCM HASCON, Viện trưởng Viện Điện- Điện tử -Tin học EEI và KS Phạm Cương - Chủ tịch HĐTV kiêm Tổng GĐ Công ty Năng lượng Tái tạo Điện lực Dầu khí đã có bài tham luận về tiềm năng của năng lượng gió Việt Nam. Một số ý kiến quan trọng trong tham luận này.

      Công suất gấp 20 lần hiện tại

      Với chiều dài bờ biển hơn 3.000 km, chạy dọc từ Bắc vào Nam, Việt Nam được đánh giá là đất nước có tiềm năng điện gió rất lớn.

      Những năm đầu của thế kỷ 21 Ngân hàng thế giới đã tiến hành xây dựng bản đồ tiềm năng gió cho 4 nước khu vực Đông Nam Á bao gồm: Việt Nam, Thái Lan, Lào, Campuchia. Theo kết quả của bản đồ năng lượng gió này thì tiềm năng năng lượng gió Việt Nam có thể đạt hơn 500.000 MW.

      Lưu ý rằng toàn bộ công suất đặt của toàn hệ thống điện Việt Nam hiện nay khoảng 25.000 MW, mới chỉ bằng 1/20 tiềm năng điện gió, nói cách khác nếu Việt Nam khai thác hết tiềm năng gió thì tổng công suất điện gió có thể lớn gấp 20 lần tổng công suất điện hiện tại của Việt Nam. Vì vậy Ngân hàng thế giới coi Việt Nam là đất nước có tiềm năng điện gió lớn hơn nhiều so vớc các nước khác trong khu vực.

      Theo khảo sát của Tập đoàn Điện lực Việt nam (EVN), những vùng có thể tạo ra nguồn năng lượng điện gió  với hiệu quả cao tập trung vào Trung trung bộ (Quảng Bình đến Khánh Hòa), Nam Trung bộ (Ninh Thuận, Bình Thuận) và các tỉnh Nam bộ (Bạc Liêu, Sóc Trăng..) trong đó hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận đươc coi là hai tỉnh có tiềm năng lớn nhất, là khu vực đầu tư cho Điện gió khả thi nhất.

      Theo số liệu bản đồ năng lượng gió được lập, với tốc độ gió từ 6-7m/s ở độ cao từ 60-80 m khu vực hai tỉnh Bình Thuận và Ninh Thuận có thể xây dựng lắp đặt nhiều trang trại gió (Wind farm) với tổng công suất lên đến 9500 MW (gấp gần 4 lần nhà máy thủy điện Sơn La).

      Hiện nay Ninh Thuận và Bình Thuận đang kêu gọi nhiều nhà đầu tư tham gia đầu tư các dự án điện gió. Hiệp hội Điện gió tỉnh Bình Thuận đã được thành lập hơn 3 năm, hoạt động rất đều đặn, đã góp phần vào công tác tư vấn, môi giới cho các Nhà đầu tư, đã đề nghị Ủy ban Nhân dân Tỉnh Bình Thuận kịp thời tháo gỡ những vướng mắc khó khăn cho những đối tác quan tâm đầu tư xây dựng trang trại Điện gió.

      Mới có 3 nhà máy điện gió hoạt động

      Tính đến tháng 5/2013, hiện có hơn 50 dự án điện gió đã đăng ký xin đầu tư, phần lớn tập trung ở khu vực từ Trung Trung bộ vào các tỉnh phía Nam. Tuy nhiên, Việt Nam mới chỉ có 3 nhà máy điện gió đã phát điện thương mại.

      Ngoài ra có một dự án đang tiến hành thực hiện các bước như thu xếp vốn, xin chủ tương đầu tư, lập dự án đầu tư, xin giấy phép đầu tư (Dự án điện gió Phú Lạc Thuận Bình 30 MW, dự án trang trại gió Hòa Thắng 202MW…) và hơn 40 dự án chỉ mới xin chủ trương, chờ cơ chế phù hợp thì các nhà đầu tư mới thực hiện

      3 nhà máy điện gió đang hoạt động là: Trang trại điện gió trên bờ biển, nối lưới quốc gia, tại xã Bình Thạnh, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, Chủ đầu tư là CTCP Năng lượng tái tạo Việt Nam với tổng mức đầu tư  gần 75 triệu USD (1500 tỷ VND), đã hoàn thiện giai đoạn 1 với Tổng công suất 30 MW.

      Nhà máy Phong điện đảo Phú Quí, tại đảo Phú Quí, vận hành hỗn hợp với lưới diện độc lập trên đảo, Chủ đầu tư là Công ty TNHH Một Thành Viên “Năng lượng Tái tạo Điện lực Dầu khí” của Tập đoàn Dầu Khí Quốc gia Việt Nam,  với tổng công suất 6MW và tổng mức đầu tư 335 tỷ đồng.

      Trang trại Phong điện trên biển tại tỉnh Bạc Liêu nối lưới quốc gia, Chủ đầu tư là Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Công lý với tổng Công suất 16 MW.

      Mục tiêu của Chính phủ là ưu tiên phát triển nguồn năng lượng tái tạo, phấn đấu tăng tỷ lệ sản lượng điện từ nguồn năng lượng tái tạo đạt 4,5%  (năm 2020) và 6% năm 2030, đồng thời thực hiện lộ trình hình thành thị trường điện cạnh tranh, tháo gỡ một phần khó khăn cho các nhà đầu tư năng lượng sạch.

      Thủ Tướng chính phủ đã ban hành quyết định số 37/2011/QĐ-TTg ngày 29/6/2011 quy định cơ chế hỗ trợ phát triển điện gió tại Việt Nam, và quyết định số 1208/2011/QĐ-TTg phê duyệt qui hoạch phát triển Điện lực Quốc gia giai đoạn 2011-2020 có tính đến năm 2030. Các quyết định này đã xác định cụ thể hơn về qui hoạch, về chế độ ưu đãi tạo điều kiện thuận lợi cho các Nhà đầu tư như: Ưu đãi về tín dụng đầu tư, miễn thuế nhập khẩu thiết bị, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, giảm tiền thuê đất, vv..

      Tuy nhiên việc đầu tư xây dựng các nhà máy Phong điện vẫn còn nhiều khó khăn, chính quyền nên tiếp tục tháo gỡ, thì Việt Nam mới có thể phát huy được tiềm năng điện gió thành hiện thực.

      3 khó khăn lớn cần tháo gỡ

      Theo các chuyên gia, có 3 khó khăn lớn khi đưa tiềm năng điện gió trở thành hiện thực phục vụ đời sống. Thứ nhất là giá bán điện 7.8 USD cent/1KWh theo quy định của Chính phủ, nhưng vẫn còn rất thấp, ảnh hưởng đến khả năng thu hồi vốn của chủ đầu tư.

      Tham khảo một số dự án điện gió tại các nước phát triển như: Đức, Hà Lan, Đan Mạch Mỹ thì suất đầu tư cho 1MW thiết bị Châu Âu đáp ứng tiêu chuẩn của Hội đồng kỹ thuật Điện quốc tế (IEC) là 2,25 triệu USD. Nếu sử dụng công nghệ và thiết bị Trung Quốc (trong những năm gần đây có tốc độ phát triển nhanh nhất,  tổng công suất nguồn điện gió lớn nhất thế giới hiện nay) thì suất đầu tư là 1,8 triệu USD/1MW.

      Trong khi đó, ở Việt Nam, hai dự án đang trong giai đoạn quyết toán vốn đầu tư, đều sử dụng thiết bị công nghệ châu Âu Fulender, (Đức) và Vestas (Đan Mạch), thì theo tính toán sơ bộ, giá thành đã lên tới 2,5 triệu /1MW.

      Khó khăn thứ hai là nguồn vốn. Thông thường các dự án điện gió trên thế giới đều được các Quỹ bảo vệ môi trường Thế giới quan tâm, thông qua các cơ quan chức năng đánh giá tính khả thi, đặc biệt đánh giá kỹ về tác động môi trường, xã hội, trên cơ sở đó họ được cho vay vốn với lãi suất ưu đãi (1,5 -2.5%/năm). Trong khi đó, việc tiếp cận này của các nhà đầu tư Việt Nam còn rất hạn chế.

      Ngoài ra, Việt Nam cũng cần phải có những đột phá về giải pháp công nghệ. Hiện tại, các dự án điện gió đã và đang thực hiện đều sử dụng với Máy phát có giải công suất từ 1 đến 2 MW. Trong khi đó tiềm năng gió của Việt Nam tại miền Trung, miền Nam, Tây Nguyên là rất lớn, tốc độ  từ  4m/s  đến 19m/s là rất phổ biến, thích hợp cho những máy phát điện gió có công suất lớn hơn.

      Bên cạnh đó, nhà nước cần có chính sách khuyến khích và hỗ trợ sản xuất và sử dụng máy phát điện gió cỡ nhỏ phục vụ gia đình. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có khả năng chế tạo các máy phát điện gió loại nhỏ từ 3 đến 10 kW, sử dụng cho gia đình, những sản phẩm này không yêu cầu công nghệ cao, các chi tiết lắp ráp có thể nâng tỷ lệ nội địa hóa đến 70, 80%, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, và sử dụng nguồn năng lượng thân thiện với môi trường.

    • Sẽ có thêm một nhà máy điện gió vốn đầu tư 900 tỷ đồng

      Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Điện lực Việt Nam vừa nhận Giấy Chứng nhận đầu tư thực hiện Dự án Đầu tư xây dựng Nhà máy Điện gió Công Hải 1 - Giai đoạn II, với quy mô công suất 37,5 MW (gồm 15 tổ máy, mỗi tổ có công suất định danh là 2,5 MW) tại địa bàn Xã Công Hải, huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận.

      Dự án dự kiến được xây dựng trên diện tích 160 ha, với tổng vốn đầu tư dự kiến khoảng 900 tỷ đồng.

      Theo kế hoạch, dự án sẽ được hoàn thành và đưa vào sử dụng vào năm 2015. Thời hạn hoạt động của dự án là 25 năm, kể từ ngày được cấp Giấy Chứng nhận đầu tư.

      Ninh Thuận là địa phương có tiềm năng phát triển điện gió. Không chỉ nhà đầu tư trong nước, mà rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã tới đây để tìm kiếm cơ hội đầu tư trong lĩnh vực điện gió.

    • Tìm vốn cho các dự án năng lượng tái tạo

      Hội thảo APEC về thông lệ tốt trong việc cấp vốn cho các dự án NLTT

      Hội thảo APEC về thông lệ tốt trong việc cấp vốn cho các dự án NLTT diễn ra trong hai ngày 4 - 5/6/2013 tại Hà Nội đã nêu ra thực tế: Đa số các nền kinh tế đang phát triển trong khu vực APEC đều có đặc điểm chung là kết cấu hạ tầng còn thiếu, nguồn lực lại hạn chế, đặc biệt là nguồn lực về tài chính.

      Điều này khiến cho các thành viên đang phát triển trong APEC có xu hướng “tụt hậu”, thiếu kinh nghiệm thực tế và chuyên môn so với các thành viên phát triển trong quá trình gọi vốn và cấp vốn cho các dự án NLTT, nhất là trong bối cảnh lĩnh vực NLTT đòi hỏi nguồn tài chính và nhân lực rất lớn.

      Tại Việt Nam, hiện nay chỉ có nhà máy điện gió tại Bạc Liêu tiếp cận được nguồn vốn từ Ngân hàng Xuất nhập khẩu Mỹ qua bảo lãnh của Chính phủ Việt Nam, với mức vay 70% tổng vốn của dự án ở giai đoạn 1. Dự kiến, khi bước sang giai đoạn 2, nhà máy sẽ được vay 85% tổng vốn của dự án. 

      Việc sử dụng điện từ các nguồn NLTT cũng gặp nhiều khó khăn, do giá thành sản xuất còn khá cao so với các nguồn năng lượng truyền thống. Mặc dù Chính phủ đã ưu tiên cho các nguồn điện được sản xuất từ NLTT, song đến nay, chỉ có điện gió được hỗ trợ giá mua với mức 7,8 cent/kWh (trong đó 6,8 cent là giá do Tập đoàn Điện lực Việt Nam trả, 1 cent còn lại được Nhà nước trợ giá). Vì vậy, các nhà đầu tư vẫn còn e dè với việc đầu tư cho điện từ NLTT. 

      Đến nay, chỉ có điện gió được hỗ trợ giá mua với mức 7,8 cent/kWh (trong đó 6,8 cent là giá do Tập đoàn Điện lực Việt Nam trả, 1 cent còn lại được Nhà nước trợ giá) - Ảnh: H.Hiếu

      Chia sẻ kinh nghiệm về việc tìm vốn cho các dự án NLTT, Tiến sỹ Cary Bloyd – Chuyên viên Khoa học cao cấp – Phòng thí nghiệm quốc gia Tây Bắc Thái Bình Dương (Hoa Kỳ) cho biết: Chính phủ và doanh nghiệp cần phải làm việc với các ngân hàng để họ thấy được hiệu quả của các dự án NLTT, từ đó thúc đẩy việc cho vay vốn. Bên cạnh đó, các dự án NLTT sẽ giải quyết một khối lượng việc làm đáng kể cho địa phương, nơi triển khai dự án. Đây là vấn đề hết sức quan trọng, đặc biệt đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Vì vậy, Chính phủ, chính quyền địa phương nơi có dự án cần có cơ chế hỗ trợ đặc biệt cho các dự án này như miễn giảm thuế; miễn giảm tiền thuê đất...

      Nhu cầu năng lượng trên thế giới ngày càng gia tăng, trong khi tiềm năng về NLTT đã có, những ưu điểm của nguồn năng lượng này cũng đã được chứng minh, thời gian tới, bài toán về vốn cho NLTT tại Việt Nam cần được giải quyết để đưa nguồn năng lượng phát triển mạnh hơn nữa. 

      Thông qua việc phân tích các hoạt động APEC liên quan đến việc cấp vốn cho các dự án NLTT, Hội thảo được coi là một diễn đàn mở, nơi các nhà hoạch định chính sách, doanh nghiệp và tổ chức tài chính quốc tế có cơ hội thảo luận, tìm các giải pháp trong việc kêu gọi và cấp vốn cho các dự án NLTT, cũng như đề xuất khuyến nghị cho APEC về các hoạt động có thể thực hiện trong thời gian tới.

    • Điện gió miền Tây hòa lưới quốc gia

      Tua bin điện gió ven biển Bạc Liêu. Ảnh: Duy Khang

      Công ty TNHH Xây dựng - Thương mại và Du lịch Công Lý (Cà Mau) vừa chính thức đưa Nhà máy điện gió Bạc Liêu vào hoạt động, hòa lưới điện quốc gia. Đây là giai đoạn 1 của dự án với 10 tua bin điện gió đầu tiên, công suất 16 MW, sản lượng điện năng khoảng 56 triệu KWh một năm.

      Theo Ban quản lý dự án, các tua bin điện gió được sản xuất tại Mỹ với cấu tạo thép đặc biệt không gỉ, cao 80 m, đường kính 4 m, nặng trên 200 tấn. Khi thi công, Ban quản lý phải thuê giàn cẩu có sức nâng 600 tấn từ Singapore. Cánh quạt được làm bằng nhựa đặc biệt, dài 42 m, có hệ thống điều khiển tự gập lại để tránh hư hỏng khi bão lớn.

      Hai năm trước, Nhà máy Điện gió Bạc Liêu được khởi công tại vùng đất ven biển của xã Vĩnh Trạch Đông, TP Bạc Liêu với vốn 5.200 tỷ đồng. Theo kế hoạch, sau khi hoàn thành giai đoạn 2, nhà máy điện gió đầu tiên ở miền Tây có 62 tua bin, tổng công suất 99,2 MW, sản xuất mỗi năm khoảng 320 triệu kWh.

    • Pháp tìm kiếm cơ hội hợp tác về điện gió với EVN

      Đại diện Ban Quản lý Đầu tư (EVN) và 2 Công ty Franco - Pacific,  Valorem (Pháp) tại buổi trao đổi hợp tác về điện gió

      Đó là khẳng định của ông Pierre Girard – Tổng giám đốc Công ty Valorem tại buổi làm việc với EVN, ngày 14/5.

      Ông Pierre Girard còn cho biết, Valorem được thành lập từ năm 1994 và hiện đang là nhà sản xuất lớn thứ 6 tại Pháp trong lĩnh vực điện gió, với 70 dự án trực tiếp tham gia và 25 dự án hợp tác với các đối tác trong nước và quốc tế.

      Trong khi đó, Công ty Franco - Pacific có mặt tại Việt Nam từ năm 1988 và đã hợp tác với EVN trong nhiều dự án điện khác nhau, chủ yếu là xây dựng các trạm biến áp và đấu nối đường dây.

      Ông Pierre Girard khẳng định: “Với sự phối hợp giữa Valorem và Franco - Pacific có thể tham gia vào bất kỳ dự án điện gió nào của EVN, trong mọi giai đoạn từ xây dựng, vận hành, sửa chữa, bảo dưỡng của một nhà máy  điện gió”.

      Đánh giá cao sự hợp tác của 2 Công ty Franco-Pacific và Valorem, ông Nguyễn Phú Gia – Phó ban Đầu tư của EVN cho biết, hiện nay, EVN đang hợp tác với Công ty Phong điện Thuận Bình xây dựng 3 dự án điện gió: Phú Lạc 1, Phú Lạc 2 và Lợi Hải 1, mỗi nhà máy có công suất từ 24 – 30 MW. Dự án Phú Lạc 1 đã thu xếp xong vốn với CHLB Đức, Phú Lạc 2 dự kiến vay vốn của Trung Quốc, Lợi Hải 1 dự kiến vay vốn của Chính phủ Đan Mạch.

      Mặc dù phát triển điện gió gặp nhiều bất lợi về giá, địa điểm xây dựng, nhưng EVN vẫn sẵn sàng hợp tác với các đối tác trong nước và quốc tế để xây dựng các nhà máy điện gió tại các đảo, vùng sâu, vùng xa, những nơi không thể kéo điện lưới quốc gia, đảm bảo cung cấp điện cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

    • Biến rác thải thành điện

      Năm 2011, từ nguồn tài trợ miễn phí của Dự án Nhóm Biogas (thuộc Tổ chức BAJ - Nhật Bản), phường vùng ven Thủy Xuân (TP Huế) triển khai chương trình sản xuất khí Biogas từ rác thải.

      Mục đích ban đầu của Dự án là tạo lượng chất đốt phục vụ chiếu sáng gia dụng hằng ngày, đồng thời giải quyết ô nhiễm môi trường, tiết kiệm chi phí sinh hoạt. Từ thành công và mang lại hiệu quả kinh tế của Dự án, một cán bộ phường Thủy Xuân còn nảy sáng kiến dùng khí Biogas chiếu sáng các phố xa trung tâm phường về đêm.

      Mô hình đèn đường Biogas ở thành phố Huế - Ảnh Ngọc Văn

      Người “khởi xướng” việc này là ông Đồng Sỹ Toàn, Chủ tịch UBND phường Thủy Xuân. “Khi về đêm, nguồn khí đốt sản sinh từ các hầm Biogas trong dân hầu như không còn dùng cho sinh hoạt gia đình, việc tận dụng thắp sáng ra đường phố là phù hợp. Đến nay, đã có nhiều hộ dân đồng tình hưởng ứng”, ông Toàn cho biết.

      Sau thời gian ngắn ứng dụng chiếu sáng công cộng, từ 9 hộ dân tham gia ban đầu, hàng chục gia đình khác cũng tự nguyện đấu nối nguồn dẫn khí từ nhà ra thắp sáng khu vực công cộng, thay cho điện đường.

      Trụ đèn, ống dẫn khí, bóng đèn đốt bằng khí Biogas do phường đầu tư miễn phí, trị giá chưa tới 500 ngàn đồng cho mỗi bộ thiết bị chiếu sáng. Theo nhiều người dân Thủy Xuân, dùng năng lượng Biogas, hàng tháng mỗi gia đình tiết kiệm khoảng 500 ngàn đồng...

      Dùng năng lượng Biogas chiếu sáng công cộng cũng tiết kiệm cho ngân sách nhà nước hàng chục tỷ đồng trên mỗi tuyến phố, do chi phí đầu tư, duy trì đèn đường bằng nguồn điện cao áp rất tốn kém.

      “Đầu tư công trình khí Biogas, dân có thêm nguồn phân bón phục vụ sản xuất nông nghiệp. Ô nhiễm từ phân thải chăn nuôi, rác sinh hoạt được hạn chế đáng kể. Ý thức của dân về bảo vệ môi trường ngày càng nâng cao. Đặc biệt, từ khi “đèn điện biogas” thắp sáng phố phường, dân rất yên tâm mỗi khi đi lại trong buổi tối”, ông Nguyễn Văn Tuấn (trú tổ 2, Thủy Xuân), cho biết.

      Đến nay, gần 300 hộ dân tại phường Thủy Xuân tiếp tục làm đơn đăng ký với lãnh đạo phường xin đầu tư mới hầm sản xuất khí làm từ rác sinh hoạt, phân thải chăn nuôi.

      “Đầu tư của phường đến dân có hạn, chúng tôi tiếp tục tìm kiếm, tranh thủ nguồn tài trợ từ các tổ chức trong và ngoài nước để phục vụ nhu cầu của dân. Hy vọng, sau phường Thủy Xuân, nhiều địa phương ven thành phố Huế và các khu vực nông thôn sẽ nhân rộng mô hình này”, ông Toàn nói.

       

       

    • Phát triển điện gió: Vẫn vướng chuyện giá

      Thuộc Quy hoạch điện VII, Nhà máy điện gió Bạc Liêu có tổng mức đầu tư 5.258 tỷ được coi là dự án điện gió quy mô nhất Việt Nam. Với ưu thế không chiếm dụng đất canh tác, tận dụng tiềm năng gió ven biển, kết hợp với phát triển du lịch và bảo vệ môi trường, dự án được Chính phủ và  UBND tỉnh Bạc Liêu rất quan tâm.

      Thậm chí, các cơ quan chức năng còn dự kiến tiếp tục triển khai dự án Trung tâm Điện gió miền Tây tại các tỉnh ven biển Trà Vinh và Sóc Trăng. Sau khi hoàn thành vào năm 2015, trung tâm này sẽ có quy mô công suất khoảng 500 MW.

      (Ảnh minh họa)

      Thế nhưng, phải mất hơn 18 tháng, Nhà máy Điện gió Bạc Liêu mới hoàn tất được 10 trụ tua bin giai đoạn 1. Đến nay, đã 5 tháng kể từ khi hoàn thành lắp đặt, các tua bin vẫn chưa hoạt động vì còn phải chờ hệ thống lưới điện. Theo chủ đầu tư, phải cuối tháng 4/2013 mới có thể vận hành thử 10 trụ tua bin gió.

      Để tạo cơ sở cho các hoạt động đầu tư phát triển điện gió, ngày 8/3/2013, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 06/2013/TT-BCT quy định về phê duyệt quy hoạch phát triển điện gió. Chính phủ cũng đã cho phép nhà đầu tư nhà máy điện gió được huy động vốn từ các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước; được miễn thuế nhập khẩu đối với các loại máy móc, thiết bị trong nước chưa sản xuất được; miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp; được ưu đãi về hạ tầng đất đai…

      Tại phiên hội thảo cuối cùng xung quanh “Dự án Hợp tác nghiên cứu điện gió trong hệ thống điện Việt Nam và thị trường điện” vừa được tổ chức tại Hà Nội ngày 14/3 vừa qua, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã công bố các kết quả nghiên cứu về điện gió. Đồng thời, giới thiệu cuốn Sổ tay kỹ thuật về đấu nối điện gió vào lưới điện Việt Nam. Đây được xem là cơ sở xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật đấu nối nhà máy điện gió vào lưới điện truyền tải và phân phối của EVN, những yêu cầu hệ thống đo đếm điện năng đối với các nhà máy điện gió, các hệ thống không nối lưới.

      Mặc dù được đánh giá là nước có tiềm năng điện gió lớn trong khu vực với khoảng 531.360 MW nhưng hiện điện gió ở Việt Nam mới chỉ chiếm 0,14% trong tổng công suất hệ thống điện.

      Tuy nhiên, theo các nhà đầu tư, vấn đề quan tâm nhất là giá điện gió được quy định ở mức 7,8 cent/kWh (nhà nước hỗ trợ cho bên mua 1 cent/kWh) là thấp, bởi thực tế giá thành sản xuất điện gió đã tới 10 – 12 cent/kWh.

      Ông Tô Hoài Dân - Tổng giám đốc Công ty TNHH xây dựng, thương mại, du lịch Công Lý, chủ đầu tư dự án Điện gió Bạc Liêu - cho biết, đây là dự án lấn biển nên việc đầu tư móng trụ tua bin tốn kém và phức tạp. Trung bình mỗi móng tua bin phải tốn 0,6 triệu USD, trong khi trên đất liền chỉ 0,25 triệu USD. Khu vực này lại chưa có hệ thống truyền tải nên công ty phải đầu tư riêng 17km đường dây 110 kV, trạm biến áp 110/22 kV và các hệ thống đồng bộ kèm theo. Bên cạnh đó là khó khăn về vốn do phải sử dụng phần lớn vốn vay đã làm tăng mức đầu tư dự án.    

      Theo ông Dân, ngoài chính sách giá, để rút ngắn thủ tục đầu tư xây dựng và thời gian thi công, Chính phủ nên cho phép chủ đầu tư được chỉ định thầu một số hạng mục có tính chất đặc thù; được sử dụng vốn chủ sở hữu tham gia đầu tư dự án ở mức 10-15% tổng mức đầu tư (bao gồm cả vốn lưu động) để giảm bớt áp lực về nguồn vốn huy động...

      Theo báo cáo của Hội đồng Năng lượng gió toàn cầu (GWEC), đến năm 2012, tổng công suất của tất cả các tua bin gió trên thế giới đã tăng lên 282.000 MW. Trong đó, 24 nước đã có tổng công suất năng lượng điện gió vượt quá 1.000 MW. Thậm chí, ở một số nước, điện gió đang cạnh tranh với năng lượng điện nguyên tử.

    • Sản xuất điện gió theo công nghệ trực thăng

      Công nghệ mới

      Theo ông Hùng, khoảng tháng 6/2013, EVNIC sẽ khởi công xây dựng ba trụ điện gió đầu tiên tại xã Công Hải, huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận. Ông Hùng nói, dự án điện gió này chắc chắn sẽ không phải bù lỗ vì áp dụng công nghệ mới lần đầu tiên trên thế giới được các chuyên gia của Nga phối hợp với Việt Nam thực hiện.

      “Về mặt công nghệ, đó không phải là tuôcbin ba cánh mà là tuôcbin hai tầng, đồng trục, 10 cánh, mỗi tầng năm cánh và xoay ngược chiều nhau. Ý tưởng này xuất phát từ những ý tưởng trước đây làm những trực thăng tăng lực cho quân đội Nga. Khi sử dụng hai tầng cánh xoay ngược chiều nhau thì hiệu quả của những cánh quạt nâng lên rất cao và khống chế được những nhược điểm hiện nay của những tuôcbin ba cánh. Tức hiệu suất sử dụng năng lượng gió của những tuôcbin ba cánh chỉ trên dưới 0,3. Còn hiệu quả sử dụng năng lượng gió của những tuôcbin 10 cánh này có thể đạt hiệu suất lên tới 0,6-0,8 (trên lý thuyết là 0,8)” - ông Hùng giải thích.

      Cánh quạt gió mô phỏng theo công nghệ trực thăng - Ảnh ST

      Tuy nhiên, ông Hùng cho biết những tuôcbin này hiện nay chưa ra đời. Hiện các chuyên gia của Nga kết hợp với một số doanh nghiệp ở TP.HCM như Tổng công ty Điện lực TP. HCM, Tổng công ty Công nghiệp Sài Gòn... đã thành lập Công ty cổ phần Năng lượng mới Việt Nga. Công ty này đang sản xuất thử nghiệm ba trụ tuôcbin, mỗi trụ tuôcbin 1 MW, dự kiến hoàn thành và đưa ra lắp đặt tại Ninh Thuận vào tháng 11/2013.

      Ông Đỗ Hữu Nghị - Phó chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận, cho biết mới có buổi làm việc với lãnh đạo UBND TP.HCM và thống nhất toàn bộ tuôcbin mới sản xuất thử nghiệm này đều ưu tiên đặt tại Ninh Thuận. Sau khi dự án thành công sẽ chuyển giao cho EVNIC vận hành, khai thác và phía chuyên gia người Nga sẽ chỉ đảm nhận chuyên về sản xuất thiết bị.

      Tạo đột phá

      EVNIC đưa ra tính toán cùng một công suất lắp đặt, sản lượng của công nghệ mới tăng gấp 2,2-2,5 lần so với công nghệ cũ. Như vậy công nghệ mới sẽ làm cho doanh thu tăng lên, giá thành sản xuất thấp xuống. “Với giá bán 7,8 cent/kWh theo quy định hiện nay thì doanh nghiệp không thể thu hồi vốn, nhưng với công nghệ mới này có thể thu hồi vốn sau 7-8 năm” - ông Hùng khẳng định.

      Cũng theo EVNIC, với tiềm năng gió ở khu vực xã Công Hải, một trụ tuôcbin theo công nghệ mới sẽ phát 4,5 - 4,6 triệu kWh/năm, trong khi công nghệ cũ chỉ 2 - 2,2 triệu kWh/năm. Như vậy theo tính toán của ông Hùng, cuối năm 2013 hoặc đầu năm 2014, ba trụ gió theo công nghệ mới sẽ chính thức phát điện vào lưới điện quốc gia, với tổng công suất khoảng 13 triệu kWh/năm.

      Theo ông Nguyễn Thanh Hoan, Giám đốc Sở Công Thương Ninh Thuận, các dự án điện gió ở Ninh Thuận đã được cấp phép nhiều năm nay, có dự án đã ba lần điều chỉnh quy mô, nhiều lần xin gia hạn nhưng không có dự án nào khởi công xây dựng. Nguyên nhân đầu tiên là do khả năng tài chính của các doanh nghiệp không đáp ứng. Nếu công nghệ mới hoạt động đúng như tính toán thì hiệu quả đạt được rất cao. “Với công nghệ điện gió mới này, chúng tôi đang hi vọng Ninh Thuận sẽ có những trang trại điện gió có lãi đầu tiên ở Việt Nam. Chúng tôi mong muốn tạo sự đột phá cho điện gió Việt Nam” - ông Hoan hi vọng.

      PGS.TS PHAN MINH TÂN (Giám đốc Sở KH-CN TP.HCM):

      Phải chờ thực tế đánh giá

      TP.HCM đang chuyển giao công nghệ tuôcbin điện gió từ Nga. So với công nghệ cũ mỗi tuôcbin có ba cánh quạt thì công nghệ mới có điểm khác biệt là gồm hai lớp rotor, mỗi lớp có năm cánh quạt quay ngược chiều nhau. Cấu tạo đặc biệt này làm hiệu suất phát điện cao hơn 2,5 lần so với công nghệ hiện nay và đạt công suất tối đa 10m/giây trong khi công nghệ ba cánh quạt chỉ đạt 16m/giây, do vậy nên với giá thành 7,8 cent/kWh thì thời gian thu hồi vốn sẽ giảm rất nhiều.

      Dự án thử nghiệm sản xuất ba tuôcbin gió công suất 1 MW theo công nghệ mới đang được triển khai tại Ninh Thuận do Tổng công ty Công nghiệp Sài Gòn, Tổng công ty Điện lực TP.HCM thực hiện với các chuyên gia Nga. Tổng dự toán gần 150 tỉ đồng. Dự án được triển khai trong năm 2013 và nếu tốc độ tốt sẽ kết thúc vào cuối năm 2014. Nếu thuận lợi, phía Nga sẽ chuyển giao toàn bộ công nghệ để sản xuất tại VN. VN sẽ là nhà sản xuất đầu tiên công nghệ mới này và tương lai sẽ xuất khẩu đi các nước. Đã có nhiều hội thảo được tổ chức để giới thiệu về công nghệ mới này, tuy nhiên phải có thực tế mới đánh giá được, hiện nay dự án mới chỉ ở giai đoạn phê duyệt.

       

    • Nhà máy điện mặt trời lớn nhất thế giới đi vào vận hành

      Nhà máy năng lượng mặ trời có công suất 100MW đã đi vào vận hành - Ảnh st

      Trong buổi lễ khánh thành, Chủ tịch Tập đoàn Masdar của UAE, ông Sultan al-Jaber cho biết, với tổng kinh phí 600 triệu USD, nhà máy có thể cung cấp điện cho 20.000 hộ gia đình.

      Theo ông Santiago Seage, Giám đốc Điều hành Công ty Abengoa Solar - một trong các đối tác tham gia dự án này, Nhà máy Shams 1 có công suất 100 MW và hiện là nhà máy lớn nhất thế giới sử dụng năng lượng mặt trời làm nhiên liệu để sản xuất điện.

      Nhà máy còn được ví như một "công viên mặt trời" bao gồm một hệ thống các tấm gương parabol lớn được lắp đặt trên một diện tích khổng lồ bằng 285 sân bóng đá cộng lại.

      Nhà máy được khởi công xây dựng từ tháng 7/2010 trên sa mạc Western Region, cách thủ đô Abu Dhabi khoảng 120 km về phía Tây Nam.

      Tham gia dự án này, ngoài Tập đoàn Masdar (sở hữu 60% cổ phần), còn có Tập đoàn Total của Pháp (20%) và Công ty Abengoa Solar của Tây Ban Nha (chiếm 20% còn lại).

      Mặc dù là quốc gia có trữ lượng dầu mỏ rất lớn, UAE vẫn đặt mục tiêu đến năm 2020, năng lượng tái tạo sẽ cung cấp 7% nhu cầu điện năng của nước này.

      Hiện nay, các nhà máy năng lượng mặt trời trên thế giới chủ yếu sử dụng công nghệ quang điện để sản xuất điện.

      Với công suất 100 MW, nhà máy Shams 1 chiếm 10% tổng sản lượng điện từ năng lượng mặt trời của thế giới.

       

    • Xuất bản sổ tay kỹ thuật về đấu nối điện gió vào lưới điện Việt Nam

      Hội thảo báo cáo kết quả của nghiên cứu đấu nối điện gió vào hệ thống điện Việt Nam - Ảnh: HT

      Cuốn sổ tay đã được giới thiệu tại buổi Hội thảo cuối cùng cho nghiên cứu ảnh hưởng của điện gió, tiêu chuẩn đấu nối điện gió và sự tham gia vào thị trường điện vừa được tổ chức ngày 14/3/2013, tại Hà Nội.

      Theo Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 - 2020 có xét đến năm 2030, Chính phủ đặt mục tiêu đưa tổng công suất nguồn điện gió lên 1.000 MW vào năm 2020 và khoảng 6.200 MW vào năm 2030.

      Để có thể thực hiện được mục tiêu, EVN đã ký với ICASEA biên bản ghi nhớ “Nghiên cứu sự ảnh hưởng của điện gió, các tiêu chuẩn đấu nối và sự tham gia của điện gió vào thị trường điện cạnh tranh” làm cơ sở xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật đấu nối nhà máy điện gió vào lưới điện truyền tải và phân phối của EVN.

      Sau một thời gian nghiên cứu, tìm hiểu 2 đơn vị tư vấn là Công ty TNHH Resource Management Associates (RMA)  - Srilanka và Công ty Tư vấn Xây dựng điện 3 (EVN) đã cho xuất bản cuốn Sổ tay Kỹ thuật về đấu nối điện gió vào lưới điện Việt Nam.

      Ông Đỗ Mộng Hùng - Trưởng ban Kỹ thuật sản xuất EVN cho biết, đây là tài liệu tham khảo giúp các đơn vị, cơ quan, ban, ngành có thể nắm được các tiêu chuẩn kỹ thuật và yêu cầu đấu nối nhà máy điện gió vào hệ thống điện; quy hoạch lưới điện truyền tải và phân phối để đấu nối; yêu cầu hệ thống đo đếm điện năng đối với các nhà máy điện gió; các hệ thống không nối lưới.

      Đây là một trong những chương trình nghiên cứu quan trọng trong gần 10 năm làm việc với Việt Nam của ICASEA. Ông Mayur Karmakar – Giám đốc các chương trình năng lượng bền vững châu Á (thuộc ICASEA) khẳng định: “Trong thời gian tới, ICASEA sẽ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trong việc nghiên cứu đấu nối điện gió và các quy chuẩn đấu nối điện gió tại Việt Nam. Từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển  điện gió nói riêng và ngành Điện Việt Nam nói chung.

    • Điện sinh khối - nguồn năng lượng tái tạo hữu ích

      Điện sinh khối trên thế giới

      Trong tự nhiên, sinh khối bao gồm cây cối, cây trồng công nghiệp, tảo và các loài thực vật khác, hoặc là những bã nông nghiệp và lâm nghiệp (rơm rạ, bã mía, vỏ, xơ bắp, lá khô, vụn gỗ v.v...), giấy vụn, mêtan từ các bãi chôn lấp, trạm xử lý nước thải, phân từ các trại chăn nuôi gia súc và gia cầm...

      Trên quy mô toàn cầu, sinh khối là nguồn năng lượng lớn thứ tư, chiếm khoảng 14 - 15% tổng năng lượng tiêu thụ của thế giới.

      Mỹ là nước sản xuất điện sinh khối lớn nhất thế giới, với hơn 350 nhà máy điện sinh học, sản xuất trên 7.500 MW điện mỗi năm. Những nhà máy này sử dụng chất thải từ nhà máy giấy, nhà máy cưa, sản phẩm phụ nông nghiệp, cành lá từ các vườn cây ăn quả... Năng lượng sinh khối chiếm 4% tổng năng lượng được tiêu thụ ở Mỹ và 45% năng lượng tái sinh.

      Ở Nhật Bản, chính phủ đã ban hành Chiến lược năng lượng sinh khối từ năm 2003 và hiện nay đang tích cực thực hiện Dự án phát triển các đô thị sinh khối (biomass town). Đến đầu năm 2011, Nhật Bản đã có 286 thị trấn sinh khối trải dài khắp đất nước. Tại Hàn Quốc, năng lượng sinh học đang được tích cực nghiên cứu, phát triển  với mục tiêu đến năm 2030 năng lượng tái tạo sẽ đạt 11%, trong đó năng lượng từ sinh khối sẽ đạt 7,12%.  Trung Quốc đã có Luật năng lượng tái tạo cùng hơn 80 nhà máy điện sản xuất từ sinh khối với công suất đến 50 MW/nhà máy. Tiềm năng là có thể đạt được 30 GW điện từ loại hình năng lượng này.

      Tiềm năng điện sinh khối ở Việt Nam

      Theo số liệu của Bộ Công Thương, nhu cầu năng lượng ở Việt Nam hiện tăng ở mức gấp đôi so với tỷ lệ tăng trưởng GDP. Trong khi đó, ở các nước phát triển, tỷ lệ này chỉ ở mức xấp xỉ 1. Tiêu thụ năng lượng của Việt Nam ngày càng gia tăng và đã tăng hơn 4 lần từ 2005 - 2030, mức tiêu thụ năng lượng điện tăng gần 400% trong vòng 10 năm từ 1998 - 2008.

      Trong bối cảnh ngày càng cạn kiệt nhiên liệu hóa thạch, giá dầu thế giới tăng cao và sự phụ thuộc ngày càng nhiều hơn vào giá năng lượng thế giới, khả năng đáp ứng năng lượng đủ cho nhu cầu trong nước ngày càng khó khăn thì việc xem xét khai thác nguồn năng lượng tái tạo sạch có ý nghĩa hết sức quan trọng cả về kinh tế, xã hội và phát triển bền vững.

      Việt Nam là nước có tiềm năng rất lớn về nguồn năng lượng sinh khối từ chất thải từ nông nghiệp, rác, nước thải đô thị… phân bổ rộng khắp trên toàn quốc, trong đó, một số dạng sinh khối có thể sản xuất điện hoặc áp dụng công nghệ đồng phát năng lượng (sản xuất cả điện và nhiệt). Lượng sinh khối khổng lồ này, nếu không được xử lý sẽ là nguồn ô nhiễm lớn và phát sinh liên tục, gây nên những ảnh hưởng nghiêm trọng đến các hệ sinh thái (đất, nước và không khí) cũng như sức khỏe con người.

      Hằng năm, tại Việt Nam có gần 60 triệu tấn sinh khối từ phế phẩm nông nghiệp trong đó 40% được sử dụng đáp ứng nhu cầu năng lượng cho hộ gia đình và sản xuất điện. Theo số liệu tính toán, cứ 5 kg trấu tạo ra 1kWh điện, như vậy với lượng trấu hàng triệu tấn, mỗi năm Việt Nam có thể thu  được hàng trăm MW điện. Phế phẩm nông nghiệp rất dồi dào ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, chiếm khoảng 50% tổng sản lượng phế phẩm nông nghiệp toàn quốc và vùng Đồng bằng sông Hồng với 15% tổng sản lượng toàn quốc.

      Hiện nay, Việt Nam đã có một số dự án xây dựng nhà máy điện sinh học đang được triển khai như: Tại miền Bắc, Dự án xây dựng nhà máy điện sinh học Biomass tại khu Rừng Xanh, thị trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng mức đầu tư 1.160 tỉ đồng, công suất 40 MW, dự kiến sẽ hoàn thành và đi vào hoạt động trong năm 2013 với sản lượng điện là 331,5 triệu kWh/năm.

      Tại miền Nam, Tập đoàn Doosan (Hàn Quốc) đã chuẩn bị thủ tục để đầu tư xây dựng nhà máy nhiệt điện sinh khối (biomass) tại khu công nghiệp Minh Hưng - Hàn Quốc (huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước) có công suất thiết kế 19 MW, cung cấp hơi nước 70m3/giờ. Nguyên liệu thô cung cấp cho nhà máy hoạt động chủ yếu từ thực vật ngành nông - lâm nghiệp. Tập đoàn sẽ hoàn tất thủ tục pháp lý và dự án có thể hoàn thành vào năm 2015.

      Ngoài ra, nhà máy nhiệt điện đốt trấu tại KCN Trà Nóc 2 (TP Cần Thơ) do Công ty Cổ phần Nhiệt điện Đình Hải đầu tư, đã hoàn thành và đưa vào hoạt động giai đoạn 1 với công suất 20 tấn hơi/giờ. Nhà máy có công suất phát điện 2 MW khi vận hành ở chế độ không sản xuất hơi nước. Giai đoạn 2 của sẽ đầu tư turbine 3,7 MW cấp điện lên lưới quốc gia.

      Việt Nam có tiềm năng to lớn để phát triển điện sinh khối cả trong hiện tại và tương lai. Tuy nhiên, số các dự án năng lượng tái tạo đi vào hoạt động tính đến thời điểm này vẫn còn quá ít và chỉ có vài dự án là điện sinh khối nối lưới, việc đầu tư mang nặng tính tự phát, thiếu quy hoạch tổng thể và chưa tương xứng với tiềm năng hiện có của quốc gia.

    • Indonesia tăng đầu tư cho điện năng lượng mặt trời

      Năm 2013, Indonesia sẽ đầu tư nhiều cho năng lượng mặt trời - Ảnh ST

      Trong khuôn khổ Chương trình, Chính phủ Indonesia đã phân bổ từ ngân sách 400 tỷ Rupiah cho các dự án phát triển tế bào năng lượng mặt trời trong năm 2013.

      Theo Bộ trưởng Bộ Năng lượng và Khoáng sản Indonesia Jero Wacik, nước này sẽ dành ưu tiên cho việc phát triển các tế bào năng lượng mặt trời như một nguồn năng lượng tái tạo giá rẻ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nông thôn, bao gồm cả sự gia tăng các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) và thúc đẩy du lịch tại các khu vực gần các trạm điện năng lượng mặt trời.

      Tổng vụ trưởng Bảo tồn năng lượng, Năng lượng mới và tái tạo, Bộ Năng lượng và Khoáng sản Indonesia, ông Rida Mulyana cho biết, khoản chi ngân sách 400 tỷ Rupiah nói trên sẽ được sử dụng để lắp đặt các trạm tế bào năng lượng mặt trời tại 120 khu vực khác nhau trên cả nước, với tổng công suất của 8 MWp (mega watt photovoltaic), có thể cung cấp điện cho hơn 10.300 hộ gia đình.

      Trong năm 2012, đã có 117 khu vực ở Indonesia được lắp đặt trạm điện năng lượng mặt trời với tổng công suất 4,8 MWp.

      Trạm phát điện mới nhất từ tế bào năng lượng mặt trời của Indonesia vừa được đưa vào hoạt động tại huyện Karangasem, tỉnh đảo Bali ngày 25/2.

       

    • Nhiều giải pháp sản xuất điện trong tương lai

      Điển hình như: Công nghệ nhiệt mặt trời tập trung trở nên thông dụng trong tương lai không xa. Hiện nay, công suất điện mặt trời mới chỉ đạt 12,4 GW, nhưng đến năm 2050 có thể tăng lên 2.000 GW.

      Thủy điện được xem là nguồn năng lượng sạch nhưng phần đóng góp còn tương đối nhỏ. Ví dụ, tại Mỹ thủy điện mới chỉ cung cấp khoảng 7% nhu cầu điện. Hiện con người mới sản xuất được 31 GW và đến năm 2050 có thể tăng lên 67 GW. Công nghệ được xem là mang tính khả thi nhất là công nghệ thủy động lực, sản xuất điện năng từ động lực của nguồn nước chảy tự do.

      Công nghệ sản xuất điện dùng nhiên liệu sinh học (ethanol) được xem là khá phổ biến, nhưng trong tương lai, người ta sẽ sử dụng các loại vật liệu hữu cơ có tiềm năng năng lượng lớn hơn như mía, tảo, nước thải để sản xuất các loại nhiên liệu dùng cả cho giao thông lẫn ngành điện. Hiện thế giới mới sản xuất khoảng 643.000 thùng nhiên liệu sinh học mỗi ngày và đến năm 2050 có thể tăng lên 3,4 triệu thùng/ngày.

      Những trạm bán xăng ethanol là hình ảnh quen thuộc ở nhiều quốc gia.

      Sản xuất điện từ sóng biển và thủy triều dưới lòng đại dương cũng là một trong những giải pháp được nhiều nước hướng đến. Theo tính toán của các nhà khoa học, các trạm điện dưới lòng đại dương ở vùng Thái Bình Dương rất tiềm năng, mỗi năm có thể sản xuất trên 900 GW và hiện tại ở Na Uy, người ta đang xây dựng một dự án thử nghiệm có tên là Hywind, sử dụng 1 tua bin 2,3 MW, nặng 152 tấn, lắp đặt ở độ sâu 65m trên một sàn cố định dưới thềm lục địa.

      Ngoài ra, các công nghệ khác như: Công nghệ sản xuất điện nguyên tử; công nghệ năng lượng địa nhiệt; công nghệ sản xuất điện từ nhiên liệu hóa thạch sạch… cũng là một trong những giải pháp mang tính khả thi, góp phần làm giảm tác động vào môi trường và khí hậu đang được nhiều nước hướng tới trong tương lai.

       

    • Miền Tây chinh phục gió trời

      Cuối năm 2012, Đan Mạch đã chính thức bắt tay với Việt Nam phát triển phong điện (điện gió), thêm một cơ hội để cuộc chinh phục gió trời của nước ta sớm thành công. Và với 10 “cối xay gió” khổng lồ mọc lên từ biển Bạc Liêu và hàng chục dự án khác đang khởi động, có thể nói năm 2012 là một năm sôi động nhất từ trước tới nay trong lĩnh vực phát triển  điện gió.

      “Cối xay gió” khổng lồ trên biển

      Ngày 2/10/2012, turbine gió thứ 10 của công trình điện gió tỉnh Bạc Liêu được lắp đặt thành công. Đó là một sự kiện đối với chủ đầu tư cũng như người dân và chính quyền tỉnh này. Hàng ngàn người dân từ các tỉnh lân cận đã đến tận nơi chứng kiến sự thật khó tin tại vùng đồng bằng sông nước Cửu Long. Trước đó, khi tiến hành khởi công xây dựng Nhà máy điện gió Bạc Liêu (năm 2010), nhiều người vẫn còn nghi ngờ, chưa tin rằng, tại vùng đất đầm lầy ven biển Bạc Liêu lại có thể xây dựng được điện gió.

      Ông Tô Hoài Dân, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc Công ty Công Lý - Chủ đầu tư Dự án, phấn khởi nói: “Đến giờ này thì chúng tôi có thể khẳng định, năng lượng gió là tiềm năng lớn của Việt Nam nói chung và đồng bằng sông Cửu Long nói riêng. Đã đến lúc chúng ta có đủ điều kiện để tiến hành khai thác nó”.

      Thi công công trình điện gió tại Bạc Liêu

      Việc làm điện gió ở Bạc Liêu có thể nói là bất ngờ đối với cả nhà đầu tư và chính quyền địa phương. Ông Tô Hoài Dân kể: “Tôi có khu du lịch ở xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, Cà Mau. Những công trình phục vụ du lịch ở đó năm nào cũng bị sóng đánh hư hỏng, tốn biết bao tiền sửa chữa. Chủ yếu là do tác động của gió, triều cường. Khi đó, thấy gió nhiều là buồn. Một hôm ngồi xem truyền hình thấy ở Bình Thuận khởi công nhà máy điện gió, tôi nảy ra ý định làm điện gió”.

      Tuy nhiên, thời điểm này những tư liệu đáng tin cậy về tiềm năng gió ở Việt Nam gần như chưa có gì, nhà đầu tư phải lặn lội thuê các chuyên gia giúp đỡ. Phải tốn hàng năm trời các chuyên gia mới xác định được Bạc Liêu là một trong những nơi có thể làm điện gió .

      Thêm một năm để chuẩn bị, đến ngày 9/9/2010, Nhà máy điện gió Bạc Liêu - nhà máy điện gió thứ hai của Việt Nam chính thức khởi công với quy mô lớn hơn Nhà máy điện gió Bình Thuận. Dự án có tổng vốn đầu tư khoảng 4.500 tỉ đồng, với 62 turbine gió, công suất thiết kế 99 MW, tương đương với sản lượng điện khoảng 400 triệu kWh/năm.

      Điều đặc biệt ở công trình điện gió Bạc Liêu là vị trí đặt các “cối xay gió” thuộc vùng đất đầm lầy ven biển, nơi gần như không thuộc đất sản xuất, người dân gần như không bị ảnh hưởng bởi dự án. Điều đó đã mở ra cơ hội phát triển điện gió rất lớn cho cả nước nói chung và đồng bằng sông Cửu Long nói riêng.

      Dàn trận đón gió

      Sự thành công bước đầu của điện gió Bạc Liêu đang mở ra hướng phát triển mạnh lĩnh vực điện gió cho các nhà đầu tư và các địa phương. Riêng tại đồng bằng sông Cửu Long đang manh nha hàng chục dự án điện gió. Theo kế hoạch, Sóc Trăng sẽ xây dựng bốn nhà máy điện gió tại các huyện Vĩnh Châu, Trần Đề với tổng công suất 300 MW.

      Hòa chung  nguyện vọng phát triển nguồn năng lượng điện gió của các nhà đầu tư và chính quyền các địa phương, các quốc gia và các tổ chức quốc tế cũng đang “nhìn ngó” đến Việt Nam. Tháng 10-2011, Ngân hàng Xuất nhập khẩu Mỹ đã chính thức ký cam kết cho Việt Nam vay 1 tỉ USD tài trợ cho các chương trình phát triển điện gió tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long trong năm năm 2011 - 2015.

      Mới đây, ngày 8/11/2012, nhà sản xuất turbine gió lớn nhất thế giới Vesta đã ký thỏa thuận hợp tác lập kế hoạch và phát triển các nhà máy điện gió tại Việt Nam với Công ty Công Lý. Quan hệ hợp tác này được thực hiện dưới sự bảo trợ của cơ quan hợp tác phát triển thuộc Bộ Ngoại giao Đan Mạch, mở đầu thời kỳ hợp tác giữa hai nước trong việc phát triển năng lượng xanh.

      Ở giai đoạn đầu của quan hệ hợp tác trên được xác định sẽ thực hiện việc nghiên cứu chung tiềm năng điện gió của Việt Nam, môi trường kinh doanh lĩnh vực này (giai đoạn đến 2013 hoàn tất các nghiên cứu). Trên cơ sở kết quả nghiên cứu này, Vesta cùng các nhà đầu tư Việt Nam xác lập chiến lược phát triển các nguồn năng lượng gió hiệu quả, bền bỉ tại Việt Nam.

      Trước đó, ngày 26/9/2011, Chính phủ đã ban hành chính sách ưu đãi đầu tư phát triển lĩnh vực điện gió (bằng Quyết định 37/2011/QĐ-TTg) với nhiều giải pháp khuyến khích phát triển điện gió tầm quốc gia và các địa phương. Với  sự hỗ trợ đặc biệt của Nhà nước và cơ chế pháp lý khá thông thoáng, các nhà đầu tư điện gió Việt Nam có thể nói đang như… diều gặp gió. Xem ra trong một tương lai không xa, các bờ biển lộng gió của Việt Nam sẽ là nơi các “cối xay gió” tha hồ dàn trận đón gió trời để mang lại nguồn năng lượng dồi dào cho đất nước.

    • Công nghệ mới giảm 50% giá thành xây dựng nhà máy điện địa nhiệt

      Những hồ chứa nhân tạo được xây dựng tại khu vực Newberry Enhanced Geothermal System (EGS) Demonstration, gần núi lửa cổ ở Oregon (Hoa Kỳ). Các hồ chứa này được tạo ra nhờ đưa nước lạnh vào các tấm đá nóng có độ thấm thấu thấp, làm khuyến đại những vết nứt trong phiến đá. Sau đó, nước nóng trên bề mặt sẽ chảy vào hồ chứa nhân tạo. Bộ Năng lượng Hoa Kỳ đã đầu tư hơn 20 triệu USD cho dự án này.

      Những hồ chứa nhân tạo giúp tăng sản lượng điện, tổng chi phí để xây dựng một nhà máy địa nhiệt có thể giảm tới 50%.

      Dự án này có khả năng tiết kiệm chi phí nhờ tạo ra nhiều hồ chứa nước nóng từ một giếng, hoặc một địa điểm. Hợp chất polime có thể phân hủy sinh học đã được sử dụng tại khu vực Newberry trong quá trình xây dựng hồ chứa.

      Tin rằng, năng lượng địa nhiệt có tiềm năng phát triển mạnh vì ít ảnh hưởng đến môi trường và có thể tạo ra năng lượng sạch vào bất cứ thời điểm nào. Trong khi đó, năng lượng gió và năng lượng mặt trời là những nguồn năng lượng không liên tục. Được biết, từ trước tới nay, năng lượng địa nhiệt thường gắn với vùng đất Iceland. Tuy nhiên, không có lý do gì để nguồn năng lượng này không thể mở rộng ra toàn thế giới.

    • Năng lượng thông minh - “mỏ vàng” còn bỏ ngỏ!

      Ước mưa như ở Việt Nam…

      Cách đây vài năm, ngài Đại sứ Isreal đã phát biểu: “Hàng năm đất nước tôi có vài trận mưa lất phất ướt đầu, nếu như có được các trận mưa lớn như ở Việt Nam thì chúng tôi đã giàu to rồi. Đây là câu chuyện thoạt nghe thấy vui, nhưng lại khiến nhiều người không khỏi suy ngẫm. Phải chăng, vì chúng ta thiếu năng động, sáng tạo nên vẫn chưa thoát được nghèo? Trong khi đó, nước mưa có thế sử dụng trong mọi sinh hoạt hàng ngày và nắng – gió chính là nguồn năng lượng xanh dồi dào.

      Việt Nam là quốc gia có lượng mưa hàng năm lý tưởng, là mơ ước của nhiều quốc gia trên thế giới - Ảnh CTV

      Trên thế giới, đặc biệt là ở CHLB Đức, người dân đã tự sản xuất ra điện, thậm chí họ còn cấp lại điện cho Chính phủ, trong khi Nhà nước chỉ hỗ trợ ban đầu cho mỗi module là 1.500 Euro. Có những giai đoạn, nước Đức còn thừa điện và việc này đã giúp ích rất nhiều trong việc cắt giảm các chi phí đầu tư công.

      Còn ở xứ sở chuột túi (Úc), cứ mỗi thiết bị đun nước nóng bằng năng lượng mặt trời đều được nhà nước hỗ trợ 1.000 đô la Úc và bình quân 1 năm, những thiết bị này đã tiết kiệm được khoảng 5.000 kWh điện. Hiện nay, mỗi gia đình ở Úc 1 năm lại có thể sản xuất được từ 1.000 đến 2.000 kW điện.

      Đừng quên có một “mỏ vàng”!

      Theo chân các chuyên gia trong và ngoài nước nghiên cứu về lĩnh vực năng lượng thông minh, tôi có dịp về thăm căn nhà của anh Đặng Quốc Toàn, Giám đốc Công ty Cổ phần Năng lượng Dầu khí châu Á tại TP. Hồ Chí Minh. Thật bất ngờ, từ những sinh hoạt hàng ngày như tưới cây, rửa xe hay nhiều hoạt động khác đều được anh lấy từ nguồn nước mưa được thu hồi từ một hệ thống đơn giản với chi phí là 2 triệu đồng.

      Cũng giống như cách hứng nước mưa ở nông thôn trước đây, nhưng bồn chứa có túi lọc trên cao và chỉ cần mở van bên dưới, nước sẽ tự chảy mà không cần phải bơm. Anh Toàn cho biết: “Hệ thống này có rất nhiều tiện lợi, các hộ dân ở thành phố không phải khoan nước ngầm hay tốn nhiều điện bơm nước.

      Năng lượng điện gió ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế - Ảnh CTV

      Cũng với cách làm đơn giản, phía trên mái nhà anh còn đặt 9 tấm bảng pin mặt trời với giá đầu tư 8 triệu đồng được hòa vào điện lưới quốc gia. Và mỗi khi mất điện, gia đình anh Toàn sẽ không phải lo vì tất cả các thiết bị điện trong nhà đều được lấy từ hệ thống điện năng này. Ngoài ra, hệ thống còn cung cấp điện chiểu sáng cho toàn khu vườn trong nhà và hệ thống đèn đường công cộng với ưu điểm tuyệt đối an toàn bằng dòng điện 24V.

      Với đầu tư thấp, hiệu quả cao, mỗi tháng, nhà anh Toàn đã tiết kiệm được 1/2 lượng điện và nước sinh hoạt. Vậy với 2 triệu hộ dân của TP. Hồ Chí Minh, nếu cũng áp dụng theo anh Toàn thì lượng điện và nước sinh hoạt tiết kiệm được tương đương với 2 nhà máy nước lớn. Và nếu như được áp dụng với quy mô lớn ở các nhà máy, khu công nghiệp thì lợi nhuận sẽ còn tăng lên gấp bội.

      Theo khảo sát của Ngân hàng Thế giới thì Việt Nam có tiềm năng về năng lượng gió đứng thứ nhất khu vực Đông Nam Á, tổng tiềm năng điện gió ước đạt 513,360 MW tức là gấp 200 lần công suất của Nhà máy Thủy điện Sơn La và hơn 10 lần tổng công suất dự báo của ngành Điện vào năm 2020.

      Hiện nay, chúng ta mới có duy nhất 1 nhà máy điện gió được đặt ở Tuy Phong (Bình Thuận), trong khi khu vực cận nhiệt đới gió mùa với đường bờ biển dài là thế mạnh của Việt Nam. Để mở rộng và phát triển tối đa những nguồn năng lượng này có lẽ phụ thuộc nhiều vào quyết sách của Chính phủ và nếu như được khai thác hợp lý thì năng lượng thông minh sẽ là “kho vàng” vô tận thay thế những nguồn tài nguyên hóa thạch ở Việt Nam trong tương lai.

       

    • Khánh thành Nhà máy Điện gió tại huyện đảo Phú Quý

      Đây là Dự án Điện gió đầu tiên của Việt Nam sử dụng mô hình vận hành hỗn hợp gió - diesel - Ảnh minh họa

      Đây là dự án Điện gió đầu tiên của Việt Nam sử dụng mô hình vận hành hỗn hợp gió - diesel. 

      Nhà máy Điện gió đảo Phú Quý có tổng vốn đầu tư là 335 tỷ đồng do Tổng công ty Ðiện lực Dầu khí Việt Nam làm chủ đầu tư, được khởi công xây dựng ngày 26/11/2010. 

      Nhà máy có công suất 6 MW, bao gồm ba trụ tuabin, chiều cao của mỗi trụ tháp tuabin là 60 m, gồm ba cánh quạt, mỗi cánh dài 37 m  hứng gió, đường kính khi quạt quay là 75 m.

      Nhà máy được xây dựng trên địa phận hai xã Long Hải và Ngũ Phụng (huyện Phú Quý) với lượng điện sản xuất bình quân hàng năm khoảng 25,4 triệu kWh. 

      Sau thời gian thi công, Nhà máy  Điện gió đảo Phú Quý đã phát điện thử nghiệm vào ngày 24/8/2012. 

      Do đây là mô hình đầu tiên vận hành hỗn hợp giữa hai hệ thống gió - diesel, vì vậy vận hành hệ thống hỗn hợp này rất phức tạp, đòi hỏi các vận hành viên phải rất tập trung, thận trọng và tuân thủ nghiêm ngặt quy trình phối hợp đã phê duyệt. 

      Trước đây nguồn điện trên đảo Phú Quý chủ yếu được cung cấp từ Nhà máy điện Diesel của Công ty Điện lực Bình Thuận với tổng công suất 3.000 kWh, chỉ phát điện được 16 giờ/ngày (từ 7 giờ 30 đến 23 giờ 30), lượng điện hàng năm ước khoảng 8,2 triệu kWh. 

      Việc đầu tư và đưa vào phát điện Nhà máy này sẽ  góp phần giải quyết tình trạng thiếu điện sinh hoạt, sản xuất cho 27.000 người dân trên đảo, đảm bảo phục vụ chiến lược phát triển kinh tế địa phương, góp phần giữ vững an ninh và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.

    • Điện gió vươn tới cực Nam Tổ quốc

      Trước năm 2010, vùng bãi bồi ven biển thuộc ấp Biển Đông, xã Vĩnh Trạch Đông, TP Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu chỉ là những vuông tôm, rừng ngập mặn... Không ai nghĩ khu vực này có thể trở thành một địa điểm du lịch, chứ không nói đến lại sẽ có một tổ hợp năng lượng công nghệ cao mọc lên tại đây.

      Nhưng đến nay, nhiều đoàn du khách đã tìm đến đây để chiêm ngưỡng những cột điện gió hiện đại đầu tiên tại Việt Nam mọc trên mặt biển. Góp sức trong thành quả này chính là nguồn vốn từ Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB).

      Chủ đầu tư dự án, Công ty TNHH Xây dựng Thương mại Du lịch Công Lý cho biết, đây là dự án điện gió đầu tiên tại Đồng bằng sông Cửu Long, được khởi công từ tháng 9/2010. Dự án đã được Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đồng ý về nguyên tắc và được bổ sung vào Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2006 - 2015 có xét đến năm 2025 (Quy hoạch điện VII).

      Mặc dù nơi đây có lưu lượng gió tốt nhất trong khu vực, nhưng điện gió cần vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn chậm, nên rất khó tiếp cận vốn từ các ngân hàng thương mại. Chỉ khi VDB và Ngân hàng Xuất nhập khẩu Hoa Kỳ vào cuộc thì dự án mới có thể tiến hành.

      Những cột điện gió nơi cực Nam của tổ quốc

      Ông Tô Hoài Dân, Tổng giám đốc Công ty TNHH Xây dựng Thương mại Du lịch Công Lý cho biết: Đến nay, dự án điện gió Bạc Liêu giai đoạn 1 đã được Ngân hàng Phát triển VN (VDB) giải ngân trên 644 tỷ đồng, đạt trên 95% hợp đồng vay vốn. Đến nay, trên bờ biển Vĩnh Trạch Đông đã "mọc" lên 10 cột điện gió sừng sững, mỗi cột có công suất phát điện 1,6 MW.

      Ngoài ra, ông Dân cũng có dự kiến biến khu vực Nhà máy điện gió thành trung tâm du lịch, thu hút khách trong vùng đến nghỉ dưỡng. Với