• Văn bản pháp lý

  • Quy hoạch

  • Tham khảo

    • Công bố kết quả tính toán khả năng giải tỏa công suất các nhà máy điện mặt trời (lập ngày 2/11/2018)

      Tỉnh/ TP

      Trường hợp các dự án ĐMT đã ký hợp đồng mua bán điện (PPA) vào vận hành

      Trường hợp các dự án ĐMT đã ký hợp đồng mua bán điện (PPA) và các dự án đang đàm phán hợp đồng mua bán điện vào vận hành

      Tổng công suất các dự án ĐMT (MW)

      Các đường dây 500/220/110 kV đầy tải, quá tải

      Tổng công suất các dự án ĐMT (MW)

      Các đường dây 500/220/110 kV đầy tải, quá tải

      Quảng Bình

      39.92

      1. Đầy tải

      - MBA 500kV Di Linh

      - ĐZ 220kV Đa Nhim – Đức Trọng

      - ĐZ Tháp Chàm 2 – SP Infra – Ninh Phước

      - ĐZ 110kV Sông Cầu – Long Mỹ

      2. Quá tải

      - ĐZ 110kV Đa Nhim – Đơn Dương

      - Trục ĐZ 110kV Tháp Chàm – Ninh Phước – Tuy Phong – Phan Rí

      - ĐZ Châu Đốc – Tịnh Biên

       

      39.92

      1. Đầy tải

      - MBA 500kV Vĩnh Tân

      - ĐZ 110kV Đa Nhim – ĐMT CMX- 90%, ĐZ 110kV Đa Nhim – Hạ Sông Pha

      2. Quá tải

      - MBA 500kV Di Linh

      - MBA 500kV Đăk Nông

      - MBA 220kV Tháp Chàm 2

      - MBA 220kV Đại Ninh

      - ĐZ 220kV Đa Nhim – Đức Trọng,

      - ĐZ 220kVĐức Trọng – Di Linh

      - ĐZ 220kV Tuy Hòa – Quy Nhơn

      - ĐZ 110kV Tháp Chàm 2 – SP Infra – Ninh Phước

      - Trục ĐZ 110kV Tháp Chàm – Ninh Phước – Tuy Phong – Phan Rí

      - ĐZ 110kV Đa Nhim – Đơn Dương

      - ĐZ 110kV Phan Thiết – Mũi Né

      - ĐZ 110kV Châu Đốc – Tịnh Biên

      - ĐZ 110kV Sông Cầu – Long Mỹ

      - ĐZ 110kV Suối Dầu - BĐ Cam Ranh - Sân Bay Cam Ranh - KN Cam Lâm

      Quảng Trị

      0

      40

      Huế

      35

      75

      Quảng Ngãi

      0

      40

      Gia Lai

      49

      49

      Đăk Lăk

      0

      109

      Đăk Nông

      50

      50

      Bình Định

      40

      120

      Phú Yên

      214.2

      414

      Khánh Hòa

      120

      210

      Ninh Thuận

      685.5

      1047.32

      Bình Thuận

      566.31

      749.63

      Lâm Đồng

      38

      38

      Long An

      0

      73

      Vũng Tàu

      96

      152

      Tây Ninh

      143.33

      527.38

      An Giang

      264

      264

      Hậu Giang

      0

      23

    • Hệ thống quản lý năng lượng theo tiêu chuẩn ISO 50001

      Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa (ISO) ban hành Tiêu chuẩn ISO 50001: 2011 - Hệ thống quản lý năng lượng, các yêu cầu và hướng dẫn sử dụng, tháng 6/2011. Tiêu chuẩn này có thể được áp dụng một cách riêng biệt hoặc lồng ghép với các tiêu chuẩn quản lý khác.

      Xem chi tiết trong file đính kèm

    • Mô hình cung cấp dịch vụ năng lượng (ESCO) tại Việt Nam

      Công ty Dịch vụ Năng lượng (ESCO) cung cấp các giải pháp năng lượng toàn diện. Tham khảo thông tin về mô hình ESCO trong tờ rơi dưới đây.

      ESCO thực hiện các dự án tiết kiệm năng lượng vì lợi ích của khách hàng bằng cách hướng đến giải quyết các rào cản tự nhiên của thị trường, ESCO cung cấp dịch vụ cho khách hàng thông qua Hợp đồng hiệu quả năng lượng (EPC).

       

    • Sổ tay hướng dẫn phát triển dự án năng lượng sinh khối

      Tài liệu do Dự án năng lượng tái tạo và hiệu quả năng lượng thuộc Chương trình Hỗ trợ Năng lượng GIZ tại Việt Nam phối hợp cùng Bộ Công Thương thực hiện và giới thiệu tới công chúng, ngày 3/10/2018. 

      Xem chi tiết trong file đính kèm

    • Ứng dụng năng lượng tái tạo tại các đồn biên phòng

      Đề tài khoa học “Nghiên cứu đề xuất ứng dụng năng lượng tái tạo phục vụ nhu cầu sử dụng năng lượng cho các đồn biên phòng trên toàn quốc” của Viện Năng lượng, triển khai năm 2010.

      Xem chi tiết trong file đính kèm

  • Tin năng lượng tái tạo

    • Sử dụng năng lượng điện mặt trời áp mái: Có khả thi với doanh nghiệp chế biến thủy hải sản?

      Những tấm pin năng lượng mặt trời đã được lắp đặt tại Nhà máy đông lạnh thủy sản IDI 

      Theo kết quả nghiên cứu của Trung tâm Tiết kiệm năng lượng TP.HCM (ECC HCMC), trong chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản, chi phí năng lượng, đặc biệt là điện năng xếp thứ 3, chỉ sau chi phí nguyên liệu và công lao động. Riêng lĩnh vực nuôi tôm, chi phí năng lượng chiếm hơn 9% tổng chi phí. 

      Thực tế tại các doanh nghiệp chế biến thủy sản, mức tiêu thụ điện trung bình cho các hoạt động chế biến thủy sản dao động từ 57 - 2.129 kWh/tấn nguyên liệu và 324 - 4.412 kWh/tấn sản phẩm; trong đó, mức tiêu thụ điện cho hệ thống đông lạnh là lớn nhất, chiếm tới 70%. 

      Thời gian qua, với sự tư vấn, hỗ trợ của ngành Điện, các doanh nghiệp thủy sản đã thực hiện nhiều giải pháp tiết kiệm điện. Tuy nhiên, các giải pháp này mới chỉ chủ yếu tập trung vào khâu ánh sáng, điều hòa không khí...; trong khi đó, năng lượng phục vụ sản xuất, chế biến và bảo quản kho lạnh mới chiếm tỉ trọng đáng kể. 

      Tại Hội thảo về sử dụng điện mặt trời áp mái cho các kho lạnh và lĩnh vực chế biến thủy hải sản Việt Nam mới đây, các chuyên gia quốc tế đến từ Cơ quan Hợp tác quốc tế Đức (GIZ) cho biết, một trong những giải pháp hữu hiệu là sử dụng năng lượng điện mặt trời. Các doanh nghiệp có thể tận dụng mái nhà xưởng, tòa nhà văn phòng, thậm chí là bãi xe... lắp đặt tấm pin mặt trời. Điều này không những giúp bảo vệ môi trường, giảm phát thải khí CO2, giảm áp lực cho hệ thống điện quốc gia, mà còn tận dụng năng lượng mặt trời cung cấp nguồn điện cho sản xuất. 

      Điều quan trọng là hiện nay, chi phí đầu tư lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái đang ngày càng rẻ hơn. Đặc biệt, khu vực miền Trung (từ Quảng Trị đến Phú Yên) và miền Nam - nơi ngành chế biến thủy hải sản phát triển mạnh, lại có tiềm năng lớn về năng lượng mặt trời. Riêng khu vực miền Nam, nắng quanh năm, nhất là trong các tháng 1, 3, 4 thường có nắng từ 7h sáng đến 17h. Cường độ bức xạ trung bình thường lớn hơn 3,489 kcal/m2/ngày, rất phù hợp để phát triển điện mặt trời áp mái. 

    • Thêm 2 hợp đồng mua bán điện mặt trời được ký kết

      Dự án Nhà máy Điện mặt trời Phong Điền 2 do Công ty CP Đầu tư Đoàn Sơn Thủy đầu tư xây dựng tại thôn Lương Mai, xã Phong Chương, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Dự án có tổng công suất 50 MW, điện năng sản xuất hằng năm gần 68 triệu kWh.

      Ông Nguyễn Danh Sơn - Giám đốc Công ty Mua bán điện và bà Trần Thị Hương Hà - Giám đốc Công ty CP Đầu tư Đoàn Sơn Thủy ký hợp đồng mua bán đối với dự án điện mặt trời Phong Điền 2

      Dự án Nhà máy Điện mặt trời đầm Trà Ổ do Công ty CP Năng lượng tái tạo Việt Nam đầu tư. Nhà máy đặt tại xã Mỹ Châu, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định, công suất 50 MW, sản lượng điện năng sản xuất trong năm tối đa trên 78 triệu kWh. 

      Cả 2 nhà máy dự kiến đưa vào vận hành cuối tháng 5/2019. 

      Giám đốc Công ty CP Năng lượng tái tạo Việt Nam (bên phải) và Giám đốc EVNEPTC trao biên bản ký kết

      Giá mua điện trong các hợp đồng đã ký tuân thủ quy định tại Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg ngày 11/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam.

      Cụ thể, EVNEPTC sẽ mua điện tại điểm giao nhận điện với giá 2.086 đồng/kWh, áp dụng cho phần nhà máy điện mặt trời nối lưới vận hành thương mại trước ngày 30/6/2019 (áp dụng 20 năm kể từ ngày vận hành thương mại).

    • Đến Ninh Thuận, “hóng” chuyện điện gió

      Biến gió thành điện

      Theo kết quả nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, Ninh Thuận là khu vực có tiềm năng phát triển điện gió lớn nhất cả nước. Tốc độ gió trung bình ở độ cao 65m, đạt 7,25 m/s, bảo đảm cho turbin gió phát điện ổn định. Chia sẻ với chúng tôi, lãnh đạo tỉnh Ninh Thuận cho biết, lợi thế này đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà đầu tư.

      Đến thăm dự án Điện gió Đầm Nại (công suất 40 MW) tại huyện Ninh Hải và Thuận Bắc do Công ty cổ phần Điện gió Đầm Nại làm chủ đầu tư, chúng tôi được biết, hiện 3 turbin, tổng công suất hơn 6 MW đã được đưa vào hoạt động. Dự kiến, toàn bộ dự án sẽ hoàn thành trong năm 2018. Nay mai, những “cối xay gió” này sẽ biến gió thành điện. Ngoài Đầm Nại, các dự án khác cũng đang được thực hiện khẩn trương để đưa gió thành nguồn năng lượng mới, phát điện trong năm 2018.

      Với dự án Điện gió Trung Nam, ông Trần Đức Xuyên, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Điện gió Trung Nam, cho biết: “Sau khi giai đoạn 1, Công ty đã quyết định đầu tư gần 9.000 tỷ đồng triển khai kết hợp giữa điện gió và điện mặt trời tại xã Bắc Phong, Lợi Hải, huyện Thuận Bắc. Dự kiến tháng 6/2019, công trình sẽ hoàn thành, với 40 trụ điện gió và 700.000 tấm pin năng lượng mặt trời… Đây là dự án năng lượng tái tạo kết hợp gió và mặt trời với tổng công suất 309,75 MW, lớn nhất và lần đầu tiên xây dựng tại Việt Nam”.

      Ảnh minh họa

      Hiện thực hóa giấc mơ...

      Theo quy hoạch phát triển điện gió tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2015 - 2020 tầm nhìn 2030 đã được Bộ Công Thương phê duyệt, tỉnh sẽ phát triển các dự án điện gió, với tổng công suất 1.429 MW. Tỉnh Ninh Thuận đang tập trung đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để các nhà đầu tư được hưởng ưu đãi theo khung quy định của Chính phủ.

      Tôi hiểu rằng, Ninh Thuận đang trải thảm đỏ cho các nhà đầu tư điện gió. Có thể kể đến một số ưu đãi cụ thể như: Chủ đầu tư dự án được miễn tiền thuê đất, được áp dụng thuế suất thu nhập doanh nghiệp 10% trong suốt quá trình thực hiện dự án; được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo. Đồng thời, được miễn thuế nhập khẩu đối với vật tư, thiết bị nhập khẩu...

      Ông Phạm Văn Hậu - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận cho biết, ngày 31/8/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 115/NQ-CP về thực hiện một số cơ chế, chính sách đặc thù hỗ trợ tỉnh Ninh Thuận phát triển kinh tế - xã hội, ổn định sản xuất, đời sống nhân dân giai đoạn 2018-2023. Tiềm năng lớn, lại có những cơ chế chính sách hỗ trợ đặc thù của Chính phủ, Ninh Thuận đã thực sự sẵn sàng trở thành trung tâm điện gió nói riêng và năng lượng tái tạo nói chung của cả nước.

      Cũng theo ông Phạm Văn Hậu, Ninh thuận ưu tiên các nhà đầu tư có năng lực, kinh nghiệm, công nghệ hiện đại và có quyết tâm cao nhất thực hiện các dự án năng lượng tái tạo trên địa bàn. Trong thời gian tới, UBND tỉnh tiếp tục chỉ đạo các Sở, ban ngành phối hợp với các nhà đầu tư giải quyết những vướng mắc còn tồn đọng về thủ tục đầu tư, giải phóng mặt bằng. Các dự án điện gió, điện mặt trời sau khi đi vào hoạt động thương mại sẽ đóng góp rất lớn, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia; đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội của địa phương.

      “Hóng” chuyện điện gió ở Ninh Thuận, tôi tin rằng, vùng đất đầy nắng đầy gió này đã, đang thực sự biến khó khăn trở thành lợi thế. 

      Ninh Thuận:

      - Có 14 vùng gió tiềm năng với khoảng 8.000 ha, tập trung chủ yếu ở các huyện Thuận Bắc, Thuận Nam và Ninh Phước, lượng gió tốc độ trung bình từ 6,4-9,6 m/s, đảm bảo turbin gió hoạt động ổn định.

      - Hiện có 15 dự án điện gió được chấp thuận chủ trương khảo sát, lập luận chứng kinh tế kỹ thuật. Trong đó, 12 dự án đã được phê duyệt đầu tư với tổng công suất 744,75 MW.

    • Việt Nam: “Miền đất hứa” phát triển điện gió

      Ông Ti Chee Liang

      PV: Thưa ông, UBND tỉnh Trà Vinh vừa đồng ý chủ trương cho phép Janakuasa/Ecotech triển khai 2 dự án điện gió tại địa phương. Xin ông cho biết, vì sao Công ty lại lựa chọn đầu tư vào lĩnh vực điện gió - một lĩnh vực còn khá mới ở Việt Nam?

      Ông Ti Chee Liang: Có 2 lý do chính. Thứ nhất, năng lượng xanh là xu thế phát triển trên thế giới. Có nhiều trang trại điện gió và điện mặt trời đã được xây dựng tại các nước châu Âu. Năng lượng xanh ngày càng góp phần quan trọng vào việc bảo vệ môi trường sống. Thế giới hiện nay đã sử dụng xe điện thay thế xe sử dụng xăng, dầu trong giao thông đường bộ và Công ty Sản xuất xe điện Tesla là một trong những công ty có giá trị nhất thế giới.

      Thứ hai, khi nền kinh tế phát triển và nhu cầu sử dụng năng lượng ngày càng lớn, việc bổ sung nguồn năng lượng xanh, sạch, ngày càng trở nên cấp thiết hơn. Janakuasa mong muốn trở thành một trong những doanh nghiệp đi đầu hỗ trợ Việt Nam phát triển nền kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực năng lượng xanh.

      PV: Những khó khăn khi đầu tư dự án điện gió là gì, thưa ông?

      Ông Ti Chee Liang: Tôi phải thừa nhận rằng, về mặt kỹ thuật, các dự án nhà máy điện rất phức tạp, đòi hỏi phải tuân thủ các quy định nghiêm ngặt về hệ thống điện quốc gia. Mặt khác, dự án điện có suất đầu tư rất lớn, các yêu cầu về thủ tục pháp lý, hành chính cũng rất chặt chẽ. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, chúng tôi rất biết ơn tỉnh Trà Vinh đã thẩm định và giúp rút ngắn quá trình thực hiện các thủ tục hành chính, tạo điều kiện để hai bên cùng đạt được tiến độ của dự án.

      Cùng với đó, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) là bên mua điện, có rất nhiều kinh nghiệm và trình độ quản lý các dự án quy mô lớn đã tích cực hỗ trợ đẩy nhanh tiến độ thực hiện các thủ tục pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi để đàm phán thành công hợp đồng mua bán điện.

      PV: Chính phủ Việt Nam vừa có Quyết định về điều chỉnh giá điện gió từ 7,8 Uscents/kWh lên 8,5 Uscents đối với dự án trên đất liền và 9,8 Uscents đối với các dự án trên  biển. Ông đánh giá thế nào về sự điều chỉnh này?

      Ông Ti Chee Liang: Chúng tôi cho rằng, mức giá mua điện gió 7,8 Uscents trước đây là khá thấp, khó hấp dẫn, thu hút các nhà đầu tư. Nhưng Chính phủ Việt Nam đã kịp thời điều chỉnh giá điện. Với mức giá điều chỉnh vừa qua, tôi thấy là hợp lý và có thể tiếp tục đầu tư các dự án điện gió khác ở Việt Nam.

      PV: Nhiều người dân địa phương lo ngại, các dự án điện gió sẽ làm ảnh hưởng xấu đến môi trường như chiếm đất, chiếm biển… Công ty sẽ giải quyết vấn đề này như thế nào?

      Ông Ti Chee Liang: Điện gió là một trong nguồn năng lượng sạch nhất do không phát sinh khí thải, gây ô nhiễm môi trường. Lưu lượng gió rất phong phú và là nguồn vô tận. Các trang trại điện gió chỉ có tác động một phần nhỏ về môi trường, khi cánh quạt gió va quệt vào đàn chim bay trên trời, hoặc gây ra tiếng ồn tần số thấp do tua-bin gió hoạt động. Những vấn đề này đã được các nước phát triển mạnh về điện gió ở châu Âu nghiên cứu kỹ và chúng tôi sẽ đưa những giải pháp và công nghệ đã được kiểm chứng vào trang trại điện gió Trà Vinh.

      Một số lập luận cho rằng, xây dựng điện gió ngoài khơi ảnh hưởng đến đánh bắt hải sản? Thực tế nghiên cứu cho thấy, trang trại điện gió ngoài khơi còn làm tăng quần thể cá do tua bin gió có vai trò như các rạn san hô nhân tạo.

      Là nhà đầu tư phát triển dự án điện gió, chúng tôi rất thận trọng với những ảnh hưởng đối với môi trường. Chúng tôi đã thuê các tư vấn chuyên nghiệp tiến hành lập báo cáo đánh giá tác động môi trường và xã hội trong khu vực phát triển dự án. Kinh nghiệm của các dự án điện gió trên thế giới cho thấy, tác động môi trường từ điện gió là rất ít so với các công nghệ phát điện khác.

      PV: Công ty đã nghiên cứu và đưa ra giải pháp kỹ thuật như thế nào liên quan đến nối lưới điện quốc gia tại Việt Nam, thưa ông?

      Ông Ti Chee Liang: Chúng tôi hiểu rằng, các thông số kỹ thuật khi đấu nối điện gió vào lưới điện quốc gia sẽ có nhiều khó khăn, thách thức với 3 lý do chính: Dao động công suất, tần số; thay đổi về tốc độ gió làm tăng hoặc giảm sản lượng điện; điện áp cao hoặc thấp đột ngột có thể gây ra nhảy thiết bị bảo vệ lưới điện.

      Tuy nhiên, những vấn đề này không phải là mới mà đã được giải quyết xong tại các trang trại điện gió lớn ở các nước châu Âu. Chúng tôi dự định tận dụng kinh nghiệm và kiến thức trên thế giới của Janakuasa (Singapore) và Ratchaburi (Thái Lan), là bên có quyền truy cập vào các giải pháp đã thử nghiệm tốt ở các nước châu Âu và áp dụng vào trang trại điện gió Trà Vinh.

      Đấu nối vào lưới điện quốc gia sẽ là vấn đề phức tạp nếu quốc gia đó không có quy hoạch phát triển điện lực đầy đủ. Chúng tôi hiểu rằng, Việt Nam đã nghiên cứu một cách cẩn trọng các tác động tiêu cực từ các dự án năng lượng tái tạo khi đấu nối vào hệ thống điện quốc gia. Khi thực hiện các dự án, chúng tôi sẽ tính toán kỹ các thông số kỹ thuật, bảo đảm an toàn khi đấu nối.

      PV: Trân trọng cảm ơn ông!

      Dự án Điện gió Hiệp Thạnh:

      - Chủ đầu tư: Công ty cổ phần năng lượng tái tạo Ecotech Việt Nam; Công ty Janakuasa Pte LTD (Singapore)

      - Địa điểm xây dựng: Xã Hiệp Thạnh, thị xã Duyên Hải

      - Công suất thiết kế: 78MW (với 18 - 19 cột tua bin gió)

      - Tổng vốn đầu tư: Gần 3.370 tỷ đồng. 

      - Dự kiến hoàn thành: Năm 2020.

    • Năng lượng tái tạo cho khu vực chưa có điện lưới: Có khả thi

      Đến nay, Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã hoàn thành cấp điện cho 100% số xã trên cả nước, với tỷ lệ hộ dân nông thôn được sử dụng điện đạt gần 99%. Với thành quả này, Việt Nam cũng được Ngân hàng Thế giới đánh giá là quốc gia thực hiện thành công và đạt hiệu quả cao về đầu tư điện nông thôn. Thực tế, tỉ lệ người dân được sử dụng điện tại Việt Nam đã cao hơn một số quốc gia trong khu vực có điều kiện kinh tế bằng hoặc khá hơn như Indonesia, Philipines, Malaysia...

      Hiện trên cả nước còn hơn 1% số hộ dân chưa được sử dụng điện, hầu hết các hộ dân này đều ở các thôn, bản đặc biệt khó khăn, bị cô lập về địa hình và nằm quá xa lưới điện quốc gia. Vì vậy, việc hoàn thành mục tiêu đến năm 2020, hầu hết số hộ dân nông thôn trên cả nước sẽ được sử dụng điện theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ trong Chương trình cấp điện nông thôn, miền núi và hải đảo giai đoạn 2013 - 2020 (Chương trình 2081) vẫn còn gặp không ít khó khăn, thách thức. Đó là chưa kể, ở những khu vực này, dân cư thường sống rải rác, không tập trung, nên suất đầu tư cho một hộ dân khi kéo điện lưới quốc gia rất cao, trong khi mức tiêu thụ điện năng lại quá ít, doanh thu bán điện thấp...

      Ảnh minh họa

      Trước thực trạng này, nhiều chuyên gia cho rằng, việc ứng dụng các nguồn năng lượng tái tạo phân tán, độc lập, không nối lưới cho những vùng sâu, vùng xa chưa có điện lưới có thể là một trong những giải pháp phù hợp. Dẫn chứng cụ thể, bà Ngụy Thị Khanh - Giám đốc Trung tâm Sáng tạo xanh (Green ID) cho biết, Green ID đã triển khai 2 mô hình năng lượng tái tạo không nối lưới ở Đắk Lắk, An Giang. Đó là mô hình hệ thống cấp điện mặt trời mini không nối lưới tại bản Erot - một bản xa xôi, hẻo lánh của xã Cư Pui, huyện Krongbong, tỉnh Đắk Lắk (cấp điện cho 23 hộ gia đình, 1 nhà thờ và 1 hệ thống cấp nước uống tinh khiết); và mô hình “Ấp sử dụng 100% tấm pin năng lượng mặt trời” xã An Hảo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang (lắp đặt pin năng lượng mặt trời độc lập cho 274 hộ dân ở ấp Vồ Bà và Tà Lọt). Hệ thống điện mặt trời ở những khu vực này đã giúp các hộ dân có đủ điện phục vụ nhu cầu thiết yếu như: Thắp sáng, sử dụng quạt, xem tivi, nghe đài...

      Cũng theo bà Khanh, những hộ dân ở đây chủ yếu là người dân tộc thiểu số, nhu cầu sử dụng điện không cao (chỉ khoảng 3 kWh/hộ gia đình/tháng). Do vậy, việc ứng dụng các mô hình năng lượng tái tạo tại chỗ như: Đèn xách tay năng lượng mặt trời, pin năng lượng mặt trời, thủy điện nhỏ..., hoàn toàn có thể đáp ứng được. Giải pháp này vừa giúp người dân có điện sử dụng, vừa có thể giảm được chi phí so với kéo điện lưới quốc gia. Đó là chưa kể, ngành Điện cũng tiết kiệm được nguồn nhân lực thực hiện công tác quản lý, vận hành, thu tiền điện... 

      Tại Hội thảo “Phát triển năng lượng tái tạo góp phần thực hiện Chương trình điện khí hóa nông thôn và tiếp cận điện cho người nghèo” vừa được tổ chức mới đây, các chuyên gia cũng cho biết, hiện nay, các mô hình năng lượng tái tạo cấp điện không nối lưới cho khu vực nông thôn cũng đang trở thành xu hướng ở các nước trên thế giới. Ông Antoine Vander Elst - Tùy viên Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam chia sẻ: “Năng lượng tái tạo không còn là giấc mơ xa vời hay là loại công nghệ đắt đỏ chỉ có ở các quốc gia giàu có. Nhờ sự phát triển rộng rãi của năng lượng tái tạo, giá thành đã giảm đáng kể trong vài năm gần đây. Năng lượng tái tạo không chỉ góp phần đảm bảo an ninh năng lượng mà còn cung cấp rất nhiều cơ hội nghề nghiệp, giúp cho người nghèo có thể tiếp cận và sử dụng điện”.

      Năm 2017, đầu tư toàn cầu cho các giải pháp năng lượng tái tạo không nối lưới đã đạt 284 triệu USD; trong đó khu vực Đông Phi chiếm 57%. Riêng khu vực châu Á, công suất lắp đặt năng lượng tái tạo độc lập không nối lưới đã tăng từ 1,3 GW năm 2008 lên 4,3 GW vào năm 2017. Trên toàn thế giới, cũng đã có hơn 130 triệu người sử dụng các giải pháp năng lượng tái tạo không nối lưới, để đáp ứng các nhu cầu thắp sáng và một số dịch vụ cơ bản, thiết yếu của cuộc sống. 

      Có thể thấy phát triển năng lượng tái tạo là giải pháp khả thi để Việt Nam hoàn thành mục tiêu điện khí hóa nông thôn, cấp điện cho 100% hộ dân trên toàn quốc. Mặc dù vậy, các chuyên gia cho rằng, cần phải thúc đẩy xã hội hóa các nguồn lực, đặc biệt trong huy động vốn đầu tư; tăng cường hợp tác công - tư, nhà nước và nhân dân cùng làm. Ngoài ra, cần tăng cường chuyển giao công nghệ, thành lập và đào tạo các đội thợ địa phương để lắp đặt, vận hành và bảo dưỡng hệ thống điện năng lượng tái tạo tại chỗ...  

    • Hơn 3.200 kWp điện mặt trời áp mái đã vận hành tại trụ sở các điện lực

      Công trình điện mặt trời áp mái tại trụ sở Tổng công ty Điện lực TP.HCM 

      Trong đó, Tổng công ty Điện lực Hà Nội lắp đặt 52 kWp; Tổng công ty Điện lực miền Trung 352 kWp; Tổng công ty Điện lực miền Nam 1.985 kWp và Tổng công ty Điện lực TP.HCM 855 kWp.

      Theo báo cáo của các đơn vị, do hầu hết các công trình đều mới được hoàn thành và đưa vào sử dụng trong thời gian từ tháng 4/2018 đến nay, nên tổng điện năng thu được tính đến cuối tháng 7/2018 đạt khoảng 1,1 triệu kWh, với giá trị làm lợi khoảng 3,1 tỷ đồng.

      Được biết, tổng tiềm năng điện mặt trời áp mái trên trụ sở và công trình tại các đơn vị trực thuộc EVN là 56,4 MWp. Hiện nay, EVN đang chỉ đạo các đơn vị tiếp tục triển khai lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái, vừa góp phần giảm áp lực cho hệ thống điện lưới; vừa là hình mẫu để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động người dân, doanh nghiệp trên cả nước sử dụng điện mặt trời.

      Theo nghiên cứu của Ngân hàng thế giới về năng suất phát điện mặt trời, ở khu vực miền Nam (TP.HCM và các tỉnh miền Nam), điện năng phát của 1 kWp đạt khoảng 1.350-1.450 kWh/năm; riêng khu vực Ninh Thuận, Bình Thuận có thể đạt 1.550 kWh/năm. Còn các tỉnh miền Trung đạt khoảng 1.300 kWh/năm. Giá trị làm lợi (tính theo giá mua điện của văn phòng đơn vị Điện lực) điện mặt trời mang lại đạt từ 3,6-3,9 triệu đồng/năm/kWp.

    • "Cú hích" cho năng lượng xanh

      Cụ thể theo Quyết định (QĐ) 39 của Thủ tướng Chính phủ (ký ngày 10/9, có hiệu lực từ ngày 1/11/2018), giá điện gió đối với các dự án lắp đặt dưới biển là 9,8 US cent/kWh (tức 2.223 đồng/kWh). Với các dự án điện gió lắp đặt ở đất liền, giá bán tại điểm đấu nối là 8,5 US cent/kWh thay cho mức 7,8 US cent/kWh hiện tại (giá này sẽ được điều chỉnh theo biến động VND/USD). Chi phí mua điện từ các dự án điện gió sẽ được tính toán trong thông số đầu vào phương án giá bán điện hằng năm của Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN).

      Giá điện gió tăng gần 10% so với trước sẽ kích thích cho các dự án đang được triển khai

      Ông Bùi Văn Thịnh, Chủ tịch Hiệp hội điện gió Bình Thuận, vui mừng cho biết: QĐ 39 sẽ là “cú hích” mới và mạnh cho ngành năng lượng xanh nói chung, điện gió nói riêng.

      Theo ông Thịnh, ngày 18/4/2017, khi Thủ tướng về làm việc tại Bình Thuận, Hiệp hội điện gió Bình Thuận đã có văn bản đề xuất Thủ tướng xem xét việc tăng giá cho điện gió. Trên thực tế, giá điện gió (7,8 cent/kWh) là quá thấp, nhà đầu tư không có lãi. Đây là nguyên nhân chính làm cho các dự án điện gió chậm triển khai.

      “Trong QĐ 39 của Thủ tướng, giá điện gió tăng gần 10%. Điều này thể hiện sự ưu tiên về chính sách của Chính phủ. Theo chúng tôi, 8,5 cent/kWh là giá tốt cho các dự án đang được triển khai”, ông Thịnh nói.

      Chủ tịch Hiệp hội điện gió Bình Thuận cho rằng, quyết định này bãi bỏ điều 9 của QĐ 37 (sau 12 tháng không khởi công sẽ thu hồi dự án), nhưng đồng thời có quy định rất cụ thể điều kiện được khởi công dự án, là hoàn toàn phù hợp với thực tế hiện nay. “Để lách luật, nhiều chủ dự án khởi công hoành tráng, sau đó không làm gì cả. Điều này vừa gây lãng phí đất đai, vừa tạo ấn tượng không tốt về các dự án điện gió”.

      Cũng theo ông Thịnh, thời hiệu của QĐ 39 chỉ áp dụng đến ngày 1/11/2021 là hoàn toàn phù hợp thông lệ quốc tế. Điều này thúc đẩy các chủ dự án muốn đầu tư thật sự vào ngành điện gió vốn đang phát triển chậm hơn điện mặt trời.

      Không triển khai sẽ kiên quyết thu hồi

      Ông Đỗ Minh Kính, Giám đốc Sở Công Thương Bình Thuận, cho biết theo quy hoạch đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã được Bộ Công Thương phê duyệt thì công suất lắp đặt điện gió của Bình Thuận đạt xấp xỉ 700 MW, sản lượng điện gió tương ứng 1.500 triệu kWh; đến năm 2030 công suất lắp đặt tích lũy đạt 2.500 MW, sản lượng đạt 5.475 triệu kWh.

      Hiện nay Bình Thuận có tới 19 dự án điện gió được tỉnh chấp thuận chủ trương khảo sát, nghiên cứu và chấp thuận đầu tư (công suất đạt 1.192,5 MW). Trong số này đã có 12 dự án được UBND tỉnh cấp chứng nhận đầu tư (tổng công suất 507,3 MW). Trong số 12 dự án trên, đã có 3 dự án đi vào hoạt động, đó là các dự án: Phong Điện 1 Bình Thạnh, Thuận Bình Phú Lạc và một dự án trên đảo Phú Quý.

      Theo lãnh đạo Sở Công Thương Bình Thuận, QĐ 39 của Thủ tướng ra đời vừa thúc đẩy, vừa “ràng buộc” các dự án điện gió. Chỉ có thể đầu tư thực sự mới dám khởi công. Bởi Thủ tướng quy định trước khi khởi công phải hoàn thành đền bù giải tỏa, bàn giao mặt bằng và đặc biệt là đã có hợp đồng với bên mua là EVN.

      Ông Huỳnh Văn Điển - Chủ tịch UBND huyện Tuy Phong (nơi có 2 dự án điện gió đầu tiên của cả nước đi vào hoạt động), cho rằng Tuy Phong là nơi có nhiều dự án điện gió, điện mặt trời nhất tỉnh vì ở đây tỷ lệ giờ nắng, gió cao hơn các nơi khác. Với chủ trương mới này, UBND huyện sẽ cập nhật, theo dõi và tạo điều kiện tốt nhất cho các dự án điện gió và cả điện mặt trời triển khai. Tuy nhiên nếu dự án nào cố tình dây dưa, giữ đất để chuyển nhượng thì UBND huyện sẽ kiến nghị tỉnh thu hồi dự án.

      Đồng quan điểm trên, ông Đỗ Minh Kính cho biết, sau khi có chính sách giá điện gió của Thủ tướng, Sở Công Thương sẽ tham mưu cho UBND tỉnh đốc thúc các dự án triển khai. Nếu dự án nào không làm mà không chứng minh được lý do sẽ kiên quyết thu hồi. “Trước đây anh nói giá điện thấp, nếu làm sẽ lỗ. Nay giá điện được Chính phủ tăng tới 10%, không có lý do gì để không triển khai. Còn nhà đầu tư nào không đủ năng lực thì thu hồi lại để giao cho nhà đầu tư có năng lực và thiện chí”, ông Kính khẳng định.

    • 748 dự án điện mặt trời lắp mái đã triển khai trên cả nước

      Cần xem xét tháo gỡ những vướng mắc về thuế cho các dự án điện mặt trời lắp mái

      Hội thảo do Liên minh Năng lượng bền vững Việt Nam (VSEA) và Nhóm công tác về biến đổi khí hậu (CCWG) tổ chức, trong khuôn khổ Tuần lễ Năng lượng tái tạo Việt Nam năm 2018.

      Ông Nguyễn Ninh Hải - Phó phòng Phòng Năng lượng tái tạo, Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo (Bộ Công Thương) cho biết, sau hơn 1 năm triển khai, Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam (gọi tắt là Quyết định 11) và Thông tư 16/2017/TT-BCT của Bộ Công Thương quy định về phát triển dự án và hợp đồng mua bán điện mẫu áp dụng cho các dự án điện mặt trời (gọi tắt là Thông tư 16) đã tạo được "cú hích" cho thị trường điện mặt trời tại Việt Nam. Đặc biệt, cơ chế dành cho các dự án điện mặt trời quy mô lớn đã rất hấp dẫn các nhà đầu tư.

      Cũng theo ông Hải, tính đến ngày 18/6/2018, đã có 100 dự án điện mặt trời quy mô lớn được bổ sung vào quy hoạch điện cấp tỉnh/quốc gia. Trong đó, tổng công suất đăng ký là 4,7 GW vào năm 2020 và thêm 1,77 GW sau năm 2020.

      Với các dự án điện mặt trời lắp mái, tính đến cuối tháng 7/2018, đã có 748 dự án được triển khai trên cả nước, với tổng công suất 11,55 MWp.

      Tuy đã tạo được tín hiệu đáng mừng nhưng việc triển khai các dự án điện mặt trời cũng đang gặp một số vướng mắc về quy trình đấu nối; mâu thuẫn với quy định về thuế trong việc bán lại sản lượng điện dư của các dự án điện mặt trời áp mái; các chứng nhận về inverter...

      Nhiều ý kiến của các đại biểu, chuyên gia cho rằng, cần sớm tháo gỡ những vướng mắc trên, thì mới tạo động lực thúc đẩy cho điện mặt trời phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam.

      Được biết, hiện nay, Bộ Công Thương đang xem xét trình Chính phủ sửa đổi cơ chế giá FIT - cơ chế giá áp dụng cho điện sản xuất từ các nguồn năng lượng tái tạo, đối với dự án điện mặt trời áp dụng sau tháng 6/2019; cơ chế đấu thầu riêng, hợp đồng mua bán điện cho các dự án điện mặt trời. Đồng thời, trình Chính phủ xem xét điều chỉnh Quyết định số 11 để giải quyết những vấn đề liên quan đến thuế cho các dự án điện mặt trời lắp mái.

    • Phát triển nguồn năng lượng tái tạo không nối lưới để hoàn thành mục tiêu điện khí hóa nông thôn

      Hội thảo do Liên minh Năng lượng bền vững Việt Nam (VSEA) và Nhóm công tác về biến đổi khí hậu (CCWG) tổ chức, trong khuôn khổ Tuần lễ Năng lượng tái tạo Việt Nam năm 2018. 

      Theo đại diện của Phòng Điện khí hóa nông thôn thuộc Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo (Bộ Công Thương), mục tiêu của Chương trình cấp điện nông thôn, miền núi và hải đảo giai đoạn 2013 – 2020 (Chương trình 2081) là hầu hết số hộ dân nông thôn trên cả nước được sử dụng điện vào năm 2020. Tuy nhiên, thực tế triển khai vẫn còn không ít khó khăn, thách thức như: Các thôn, bản, hộ dân chưa có điện hầu hết đều ở vùng đặc biệt khó khăn, bị cô lập về địa hình và nằm quá xa lưới điện quốc gia; dân cư sống rải rác trong khi chi phí đầu tư cấp điện quá lớn, mức tiêu thụ điện năng lại quá ít,..., vì vậy cần phải có những chính sách, giải pháp đặc biệt để giải quyết việc cấp điện tại các khu vực này. 

      Theo bà Ngụy Thị Khanh – Giám đốc Trung tâm Sáng tạo xanh (Green ID), cơ quan điều phối VSEA, các nguồn năng lượng tái tạo phân tán, độc lập, không nối lưới cho những vùng sâu, vùng xa chưa có điện lưới có thể là một trong những giải pháp giúp hoàn thành mục tiêu điện khí hóa nông thôn.

      Tại Hội thảo, Green ID cũng giới thiệu về 2 mô hình năng lượng tái tạo gồm: Hệ thống cấp điện mặt trời mini không nối lưới tại bản Erot – một bản xa xôi, hẻo lánh của xã Cư Pui, huyện Krongbong, tỉnh Đắk Lắk (cấp điện hộ 23 hộ gia đình) và mô hình Ấp sử dụng 100% tấm pin năng lượng mặt trời xã An Hảo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang (gồm 274 hộ ở ấp Vồ Bà và Tà Lọt). 

      Phần lớn ý kiến của các đại biểu tham dự Hội thảo đều thống nhất về việc ứng dụng các mô hình năng lượng tái tạo tại chỗ như: Đèn xách tay năng lượng mặt trời, pin năng lượng mặt trời,..., hoàn toàn có thể đáp ứng được nhu cầu của người dân tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, nhu cầu sử dụng điện ít. Tuy nhiên, cần thúc đẩy xã hội hóa nguồn lực để huy động vốn đầu tư cho phát triển các giải pháp năng lượng tái tạo không nối lưới. Ngoài ra, cần tăng cường chuyển giao công nghệ, thành lập và đào tạo các đội thợ địa phương để lắp đặt và vận hành, bảo dưỡng hệ thống cấp điện này,...

    • TP.HCM: Khuyến khích người dân sử dụng năng lượng sạch

      Trung bình hàng năm TP.HCM tiêu thụ khoảng 22 tỷ kWh điện năng, chiếm khoảng 15% so với cả nước. Trong bối cảnh thực hiện định hướng phát triển thành phố thông minh cần phải bao gồm khả năng giải quyết các thách thức về môi trường, trong đó giải pháp đầu tư phát triển năng lượng tái tạo đóng vai trò quan trọng.

      Đánh giá của Sở Tài nguyên và Môi trường TP.HCM cho thấy, tổng công suất năng lượng tái tạo trên địa bàn tính đến thời điểm hiện nay là 35,4 MW, so với nhu cầu phụ tải lớn nhất toàn thành phố là 3.575 MW. Ngoài ra, Thành phố không có nhiều diện tích đất cũng như địa hình phù hợp để phát triển các công trình sản xuất điện quy mô lớn như thủy điện hay nhiệt điện, điện hạt nhân. Mô hình điện gió cũng không thích hợp với TP.HCM do cần nhiều diện tích và lắp đặt phức tạp. Vì thế phát triển năng lượng mặt trời và tiết kiệm năng lượng là hướng đi TP.HCM nên lựa chọn.

      Theo thống kê của Sở Công Thương TP.HCM, giai đoạn 2011 - 2017, Thành phố đã tiết kiệm được 3.100 triệu kWh điện, góp phần giảm trên 2.039 triệu tấn CO2. Tuy nhiên, đối với lĩnh vực năng lượng tái tạo thì Thành phố phát triển còn chậm, chủ yếu là máy nước nóng năng lượng mặt trời. Nguồn phát điện từ năng lượng mặt trời còn chưa đáng kể, do giá thành đầu tư cao, trong khi giá bán điện chưa được nhà nước hỗ trợ.

      Hiện trên địa bàn Thành phố có khoảng 17.340 bình nước nóng sử dụng năng lượng mặt trời, góp phần cắt giảm được công suất hệ thống lưới điện khoảng 31 MW. Đối với điện mặt trời, hiện công suất lắp đặt pin mặt trời trên địa bàn thành phố ước đạt 2 MWp (có 1.838,2 kWp đã nối lưới); trong đó phân bố ở các tòa nhà cơ quan và DN 1.607,2 kWp (chiểm 87,5%), hộ gia đình 231 kWp (12,5%).

      Từ tháng 4/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam. Quyết định này cũng đã thúc đẩy mạnh mẽ sự đầu tư vể các dự án điện mặt trời và đặc biệt là dự án điện mặt trời trên mái nhà. Sau khi Quyết định được ban hành, Sở Công Thương TP.HCM đã làm việc với Tổng công ty Điện lực TP.HCM nhằm hỗ trợ người dân, DN trong việc ký hợp đồng mua điện, điểm đầu nối, cấp đồng hồ đo đếm 2 chiều... Đến nay, trên địa bàn đã có 274 khách hàng lắp đặt điện mặt trời nối lưới với tổng công suất là 3,6 MWp,  trong đó 245/274 khách hàng đăng ký bán lại phần điện dư cho ngành Điện đã được kiểm tra thử nghiệm các yêu cầu kỹ thuật nối lưới và gắn điện kế 2 chiều.

      Nghiên cứu của của cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) cho thấy, năng lượng tái tạo đang chiếm 2/3 các nguồn năng lượng mới. Trong đó năng lượng mặt trời dẫn đầu với khoảng 50% trong tổng số năng lượng tái tạo. Dự báo trong 5 năm tới, nguồn năng này có thể rẻ hơn năng lượng hóa thạch. Theo các chuyên gia, những sự tiến bộ của công nghệ cũng như những chính sách mới đang mở ra cơ hội thuận lợi cho phát triển điện mặt trời, cả ở quy mô hộ gia đình.